Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Nhà Thơ, Nhà văn, Nhà Viết Kịch LANGSTON HUGHES

26/08/202200:00:00(Xem: 514)

Nguyễn Thị Khánh Minh
giới thiệu
Langston Hughes và Maya Angelou là hai tên tuổi lớn của nền thi ca da đen. Trang thơ xin bắt đầu với Langston Hughes. Ông sinh ở Joplin, Missouri, là một nhà thơ, nhà văn, nhà viết kịch. Thơ của ông kết hợp nhiều thể loại, mang đậm nét những bài hát dân gian da đen. Ông tôn vinh nền văn hóa người Mỹ gốc Phi châu trong thời kỳ được gọi là Thời kỳ Phục Hưng Harlem.
 
Langston Hughes là tác giả của 16 tập thơ, nhiều tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch và truyện viết cho thiếu nhi. Tập thơ đầu tiên của ông là Weary Blues, in năm 1926.

Trong một bài viết, tác giả Sao Khuê đã gọi thơ văn Huges là Tiếng Hát Của Dòng Sông:
 
Đã từ lâu, tôi yêu thi ca của những người da đen cũng như yêu điệu blues trên những kè đá và vỉa hè New Orleans, trong khu French Quarter. Với Langston Hughes (1902- 1967), tôi cũng đặc biệt yêu mến khi nghe ông nói về những dòng sông xưa như những mạch máu trong cơ thể người, những điệu blues và những chuyến xe lửa xuôi về miền Nam.  Gần đây, lang thang trên các trang mạng, tôi tìm thấy thêm những trang viết về âm hưởng jazz trong thơ Langston Hughes và những bài dịch từ thơ của tác giả này. Sau đây xin chuyển tới bạn đọc bản dịch của Thanh Tâm Tuyền, Vũ Hoàng Linh, Pháp Hoan và Nguyễn Đăng Thường. (Trích, Langston Hughes: Tiếng Hát Của Dòng Sông, Sao Khuê, báo Trẻ Online).
 
Langston_Hughes
LANGSTON HUGHES sinh ngày 1 tháng 2 năm 1902. Cha mẹ anh là hai chủng tộc, cả hai đều là con của chủ nô lệ và người Mỹ gốc Phi. Gia phả của ông bao gồm nhiều di sản, bao gồm người Mỹ bản địa, Do Thái, Pháp và Anh. Tuy nhiên, Ông chủ yếu tự nhận mình là người Mỹ gốc Phi, và xa cách với cha mình, người có quan điểm tiêu cực kỳ lạ về văn hóa da đen ở Hoa Kỳ.
  
ĐIỆU BLUES HOÀI HƯƠNG
 
Cầu xe lửa là
Điệu hát buồn trên không
Cầu xe lửa là
Điệu hát buồn trên không
Mỗi lần chuyến tàu qua
Tôi thèm rời chỗ khác
 
Tôi đi xuống phía ga
Trái tim ngậm trong miệng
Tôi đi xuống phía ga
Trái tim ngậm trong miệng
Tìm xe còn đỗ bến
Đưa tôi về miền Nam
 
Điệu blues buồn não nuột
Thượng đế ơi, khủng khiếp
Điệu blues buồn não nuột
Thượng đế ơi, khủng khiếp
Để ngăn mình khỏi khóc
Con há miệng cười
 
THANH TÂM TUYỀN dịch
 
*
 
BÌNH MINH Ở ALABAMA
 
Khi tôi trở thành nhà soạn nhạc
Tôi sẽ viết cho mình một ca khúc
Về bình minh trên đất Alabama.
 
