Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Tìm hiểu văn học Belarus: bốn nhà thơ

17/06/202200:00:00(Xem: 961)
 
Chúng ta đều biết rằng Belarus là một nhà nước toàn trị, tuy mức độ cai trị không khắc nghiệt như ở Nga nhưng vẫn là độc tài hơn hầu hết các nước ở Châu Âu. Tuy nhiên văn học Belarus lại là một lĩnh vực không liên hệ bao nhiêu tới những cam kết chính trị của nhà nước Belarus trong nỗ lực hỗ trợ cuộc chiến của Putin tại Ukraine. Những bài thơ được dịch từ tiếng Belarus sang tiếng Anh đang phổ biến trên nhiều mạng trong học giới Hoa Kỳ cho thấy một khuôn mặt văn học Belarus rất mực thơ mộng của một dân tộc đang tìm tới chân, thiện, mỹ.

Belarus có khoảng 9 triệu dân, thủ đô là Minsk, từng là một phần của Liên Xô cho tới năm 1991 thì tách ra, được cai trị bởi Tổng Thống Alexander Lukashenko từ năm 1994 (quá lâu, tới 28 năm nắm quyền tối cao). Biên giới Belarus vây quanh bởi Nga, Ukraine, Ba Lan, Lithuania và Latvia. Hơn 40% trong 207,600 cây số vuông (80,200 dặm vuông) là rừng. Belarus bị Thế Chiến 2 tàn phá, mất 1/3 dân số và hơn ½ tài nguyên kinh tế.

Hơn 70% trong dân số 9.49 triệu dân sống ở thành thị. Hơn 85% dân số là sắc tộc Belarusian, hầu hết còn lại là sắc tộc Nga, Ba Lan và Ukraine. Belarus có 2 ngôn ngữ chính thức: tiếng Belarus và tiếng Nga. Tôn giáo lớn nhất là Chính Thống Giáo Nga.

Văn học Belarus khởi sự nhờ kinh điển Thiên chúa giáo bằng văn tự Cyrillic vào Belarus từ thế kỷ 11 tới thế kỷ 13, được dịch ra tiếng Belarus từ thế kỷ 16. Trong thời kỳ bị Đức phát xít chiếm đóng, nhiều nhà văn, nhà thơ Belarus phải lưu vong; nhiều người trở về trong thập niên 1960s. Sau đây, chúng ta sẽ đọc thơ của bốn thi sĩ Belarus để nhìn thấy những góc trời độc đáo của từng người.
 
VOLHA HAPEYEVA

BELARUS_1_Volha Hapeyeva
Volha Hapeyeva (sinh năm 1982 tại Minsk) là một nhà thơ, nhà văn, dịch giả, và nhà ngữ học. Bà có văn bằng Tiến sĩ về ngôn ngữ đối chiếu, đang dạy tại hai đại học ở Minsk và Vilnius (thủ đô của Lithuania). Bà đã xuất bàn nhiều tập thơ, tập truyện, và kịch kể từ 1999. Bà cũng dịch thơ và tiểu thuyết từ tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Trung Quốc và tiếng Nhật.  Sáng tác của bà được dịch sang hơn một chục ngôn ngữ, trong đó có tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Đức. Bà được nhiều giải thưởng văn học. Sau đây là hai bài thơ, dịch từ một chuỗi bài không nhan đề của Volha Hapeyeva (tạm đặt tên theo số để không lẫn vào nhau). Cả hai bài thơ đều liên hệ tới “chữ” (word) – một ảnh hưởng từ Kinh thánh Thiên chúa giáo: Khởi thủy là Ngôi Lời, và Lời ở cùng Thượng Đế (John 1:1 viết: In the beginning was the Word, and the Word was with God…). Thơ của bà viết rất đơn giản, như mang hơi thở đạo vào đời.
 
