Hôm nay,  

Vài chuyện về Cung Tiến

10/06/202200:00:00(Xem: 1292)
Tdinh__DSC2606
Từ trái: Nữ tài tử Kiều Chinh, Nhạc sĩ Cung Tiến, Nhạc trưởng Nguyễn Khánh Hồng, và MC Lê Đình Y-Sa tại đêm nhạc Cung Tiến "Vết Chim Bay" do Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Mỹ (VAALA) tổ chức vào tháng Bảy năm 2010 tại La Mirada Theater, Nam California
 
Đầu thập niên 1990, tôi có diễm phúc được làm việc với nhạc sĩ Cung Tiến và từ đó dần trở nên một người bạn thân với gia đình ông. Trước đó, tôi nghe người ta đồn là nhạc sĩ Cung Tiến ‘khó tính” lắm! Nhưng qua những lần làm việc với ông, tôi thấy ông bị oan. Ông không khó tính vì xấu tính.  Ông thực ra là một người rất nhỏ nhẹ, trí thức và uyên bác mà khiêm tốn. Ông chỉ có tiêu chuẩn cao cho nhạc của ông và ông mong muốn nhạc của ông được trình bày với những tiêu chuẩn đó.  Tôi đã có cơ hội học hỏi thêm về những tiêu chuẩn này của ông.  

Lúc ấy nhân duyên đưa đẩy, tôi được biết đến bài Vết Chim Bay của ông và xin phép ông cho tôi thu âm bài đó vào CD. Ông chắc cũng chưa nghe tôi hát bao giờ, nhưng cũng cho phép, mà cũng không nhận tiền bản quyền, lại còn cho tôi cả bản hòa âm phối khí dàn nhạc của ông cho tôi sử dụng nữa!  Khi tôi đưa bài cho Duy Cường làm theo hòa âm phối khí của Cung Tiến thì Cường  “kêu” là mất công lắm.  Thường thì các nhạc sĩ Việt Nam viết ca khúc chỉ viết giai điệu thôi, có thể viết thêm những hợp âm cho bài hát, nhưng rất ít người viết soạn hòa âm hay phối khí cụ cho bài hát của mình.  Do đó, các nhạc sĩ hòa âm tha hồ muốn hòa âm phối khí sao cũng xong và có thể làm rất nhanh.  May thì hay, nhưng nhiều khi nghe không có gì đặc biệt cả và có khi còn chói tai nữa.  Duy Cường là một người hòa âm hay, nhưng theo tôi, bài Vết Chim Bay phải dùng hòa âm của Cung Tiến mới đạt! Duy Cường phải đánh vào máy từng phần của các nhạc khí từ tổng phổ ông Cung Tiến cho, để cho vào “synthesizer” và đưa cho các nhạc sĩ chơi phần của họ.

Le Da Xanh
Cung Tiến, Bích Liên, Thu Vàng & Nhóm Thân Hữu Ngàn Khơi. Từ trái: Tín Trần, Lệ Thanh, Thu Vàng, Bích Liên, Cung Tiến, Josee, Wendy Ngô, Thúy Hằng, Kim Liên, Kim Anh; tại Tòa Soạn Việt Báo, Westminster, tháng 12, 2019; Đêm Nhạc Lệ Đá Xanh.

Kết quả nói chung làm hài lòng Cung Tiến. Ông chỉ có một điều không vui lắm là Duy Cường cắt đi một trường canh sau câu “trong tiếng chuông chiều đưa” vì Cường nghĩ là không cần thiết.  Lúc đó tôi cũng nghĩ như Duy Cường vì trường canh này thật ra chỉ là lập lại của trường canh trước, có cắt đi cũng không sao.  Tuy nhiên, sau này, khi hát lại bài này, thì tôi thấy ông Cung Tiến rất có lý.  Trường canh đó tuy là lập lại của trường canh trước, nhưng sự lập lại rất cần thiết như tiếng chuông thường được gõ hơn một lần thì mới có thì giờ lắng sâu vào tâm hồn người nghe được.  Thế mà lúc ấy ông chỉ nhỏ nhẹ hỏi tại sao cắt thôi, chứ không la lối trách móc gì cả. Đó là một thí dụ về sự “khó tính” mà không khó tính của Cung Tiến. Ông để ý từng chi tiết nhỏ nhưng cũng rất thông cảm cho những người trình diễn. 