Tôi sẽ đặt vào đấy những bài hát trong lành
Những bài hát xuất hiện trên mặt đất như thể mây mù
Rơi xuống từ bầu trời như những hạt sương
Tôi sẽ đặt những cây cao trong đấy.
Và hương thơm của lá thông
Và mùi đất sét đỏ sau cơn mưa
Và những chiếc cổ dài đỏ ửng
Và những khuôn mặt có màu hoa anh túc
Và những cánh tay to khỏe màu nâu
Và những đôi mắt của cúc dại trên đồng
Của người da đen và trắng đen trắng đen
Tôi sẽ đặt vào đó những đôi tay trắng
Những đôi tay đen, nâu cũng như vàng.
Những đôi tay vùi sâu trong đất đỏ
Chạm vào nhau bằng những ngón thiện lành
Chạm vào nhau tự nhiên như những hạt sương
 
Trong ban mai của âm nhạc
Khi tôi trở thành nhà soạn nhạc
Và viết về bình minh ở Alabama.
 
VŨ HOÀNG LINH dịch
 
*
 
GIẤC MƠ
 
Giữ lấy giấc mơ bên cạnh
Bởi nếu giấc mơ đi rồi
Đời là con chim gãy cánh
Không thể tung bay lên trời
 
Giữ lấy giấc mơ bên cạnh
Bởi nếu giấc mơ đi rồi
Đời là đồng hoang hiu quạnh
Chìm trong tuyết trắng mà thôi.
 
*
 
HARLEM
 
Điều gì sẽ xảy ra
khi giấc mơ bị trì hoãn?
 
Nó sẽ héo mòn theo năm tháng
như trái nho phơi dưới nắng mặt trời?
Hay nó sẽ rỉ chảy khắp nơi –
như vết thương lâu ngày mưng mủ?
Nó sẽ bốc mùi thối rữa
như miếng thịt bị bỏ lại trên bàn?
Hay nó sẽ đóng vảy hoàn toàn –
phủ một lớp đường và sẽ như bánh kẹo?
 
Có lẽ như gánh hàng nặng trĩu
nó sẽ chỉ uốn cong.
Hay nó sẽ như bom phát nổ?
 
*
 
NGƯỜI DA ĐEN NÓI VỀ NHỮNG DÒNG SÔNG
 
Tôi đã biết những dòng sông:
Tôi đã biết những dòng sông cổ như trái đất và cũ hơn dòng máu trong huyết quản loài người.
Linh hồn tôi lớn lên sâu thẳm như những dòng sông đó.
Tôi đã tắm trong lòng Euphrates những bình minh ấu thơ.
Tôi đã xây căn nhà nhỏ gần phía Congo và nó ru tôi ngủ.
Tôi đã nhìn mặt sông Nile và những kim thự tháp nhô lên trên nó.
Tôi đã nghe những lời ca của Mississippi khi Abe Lincoln xuống miền New Orleans, và tôi đã thấy những khúc quanh lòng bùn của nó vàng lên trong hoàng hôn.
 
Tôi đã biết những dòng sông:
Những dòng sông cũ kỹ, tối tăm.
Linh hồn tôi lớn lên sâu thẳm như những giòng sông đó.
 
PHÁP HOAN dịch
 
*
 
NHỮNG VÌ SAO
 
Ô, vệt sao sáng kia trên đường phố Harlem,
Ô, hơi gió thoảng lãng quên là đêm tối đó.
       Cả thành phố vươn cao
       Theo tiếng hát người mẹ.
       Cả thành phố mơ màng
       Theo điệu hát ru con.
 
Hãy đưa tay, hỡi em bé da đen, hái lấy một vì sao.
Từ tận cùng hơi gió thoảng lãng quên
       Là đêm tối đó.
       Chỉ hái lấy
       Một vì sao thôi.
Thập giá
Cha già của tôi là một ông cụ da trắng
Và mẹ già của tôi là một bà da đen.
Nếu như tôi đã nguyền rủa người cha già da trắng,
Tôi xin rút lại những lời chửi đó.
Nếu như tôi đã nguyền rủa người mẹ già da đen
Và mong cho bà sa địa ngục,
Tối hối tiếc lời chúc hung dữ đó
Và bây giờ tôi muốn bà được yên thân.
 