BÀI I

và nàng đã mơ thấy chữ
và nàng đã tỉnh thức
và nàng không thể nhớ được
và chữ đó đơn giản và tự đủ nghĩa
làm cho thế giới này bật sáng và tịch lặng
như dường nếu bây giờ mọi thứ được biết
và mọi thứ đã trở thành rõ nghĩa
được giải thích và là chứng cớ
và nàng muốn nhớ chữ đó
và trong khi tìm kiếm, nàng đã học ngôn ngữ
lưỡi nàng chạm vào nướu
-- của chính nàng và của những người khác --
nàng lắng nghe chim và nghe tiếng cây
nàng lắng nghe tiếng thầm thì và nghe những con ong
nàng lắng nghe sự im vắng và nghe không một chữ
và nàng trở về các thành phố
và ngồi đó trong im lặng
như để không làm hoảng sợ chữ e lệ của nàng
và giữa đám đông nàng đã thấy những người khác
và đã gọi họ --- chữ, có phải người đó chăng?
và nhiều người trong đó đã trả lời nàng
và nàng tin nhiều người trong đó
bời vì nàng muốn tin, bởi vì nàng đã quá mệt mỏi
bởi vì nàng đã không ngủ quá lâu
và nàng bắt đầu ngờ vực có phải chữ của nàng đã từng hiện hữu
bất kể ai nàng đã hỏi, không ai từng nghe tới nó
chỉ một lần có ai đã nói
chữ này sẽ là chữ cuối cùng
và khi bạn nhớ nó, bạn sẽ quên tất cả các chữ khác
và sẽ tự thân bạn trở thành một chữ.
.

BÀI 2

có ai đang đốt những trang thơ
trong căn gác của vũ trụ
có lẽ như một dấu hiệu phản kháng
bởi vì những con chim cứ quên các dòng chữ trong những bài hát của chúng
bây giờ và rồi đưa vào [các ca khúc] tiếng run rẩy của các dây điện
hay bắt chước tiếng máy đều đặn của các toa xe lửa
hay có thể đây là cách nhanh nhất để im lặng tới được những người nghe
im lặng
trong đó ý nghĩa của tất cả các tự điển trên thế giới được giấu kín
và quá nhiều ý nghĩa khác
nhẹ nhàng như thế
ý nghĩa như thế
tuyết màu tro này
bên ngoài cửa sổ
chỉ cần chưa tới một phút
nhưng với tôi, nó sẽ là vô tận.
.
DMITRY STROTSEV

BELARUS_2Dmitri Strosev
 
Dmitry Strotsev (sinh năm 1963) là một nhà thơ được nhiều giải thưởng, và là một nhà xuất bản. Ông là tác giả 11 tập thơ, và là người giữ gìn “trường phái thơ Minsk” một phong cách kết hợp các nhà thơ sáng tác bằng tiếng Nga tại Belarus. Strotsev tốt nghiệp ngành kiến trúc, cư ngụ ở Minsk, cũng nổi tiếng trong các bài tiểu luận về văn hóa. Hồi tháng 10/2020, ông bị bắt cóc trên đường phố trong khi đang đi bộ về nhà và rồi bị tống giam 13 ngày vì tham dự các cuộc biểu tình phản đối Tổng Thống Lukashenko không chịu xuống chức bất kể thua phiếu bầu cử. Ông được tổ chức Vaclav Havel Library Foundation trao giải thưởng “2021 Disturbing the Peace Award to a Courageous Writer at Risk” (Giải thưởng quấy rối hòa bình 2021 cho một Nhà văn Can đảm). Ngày 10 tháng 3/2022, Strotsev đưa ra một tuyên ngôn phản đối Putin xâm lăng Ukraine. Dmitri Strotsev là tác giả 17 tập thơ. Bài thơ đầu tiên dưới đây nói về cái đói. Bài thơ thứ nhì dưới đây nói về những que diêm là ông làm khoảng một hay hai tuần sau khi được nhà nước Belarus thả ra khỏi tù.
 
TẶNG ALEXANDER SKIDAN

trong công viên mùa thu
những đôi mắt đói
thức ăn thừa
trên một tờ báo
giữa chúng ta
những con thú thở
gầm gừ trong một cái chuồng
tiếp tục lộ xương sườn
giống chó chăn cừu lang thang
giữa chúng ta
hãy nói lên, hãy nói lên
Tôi là
chung phận
với mi.
Ngày 14 tháng 9/2009.
.
NHỮNG QUE DIÊM