Sau đó một thời gian, ông có soạn bài Lơ Thơ Tơ Liễu theo một bản chèo cổ, cho giọng hát, thụ cầm và dàn dây, và cho tôi cái hân hạnh được hát lần đầu tiên với Roseville String Ensemble ở Minnesota.  Lần này tôi biết hơn về sự cẩn thận, sự trân trọng âm nhạc của ông.  Ông đưa bài trước cho tôi cả hơn một tháng và nhắc nhở những chi tiết nhất là những đoạn đảo phách phải hát sao cho rõ mà phải tự nhiên.  Bài ông soạn rất kỹ, ghi chú rõ những chỗ lớn nhỏ như thế nào, nhanh chậm ra sao, diễn tả tình cảm gì, v.v.. Bản tổng phổ có đầy đủ các phần của các nhạc cụ nữa.  Nhờ sửa soạn kỹ như thế, khi đến Minnesota, tôi chỉ cần cùng dàn nhạc dượt một lần là có thể trình bày ăn khớp ngay. Không phải chỉ bài này mà bài hát nào ông cũng soạn kỹ như vậy.  Đấy, ông khó tính như thế. Nhưng ông cũng rất chịu khó nghe ý kiến của người hát, và nếu có những chỗ khó khăn người hát cần thay đổi một chút để hát dễ hơn, nếu có lý, ông cũng chấp nhận.


Có lần ông hỏi tôi là tại sao ca sĩ hay hát sai bài Hương Xưa. Tôi đã thưa với ông là vì tiêu chuẩn của ông quá cao.  Thí dụ câu đầu tiên mà ai cũng biết của bài Hương Xưa là “Người ơi, một chiều nắng tơ vàng hiền hòa hồn có mơ xa” chẳng hạn, nếu hát như ông viết và muốn ca sĩ hát đúng mà hay, mà tâm tình, thì không ca sĩ nào có đủ dài hơi để hát cả! Vì vậy phải lấy hơi hay đổi nhịp đi để dễ hát hơn.  Thế là ông cười và thông cảm.  Nhưng có một điều mà ông không thông cảm là hát sai cao độ.  Khi viết nhạc, ông rất để ý đến cao độ của từng nốt một. Khi sử dụng một nốt nào đó, ông đều có dụng ý cả, nên nếu nghe hát sai, ông thấy rất khó chịu.  Mà không trách ông được! Theo ông, tuy ca sĩ cũng có quyền sáng tạo, nhưng vẫn phải trong khuôn khổ và phải biết và tôn trọng những điểm thiết yếu của bản nhạc.  Ông còn soạn cả những nốt láy của từng câu từng chữ.  Và phải công nhận là nếu hát láy đúng như những nốt ông viết thì hay hơn là những nốt ca sĩ tự chế nhiều. Ông lại viết hòa âm cho từng bài cho thích hợp. Theo thiển ý của tôi, hòa âm của Cung Tiến nghe rất hay và rất hòa hợp với giai điệu bài hát. 

Ông cũng rất cẩn thận trong việc dùng chữ trong bài hát. Ca từ của ông tuyệt đẹp và có dụng ý. Trong những bài thơ phổ nhạc, ông cố gắng giữ càng nhiều chữ của thi sĩ càng tốt, chỉ thay đổi vì sự đòi hỏi vế âm diệu và tiết tấu của bản nhạc thôi.  Ông không thay đổi lời ca một khi đã in ra, trừ vài trường hợp đặc biệt mà tôi được biết.

Một trường hợp là bài Hoàng Hạc Lâu. Trong bài hát có câu “Gần xa chiều xuống nào quê quán…” nhưng trong bài thơ của Vũ Hoàng Chương mà ông lấy để phổ nhạc, câu này lại là ”Gần xa chiều xuống đâu quê quán…”! Tôi có hỏi ông về việc này, thì ông bảo ngay là phải đổi lời của câu này thành ”Gần xa chiều xuống nào đâu quê quán…”để gần với chữ của Vũ Hoàng Chương hơn. Chữ nào có hai nốt nhạc, nên khi đổi thành hai chữ nào đâu rất dễ dàng và không đổi nhạc.