Cha già của tôi qua đời trong ngôi nhà to và đẹp.
Mẹ tôi đã chết trong một túp lều.
Tôi tự hỏi mình sẽ chết ở nơi nào,
Bởi tôi không đen không trắng?
Những kẻ lang thang
Chúng tôi là những kẻ tuyệt vọng,
Những kẻ không bận tâm,
Những kẻ đói khát,
Không có lấy một chỗ
Để ăn,
Không một nơi nào để ngủ,
Những kẻ không nước mắt
Không biết
Khóc.
                                       

NGUYỄN ĐĂNG THƯỜNG dịch

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Khi toàn quốc chiến đấu, người phụ nữ cũng xuất hiện trên các chặng đường của đất nước. Chúng ta đã nhìn thấy hình ảnh người phụ nữ trong cuộc chiến ở Ukraine trên truyền hình, trên YouTube. Họ là các y tá, những chị bếp, hay người nữ chiến binh… nghĩa là tất cả những phương tiện phục vụ cho chiến trường chống lại quân Nga. Nơi đó, giữa những tiếng súng chúng ta nghe được từ màn hình TV, giữa những lời kêu gọi tác chiến, vẫn có những lời thơ đầy nữ tính từ đất nước đau khổ Ukraine. Nhà nghiên cứu Julia Friedrich của Viện Nghiên Cứu Chính Sách Công Toàn Cầu (Global Public Policy Institute - GPPi) tại Berlin trong bài nghiên cứu về hình ảnh phụ nữ tại Ukraine, nhan đề “Feminist Activism in Ukraine Usually Means Demanding More Weapons” (Hoạt động nữ tính tại Ukraine thường có nghĩa là xin thêm vũ khí) đăng trên tạp chí Tagesspiegel Online bằng tiếng Đức ngày 6/8/2022 cho thấy ngoài làn sóng di tản ra hải ngoại, còn rất nhiều phụ nữ ở lại Ukraine để trở thành trụ cột cho một giềng mối mới
Bà nổi tiếng với bộ tự truyện 6 cuốn. Quyển thứ nhất nổi tiếng nhất trên thế giới viết về 17 năm đầu đời của bà, I Know Why The Caged Bird Sings (1969), bà nói: “Đầu tiên người đời phải học cách chăm sóc chính mình để rồi có thể chăm sóc người khác. Đó là lý do làm cho “chim trong lồng hót”. Với tự truyện này bà được xem là một trong những phụ nữ Mỹ gốc Phi đầu tiên dám công khai bạch hóa đời riêng của mình. Maya Angelou được chọn làm “Người Phụ Nữ của Năm 76” (Woman of the Year) về Truyền Thông của tạp chí Ladies’ Home Journal. Giải Thưởng Matrix của Hội Women in Communications, Inc. vào năm 1983, Giải Thưởng Văn Chương North Carolina vào năm 1987, Giải Thưởng Candace 1990 của Cơ Quan Liên Minh Quốc Gia Phụ Nữ Da Đen (The National Coalition of Black Women).
Là một nhà thơ, một nhà văn, và là một nhà báo. Hẳn là quá nhiều cho một đời người. Và rồi trở thành chiến binh, sau khi quân Nga tiến vào chiếm bán đảo Crimea và tấn công miền Đông Ukraine năm 2014: nhà thơ Borys Humenyuk đã tình nguyện ra trận chống quân Nga. Một số bài thơ của ông được dịch sang tiếng Anh trong tuyển tập Poems From The War, do hai dịch giả Oksana Maksymchuk và Max Rosochinsky thực hiện. Borys Humenyuk ra đời năm 1965 tại ngôi làng Ostriv, thị trấn Ternopil, miền tây Ukraine. Ông là một nhà thơ, nhà văn và nhà báo. Humenyuk đã tham gia tích cực vào những cuộc biểu tình cuối năm 2013 để dẫn tới Cách mạng Nhân phẩm (Revolution of Dignity) của Ukraine trong tháng 2/2014. Những câu chuyện về chiến tranh được kể trong thơ Borys Humenyuk là có thật, không hư cấu.