Bước ra ngoài
tìm những que diêm
.
rời nhà
vì bất kỳ nhu yếu phẩm nào
.
trang phục
cần trọng
.
gọn gàng như thể
bạn có thể biến mất trong mươi,
mười lăm ngày.
.
bạn không bao giờ biết
nơi đâu móng vuốt khủng bố
sẽ chụp lấy bạn.
.
cặp mắt dò xét liên tục
có thể thấy bạn
bất kỳ nơi đâu.
13.11.2020
.
HANNA KOMAR

BELARUS_3_Hanna Komar 
Hanna Komar sinh năm 1989, là một nhà thơ, dịch giả và nhà hoạt động, đã ấn hành ba tuyển tập thơ, trong đó có một tuyển tập song ngữ nhan đề “Recycled” và một tuyển tập thơ-tài-liệu (docu-poetry). Bà tham dự nhiều cuộc biểu tình vì dân chủ năm 2020. Phần lớn, bà làm thơ trong tiếng Belarus, rồi dịch sang tiếng Anh. Bà từng bị bắt hồi tháng 8/2020 khi toàn quốc biểu tình, nhưng không bị giam lâu. Bà là Tổng Thư Ký PEN Belarus (Văn Bút Belarus) và trong tình trạng được PEN America mô tả là thường trực cơ nguy bị bắt. Thơ của bà phần lớn nói lên kinh nghiệm khi là một thiếu nữ, rồi một phụ nữ, trưởng thành trong một đất nước tộc trưởng phụ hệ. Sau đây là hai bài thơ nói lên những cảm xúc đó.

SAU ĐÓ

chim bay ra
chim non
từ trong tổ nhìn theo:
chim vỗ hai cánh
đuôi chim xoay,
quạt không khí
chân trời nghiêng đi
thế giới chung quanh
chật lại trong một quả trứng.
nếu chim không quay lại
vỏ trứng sẽ là nhà.
.

BỊ BUỘC LẠI

Bị buộc lại bởi sữa mẹ đóng cục,
bên viền váy của mẹ
bên chiếc tách rạn nứt
dọc theo đóa hồng,
bên cánh hoa
trao cho mẹ không từ người chồng,
bị buộc lại bởi người chồng của mẹ
trong khi ông bị buộc lại bởi ký ức
về cái đầu gà mà thân phụ ông
chặt đứt trước mắt ông, làm sao
bạn không thể bị buộc lại sau đó, mà
đột nhiên đó là bạn
hay đó là đầu của bạn
bị buộc lại bởi một cái trứng
bởi hàng rào chuồng
bởi một hạt ngũ cốc, bởi đỉnh cao
bởi tên của người cha
bởi sữa đóng cục từ ngực mẹ
biên giới
của váy mẹ…
Bây giờ bạn biết rồi
tôi là thứ quái vật nào.
hãy cho tôi tự do
hay là chạy.
.
VALZHYNA MORT
 
BELARUS_4_Valzhyna Mort

Valzhyna Mort sinh năm 1981 tại Minsk, thủ đô Belarus, hiện đang sống tại Hoa Kỳ. Mort học Đại học Ngữ học (State University of Linguistics) tại Minsk. Tốt nghiệp Thạc sĩ Sáng tác Văn học tại đại học American University. Mort nổi tiếng khắp Châu Âu về các buổi đọc thơ trực tiếp trước công chúng. Mort được nhiều giải thưởng về thơ. Tập thơ đầu tiên của bà là “I'm as Thin as Your Eyelashes” (Em gầy như lông mi của anh), ấn hành tại Belarus năm 2005. Nhưng trước đó, vào năm 2004, bà được giải thưởng Crystal Vilencia Award vì trình diễn thơ xuất sắc ở Slovenia. Bà cũng được nhiều giải thưởng thơ khác. Thơ và các bài tiểu luận của bà thường xuyên đăng trên các báo, như The Best American Poetry, The New Yorker, The New York Times, The Financial Times, Poetry, Poetry Review, Granta, The White Review, The Baffler và nhiều nữa. Mort dạy ở đại học Cornell University và viết trong 2 ngôn ngữ: Anh văn và Belarus. Thơ của bà được dịch ra hàng chục ngôn ngữ. Bài thơ sau đây của bà mang dấu ấn chiến tranh đè nặng lên dân tộc Belarus.
.
BELARUSIAN I