Một trường hợp đổi lời nữa là trong bài Mắt Biếc. Câu “Đâu ngờ phút giây huy hoàng, phút giây khổ đau!” trong những ấn bản đầu đã được đổi thành “Không tàn phút giây huy hoàng, không phút giây khổ đau” trong ấn bản mới nhất do Kim Lũ xuất bản năm 2010.  Bài này ông viết tặng Josee, người bạn đời của ông, người mà ngay trước khi nhắm mắt sang thế giới khác, ông đã nói trong vòng tay bà: “Em là người yêu suốt đời của anh!” Tôi đã hỏi ông về việc này và ông đã cho biết sự thay đổi lời bài hát này phản ảnh tình yêu hạnh phúc của hai ông bà. 

Có người cũng phàn nàn với tôi là Cung Tiến chối bỏ những bài hát ông làm lúc ban đầu như Thu Vàng, Hoài Cảm hay Hương Xưa là những bản nhạc được nhiều người biết đến và yêu quý nhất.  Thật ra ông không hề chối bỏ chúng.  Nhưng đối với ông, những bản nhạc đó là những bước đầu trong sự trưởng thành về âm nhạc của ông, và ông có buồn khi nhiều người cho rằng đó là tiêu biểu cho sự nghiệp âm nhạc của ông. Qua những lần trò chuyện với ông, tôi biết là ông mong muốn những tác phẩm sau này của ông được giới thưởng ngoạn biết tới hơn. Tôi thông cảm với ông nhiều vì khi mình có cái gì tốt đẹp muốn chia sẻ với mọi người mà người ta chỉ thích cái ít đẹp hơn thì ai mà chẳng buồn.  Có điều, sự hiểu biết về nhạc và trình độ thẩm âm của ông quá cao so với đa số quần chúng, do đó nhạc của ông thường bị coi là quá bác học và khó thưởng thức.  Thôi thì vài mươi năm hay vài trăm năm nữa sẽ có nhiều người tri âm Cung Tiến hơn!
 
Ông đã ra đi êm ái như một vết chim bay. Cầu mong ông được yên nghỉ. 