Chúng ta đều biết rằng Belarus là một nhà nước toàn trị, tuy mức độ cai trị không khắc nghiệt như ở Nga nhưng vẫn là độc tài hơn hầu hết các nước ở Châu Âu. Tuy nhiên văn học Belarus lại là một lĩnh vực không liên hệ bao nhiêu tới những cam kết chính trị của nhà nước Belarus trong nỗ lực hỗ trợ cuộc chiến của Putin tại Ukraine. Những bài thơ được dịch từ tiếng Belarus sang tiếng Anh đang phổ biến trên nhiều mạng trong học giới Hoa Kỳ cho thấy một khuôn mặt văn học Belarus rất mực thơ mộng của một dân tộc đang tìm tới chân, thiện, mỹ. Belarus có khoảng 9 triệu dân, thủ đô là Minsk, từng là một phần của Liên Xô cho tới năm 1991 tới tách ra, được cai trị bởi Tổng Thống Alexander Lukashenko từ năm 1994 (quá lâu, tới 28 năm nắm quyền tối cao). Biên giới Belarus vây quanh bởi Nga, Ukraine, Ba Lan, Lithuania và Latvia. Hơn 40% trong 207,600 cây số vuông (80,200 dặm vuông) là rừng. Belarus bị Thế Chiến 2 tàn phá, mất 1/3 dân số và hơn ½ tài nguyên kinh tế.
Di sản nghệ thuật của nhạc sĩ Cung Tiến không nằm ở số lượng, mà đầy ở phẩm chất. Ngoài những ca khúc, tấu khúc thuần tuý giá trị về âm nhạc, ông còn để lại những bài viết, tiểu luận dưới nhiều đề tài văn học, kinh tế, và truyện dịch. Chúng ta đã đọc, đã nghe khá nhiều về tài hoa và khả năng sáng tác của Cung Tiến từ tuổi 15 cho đến những năm tháng sau cùng. Trong những quà tặng ông để lại tôi đặc biệt yêu thích nghệ thuật phổ thơ thành nhạc của ông, chẳng những cho chúng ta thưởng thức giai điệu bán cổ điển tây phương, ngủ âm đông phương, mà còn mang thơ Thanh Tâm Tuyền, một trong vài thi sĩ hàng đầu trong thời đại của ông đến giới thưởng ngoạn nhạc nghệ thuật và lưu trữ vào kho tàng âm nhạc Việt. Thơ Thanh Tâm Tuyền không dễ phổ thành nhạc.
Như những tiếng cầu xin cứu vớt linh hồn chúng tôi / ngoài khơi bí mật đến tự một con tàu biển; / qua những mảnh danh từ dệt nên hồn mầu nhiệm / em vẫn chỉ là tóc mây cổ nõn và môi./ Sau áo len danh từ là thế giới xa vời, / là đêm không trăng sao là trùng dương thăm thẳm; / qua những chuỗi ngọc cười, em vui nước mất đẫm / vai anh, em buồn. Đêm hồn anh dài không nguôi.
Một cõi mênh mông các cảnh giới. Cũng là một chiếc kén bé nhỏ gói bí ẩn về giấc mơ một ngày kia sẽ tung ra muôn trùng tơ quấn quít hiện thực. Một khung cửa khép với chờ đợi, với cô lẻ số phận. Một bầu trời cao rộng với những đường bay mạnh mẽ hoan lạc của cánh chim tự do. Một mặt biển bị xao động bởi những con sóng ngầm làm ngạc nhiên thinh lặng của vực sâu. Là cánh cửa được mở tung bởi ngôn ngữ như những tiếng gõ dồn dập. Là bức tường bức phá bởi sức mạnh của ý tưởng. Là con đường hiểm hóc hay mượt cỏ, những bước chân vẫn đi tới đi tới. Ở đó bạn nghe được khát vọng tìm hạnh phúc chân thực như trở về cội nguồn tâm sâu thẳm. Ở đó bạn sẽ thấy cảm xúc mình bung ra như sắc mầu của chiếc kính vạn hoa. Ở đó, những con chữ như nam châm hút cảm xúc người đọc. Ở đó, từ trường say đắm thơ mộng của Đinh Thị Như Thúy, Phạm Thị Ngọc Liên, Nguyễn Thùy Song Thanh, Vũ Quỳnh Hương.