ngay cà các bà mẹ của chúng tôi cũng không biết cách nào chúng tôi ra đời
cách nào chúng tôi đã chui ra giữa hai chân mẹ và bò vào thế giới này
cách mà bạn bò ra khỏi đống đổ nát sau một trận bom
chúng tôi không thể nói được trong chúng tôi đứa nào là gái hay trai
chúng tôi ăn đất mà cứ ngỡ đó là báng mì
và tương lai chúng tôi
một vận đông viên thể dục dụng cụ trên một dây chỉ mỏng của chân trời
đang trình diễn nơi đó
ở âm vang cao nhất
đứa con gái tội nghiệp
.
chúng tôi lớn lên trong một đất nước nơi
trước tiên, cánh cửa nhà bạn bị một dấu phấn ghi dấu
rồi đêm về, một cỗ xe chạy tới
và không ai còn thấy bạn nữa
nhưng ngồi trên những cỗ xe đó không phải
là những người đàn ông vũ trang cũng không
phải là một kẻ lang thang tay cầm lưỡi hái
đó là cách những thân quyến tới thăm chúng tôi
và lôi chúng tôi đi trong khi che mặt
.
hoàn toàn tự do chỉ có trong nhà vệ sinh công cộng
nơi chỉ tốn chút tiền và không ai bận tâm chúng tôi làm gì
chúng tôi chống lại nắng mùa hè, tuyết mùa đông
khi chúng tôi khám phá ra chúng tôi chính là ngôn ngữ
và lưỡi chúng tôi đã bị cắt đi, chúng tôi bắt đầu nói chuyện bằng mắt
khi đôi mắt chúng tôi bị chọc thủng, chúng tôi đã nói bằng hai bàn tay
khi tay chúng tôi bị chặt đứt, chúng tôi nói bằng các ngón chân
khi chúng tôi bị bắn vào chân, chúng tôi gật đầu để nói là vâng
và lắc đầu để nói là đừng, và khi họ ăn sống đầu chúng tôi
chúng tôi bò ngược trở lại bụng của các bà mẹ đang ngủ của chúng tôi
như dường chui vào hầm tránh bom
để được sinh ra lần nữa.
.
và nơi đó, trên chân trời, người vận động viên thể dục dụng cụ của tương lai chúng tôi
đang phóng xuyên qua cái vòng lửa cháy
của mặt trời. 
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Mùa thu dẫu vừa khảy đôi ba nhịp vàng trên tàn cây. Mùa thu dẫu đang đốt hết mình trên hàng cây maple đỏ lá suốt dặm dài. Và mùa thu cho dù cũng vừa khép cánh cửa để ra đi, khép rất nhẹ nhàng như sợ làm thức giấc ai đó đang say ngủ. Tất cả. Những bổng trầm của mùa thu đều rúng động mấy tầng cung bậc cảm xúc của ta. Phiến lá vàng óng kia ẩn mật điều gì. Dấu chân vàng ố chiếc lá cuối thu như thể là những dấu chân cuối cùng để – nhẹ hẫng về mai sau – Ngọn gió của mùa thu ly tan nào vẫn thảng thốt trong nỗi chờ đợi. Hạt mưa nào xám tro quán phố. Và người ngồi nghe gió mùa thu về như – tiếng thổn thức của thời gian. Bạn ơi, xin lắng lòng trong buổi đêm tịch mịch để nghe cảm xúc bạn hòa âm thế nào với âm vang thu, để biết tác động mãnh liệt của thu – phù vân thôi cũng nát đời như chơi…
Phần lớn các nhà thơ nữ sinh sau cột mốc đau thương 1975, đã dường như nhẹ nhàng hơn, những ám ảnh của chiến tranh, ít bị day dứt hơn vấn đề ý thức hệ. Họ ít nhiều đã hưởng được quả ngọt của nữ quyền, thoát ra khỏi khung cửa chật hẹp của định kiến, góp phần nở rộ một dòng thơ mạnh mẽ, tự tin, khao khát tự do, và bản lĩnh, nói rất thực nhân sinh quan của mình về những mối tương quan trong một thế giới vật chất như hiện nay. Họ cũng rất phóng khoáng thể hiện những cảm xúc đam mê dạt dào nữ tính. Mang những trạng thái có vẻ như đối nghịch nhau như thế khiến dòng thơ của lớp thơ nữ này tỏa sức quyến rũ lạ lẫm, tạo nên một lớp độc giả với cảm thụ thi ca mới mẻ.