Gerald McCarthy vào Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ năm 17 tuổi, phục vụ tại Việt Nam trong hai năm 1966-1967, trong Tiểu Đoàn 1 Công Binh Chiến Đấu Hoa Kỳ (1st Combat Engineer Battalion) tại Chu Lai và rồi tại Đà Nẵng. Sau một nhiệm kỳ trong quân ngũ, McCarthy đào ngũ, bị bắt vào một nhà tù dân sự rồi chuyển vào quân lao. Những bài thơ đầu tiên của ông gom lại ấn hành trong thi tập War Story, ghi lại các suy nghĩ với kinh nghiệm tại Việt Nam. Sau đó, ông tham gia các hoạt động phản chiến và in nhiều thi tập khác. Nhà thơ D.F. Brown sinh năm 1948 tại Springfield, Missouri. Ông phục vụ trong Lục quân Hoa Kỳ từ 1968 tới 1977, trong đó từng giữ nhiệm vụ lính cứu thương trong tiểu đoàn Bravo, 1/14th Infantry tại chiến trường Việt Nam các năm 1969–70. Năm 1984, Brown in tập thơ đầu tay, nhan đề Returning Fire, trong đó, bài thơ ngắn nhất có nhan đề ghi bằng tiếng Pháp “L’Eclatante Victoire de Khe Sanh” (Chiến Thắng Huy Hoàng tại Khe Sanh).
Nhã Ca với tập thơ đầu tay Nhã Ca Mới, đoạt giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc về thơ năm 1965. Giải Khăn Sô Cho Huế (1969) đoạt Giải Văn Chương Toàn Quốc về văn năm 1970, và Tuệ Mai đã đoạt giải Văn Chương Toàn Quốc về thơ năm 1966 với thi phẩm Không Bờ Bến. Thơ. Họ là cột mốc đánh dấu cho sự chuyển mình khai phá bứt ra khỏi phong cách thi ca tiền chiến. Thi ngữ, thi ảnh nơi họ khơi gợi ở người đọc cảm xúc mới mẻ, thi pháp tuy còn giữ nhiều về thể luật của các loại thơ vần điệu, nhưng được chở dưới nhạc điệu cấu tứ mới – kể cả lục bát – nên cũng có thể nói họ đã cách tân những thể loại thơ này vào thời đó, đặc biệt, ở thể loại tự do, với Nhã Ca, một luồng gió mạnh thổi bật gốc rễ của trói buộc ngôn từ, định kiến.
Tôi đã đọc thơ Nguyễn Quốc Thái từ hơn một thập niên. Và nhiều người đã đọc thơ anh hơn một nửa thế kỷ. Hình như, tôi chưa thấy dòng thơ nào vui của anh. Và ngay cả những dòng thơ có thể được suy đoán là vui, cũng vẫn có một nỗi buồn thần bí trong đó – nơi đây, đành nói là thần bí, vì không giải thích minh bạch được. Cũng có thể vì tôi thấy nét mặt anh lúc nào cũng buồn. Đó là những lần tôi được gặp anh, khi anh có dịp thăm Quận Cam. Cũng có thể vì Nguyễn Quốc Thái là một nhà thơ ra đời trước tôi khoảng một thập niên, thuộc một thế hệ có nhiều chia ly hơn là gặp gỡ, nhiều tan vỡ hơn là hàn gắn. Cũng có thể vì một vài câu thơ của Nguyễn Quốc Thái, tôi đã đọc qua, và chợt nhớ một vài ý trong đó. Như bài thơ có nhan đề Todo Passa. Anh làm bài thơ này từ Sài Gòn, vào tháng 12 năm 2017. Trích năm dòng đầu như sau. / Một mình tôi với những câu thơ đau đớn mới/ Lời vỗ về an ủi như tiếng gió lùa qua bến bờ lau sậy / Tôi ngã xuống như một hẹn ước dở dang ...
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.