Khi toàn quốc chiến đấu, người phụ nữ cũng xuất hiện trên các chặng đường của đất nước. Chúng ta đã nhìn thấy hình ảnh người phụ nữ trong cuộc chiến ở Ukraine trên truyền hình, trên YouTube. Họ là các y tá, những chị bếp, hay người nữ chiến binh… nghĩa là tất cả những phương tiện phục vụ cho chiến trường chống lại quân Nga. Nơi đó, giữa những tiếng súng chúng ta nghe được từ màn hình TV, giữa những lời kêu gọi tác chiến, vẫn có những lời thơ đầy nữ tính từ đất nước đau khổ Ukraine. Nhà nghiên cứu Julia Friedrich của Viện Nghiên Cứu Chính Sách Công Toàn Cầu (Global Public Policy Institute - GPPi) tại Berlin trong bài nghiên cứu về hình ảnh phụ nữ tại Ukraine, nhan đề “Feminist Activism in Ukraine Usually Means Demanding More Weapons” (Hoạt động nữ tính tại Ukraine thường có nghĩa là xin thêm vũ khí) đăng trên tạp chí Tagesspiegel Online bằng tiếng Đức ngày 6/8/2022 cho thấy ngoài làn sóng di tản ra hải ngoại, còn rất nhiều phụ nữ ở lại Ukraine để trở thành trụ cột cho một giềng mối mới
Bà nổi tiếng với bộ tự truyện 6 cuốn. Quyển thứ nhất nổi tiếng nhất trên thế giới viết về 17 năm đầu đời của bà, I Know Why The Caged Bird Sings (1969), bà nói: “Đầu tiên người đời phải học cách chăm sóc chính mình để rồi có thể chăm sóc người khác. Đó là lý do làm cho “chim trong lồng hót”. Với tự truyện này bà được xem là một trong những phụ nữ Mỹ gốc Phi đầu tiên dám công khai bạch hóa đời riêng của mình. Maya Angelou được chọn làm “Người Phụ Nữ của Năm 76” (Woman of the Year) về Truyền Thông của tạp chí Ladies’ Home Journal. Giải Thưởng Matrix của Hội Women in Communications, Inc. vào năm 1983, Giải Thưởng Văn Chương North Carolina vào năm 1987, Giải Thưởng Candace 1990 của Cơ Quan Liên Minh Quốc Gia Phụ Nữ Da Đen (The National Coalition of Black Women).
Langston Hughes và Maya Angelou là hai tên tuổi lớn của nền thi ca da đen. Trang thơ xin bắt đầu với Langston Hughes. Ông sinh ở Joplin, Missouri, là một nhà thơ, nhà văn, nhà viết kịch. Thơ của ông kết hợp nhiều thể loại, mang đậm nét những bài hát dân gian da đen. Ông tôn vinh nền văn hóa người Mỹ gốc Phi châu trong thời kỳ được gọi là Thời kỳ Phục Hưng Harlem.
Là một nhà thơ, một nhà văn, và là một nhà báo. Hẳn là quá nhiều cho một đời người. Và rồi trở thành chiến binh, sau khi quân Nga tiến vào chiếm bán đảo Crimea và tấn công miền Đông Ukraine năm 2014: nhà thơ Borys Humenyuk đã tình nguyện ra trận chống quân Nga. Một số bài thơ của ông được dịch sang tiếng Anh trong tuyển tập Poems From The War, do hai dịch giả Oksana Maksymchuk và Max Rosochinsky thực hiện. Borys Humenyuk ra đời năm 1965 tại ngôi làng Ostriv, thị trấn Ternopil, miền tây Ukraine. Ông là một nhà thơ, nhà văn và nhà báo. Humenyuk đã tham gia tích cực vào những cuộc biểu tình cuối năm 2013 để dẫn tới Cách mạng Nhân phẩm (Revolution of Dignity) của Ukraine trong tháng 2/2014. Những câu chuyện về chiến tranh được kể trong thơ Borys Humenyuk là có thật, không hư cấu.
Di sản nghệ thuật của nhạc sĩ Cung Tiến không nằm ở số lượng, mà đầy ở phẩm chất. Ngoài những ca khúc, tấu khúc thuần tuý giá trị về âm nhạc, ông còn để lại những bài viết, tiểu luận dưới nhiều đề tài văn học, kinh tế, và truyện dịch. Chúng ta đã đọc, đã nghe khá nhiều về tài hoa và khả năng sáng tác của Cung Tiến từ tuổi 15 cho đến những năm tháng sau cùng. Trong những quà tặng ông để lại tôi đặc biệt yêu thích nghệ thuật phổ thơ thành nhạc của ông, chẳng những cho chúng ta thưởng thức giai điệu bán cổ điển tây phương, ngủ âm đông phương, mà còn mang thơ Thanh Tâm Tuyền, một trong vài thi sĩ hàng đầu trong thời đại của ông đến giới thưởng ngoạn nhạc nghệ thuật và lưu trữ vào kho tàng âm nhạc Việt. Thơ Thanh Tâm Tuyền không dễ phổ thành nhạc.
Như những tiếng cầu xin cứu vớt linh hồn chúng tôi / ngoài khơi bí mật đến tự một con tàu biển; / qua những mảnh danh từ dệt nên hồn mầu nhiệm / em vẫn chỉ là tóc mây cổ nõn và môi./ Sau áo len danh từ là thế giới xa vời, / là đêm không trăng sao là trùng dương thăm thẳm; / qua những chuỗi ngọc cười, em vui nước mất đẫm / vai anh, em buồn. Đêm hồn anh dài không nguôi.
Một cõi mênh mông các cảnh giới. Cũng là một chiếc kén bé nhỏ gói bí ẩn về giấc mơ một ngày kia sẽ tung ra muôn trùng tơ quấn quít hiện thực. Một khung cửa khép với chờ đợi, với cô lẻ số phận. Một bầu trời cao rộng với những đường bay mạnh mẽ hoan lạc của cánh chim tự do. Một mặt biển bị xao động bởi những con sóng ngầm làm ngạc nhiên thinh lặng của vực sâu. Là cánh cửa được mở tung bởi ngôn ngữ như những tiếng gõ dồn dập. Là bức tường bức phá bởi sức mạnh của ý tưởng. Là con đường hiểm hóc hay mượt cỏ, những bước chân vẫn đi tới đi tới. Ở đó bạn nghe được khát vọng tìm hạnh phúc chân thực như trở về cội nguồn tâm sâu thẳm. Ở đó bạn sẽ thấy cảm xúc mình bung ra như sắc mầu của chiếc kính vạn hoa. Ở đó, những con chữ như nam châm hút cảm xúc người đọc. Ở đó, từ trường say đắm thơ mộng của Đinh Thị Như Thúy, Phạm Thị Ngọc Liên, Nguyễn Thùy Song Thanh, Vũ Quỳnh Hương.
Gerald McCarthy vào Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ năm 17 tuổi, phục vụ tại Việt Nam trong hai năm 1966-1967, trong Tiểu Đoàn 1 Công Binh Chiến Đấu Hoa Kỳ (1st Combat Engineer Battalion) tại Chu Lai và rồi tại Đà Nẵng. Sau một nhiệm kỳ trong quân ngũ, McCarthy đào ngũ, bị bắt vào một nhà tù dân sự rồi chuyển vào quân lao. Những bài thơ đầu tiên của ông gom lại ấn hành trong thi tập War Story, ghi lại các suy nghĩ với kinh nghiệm tại Việt Nam. Sau đó, ông tham gia các hoạt động phản chiến và in nhiều thi tập khác. Nhà thơ D.F. Brown sinh năm 1948 tại Springfield, Missouri. Ông phục vụ trong Lục quân Hoa Kỳ từ 1968 tới 1977, trong đó từng giữ nhiệm vụ lính cứu thương trong tiểu đoàn Bravo, 1/14th Infantry tại chiến trường Việt Nam các năm 1969–70. Năm 1984, Brown in tập thơ đầu tay, nhan đề Returning Fire, trong đó, bài thơ ngắn nhất có nhan đề ghi bằng tiếng Pháp “L’Eclatante Victoire de Khe Sanh” (Chiến Thắng Huy Hoàng tại Khe Sanh).
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.