Bích Liên
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Vì hình ảnh ảm đạm, buồn sầu, như tiếng kêu đòi tắt nghẹn. Tôi, tác giả, đi giữa lòng thủ đô Hà Nội mà không thấy gì cả, không thấy phố không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ. Cờ đỏ là quốc kỳ. Mưa sa làm cho những lá quốc kỳ sũng nước, bèo nhèo, nhếch nhác, úng rữa. Một hình ảnh thảm hại. Hình ảnh thảm hại là dự phóng cho tương lai thảm hại. Và thất bại. Lạ một điều, người ta chỉ trích dẫn năm dòng thơ này, tổng cộng 14 chữ, mà không ai trích dẫn cả bài thơ, và hẳn là hơn 90% những người biết năm dòng này thì không từng biết, chưa bao giờ đọc, cả bài thơ, và tin rằng đó là những lời tâm huyết của nhà thơ Trần Dần nói về thời cuộc mà ông nhận thức được vào thời điểm 1955.
Viet Book Fest cho thấy thế hệ trẻ gốc Việt nay đã vượt qua được những ràng buộc cơm áo gạo tiền của thế hệ đi trước, để cộng đồng Việt nay có thể vươn lên với giấc mơ văn học nghệ thuật trên đất nước Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ.
Hư vỡ là đặc tính bất biến của cuộc đời, của tất cả những gì có mặt trong vũ trụ này. Nghĩa là những gì hợp lại, thì sẽ tan; những gì sinh ra, rồi sẽ biến mất. Không có gì kiên cố, bất biến trên đời. Đức Phật đã chỉ ra sự thật đó, và biến những thái độ sống không vui thành sự kham nhẫn mỹ học: cái đẹp chính là vô thường. Bởi vì vô thường, nên có hoa mùa xuân nở, có những dòng suối chảy từ tuyết tan mùa hè, có những trận lá mùa thu lìa cành, và có những trận mưa tuyết mùa đông vương vào gót giày. Bởi vì sống hoan hỷ với hư vỡ là tự hoàn thiện chính mình, hòa hài làm bạn với hư vỡ là sống với sự thật, và cảm nhận toàn thân tâm trong hư vỡ từng khoảnh khắc là hòa lẫn vào cái đẹp của vũ trụ. Và sống với chân, thiện, mỹ như thế tất nhiên sẽ đón nhận được cái chết bình an.
Mỗi 30 tháng 4 là mỗi năm xa hơn ngày đó, 1975, thêm một bước nữa xa hơn, đi vào dĩ vãng. Hầu hết những người trực tiếp tham gia vào cuộc chiến trước 75, nay đã vắng mặt. Non nửa thế kỷ rồi còn gì. Khi không còn ai nữa, không hiểu những thế hệ trẻ tha hương sẽ nhớ gì? Một thoáng hơi cay? Có khi nào bạn đọc ngồi một mình chợt hát lên bài quốc ca, rồi đứng dậy, nghiêm chỉnh chào bức tường, thằng cháu nhỏ thấy được, cười hí hí. Ông ngoại mát rồi. Trí tưởng tượng của người thật kỳ diệu. Rượu cũng kỳ diệu không kém. Nửa chai vơi đi, lơ mơ chiến sĩ trở về thời đó. Lạ lùng thay, quá khứ dù kinh hoàng, khốn khổ cách mấy, khi nhớ lại, có gì đó đã đổi thay, dường như một cảm giác đẹp phủ lên như tấm màn mỏng, che phía sau một thiếu phụ trẻ đang khóc chồng. Cô có mái tóc màu nâu đậm, kiểu Sylvie Vartan, rủ xuống che nửa mặt. Nhưng thôi, đừng khóc nữa. Chỉ làm đất trời thêm chán nản. Để tôi hát cho em nghe, ngày đó, chúng tôi, những người lính rất trẻ.
Ngày 30 tháng 4 năm nay, 2024, đánh dấu 49 năm ngày Sài Gòn thất thủ vào tay cộng sản Bắc Việt (30 tháng 4 năm 1975). Biến cố này đã mở ra một tương lai đen tối cho dân tộc Việt Nam mà một trong những hệ lụy thảm khốc nhất là hàng triệu đồng bào đã bỏ nước ra đi tìm tự do, trong đó có khoảng hơn 400,000 người chết thảm giữa lòng biển cả. Cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài trong 20 năm đã khiến cho hơn 950,000 bộ đội và thường dân miền Bắc chết và khoảng 600,000 lính cộng sản bị thương. Trong khi đó, có khoảng hơn 700,000 thường dân và binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa thiệt mạng, cùng với 1,170,000 lính VNCH bị thương. Phía Hoa Kỳ có 58,281 binh sĩ tử thương và 303,644 lính bị thương. Đó là chưa kể số thương vong của binh sĩ các nước tham chiến ở hai miền Nam-Bắc, theo www.en.wikipedia.org.
Thế giới đang bùng nổ nhiều cuộc chiến tranh, và đang ngún lửa ở nhiều nơi khác: Trung Đông, Ukraine, Miến Điện, Đài Loan, Biển Đông… Một thời Việt Nam cũng đã trải qua nhiều cuộc binh lửa. Khi đọc kỹ Tam tạng Kinh điển, chúng ta cũng sẽ thấy có những cuộc chiến. Bản thân Đức Phật khi mới lớn cũng học kỹ thuật kiếm cung. Trong nhiều kiếp quá khứ, Đức Phật, khi còn ở cương vị Bồ Tát, cũng đã từng ra trận. Nhiều hình ảnh ẩn dụ trong kinh điển cũng cho thấy dấu tích chiến tranh: ngựa chiến, voi chiến, áo giáp, mũi tên… Và rồi tận cùng, Đức Phật nói trong Kinh SN45.7 rằng chiến thắng vinh quang nhất chính là nhiếp phục tham, sân, si – nơi đó chính là Niết Bàn. Đó là mặt trận lớn nhất, gian nan nhất.
Vào ngày 6 tháng 12, 2023, nhà thơ, nhà văn, giáo sư văn học và nhà hoạt động xã hội được yêu mến người Palestine Refaat Alareer đã thiệt mạng trong một cuộc không kích từ Israel cùng với người anh, em gái và bốn đứa con của họ. Trong tuần để tang kể từ đó, những lời tri ân dành cho cuộc đời, sự nghiệp viết lách và các hoạt động nghệ thuật tích cực của Alareer đã tràn ngập khắp nơi trên thế giới. Nhiều lời tri ân được đăng cùng với bài thơ cuối cùng “Nếu tôi phải chết” được ông đăng trên Twitter của mình vào ngày 1 tháng 11 năm 2023. Cho đến nay, bài thơ chia tay như một điềm báo đau lòng của Alareer hiện đã được dịch sang hơn 40 thứ tiếng; được đọc trên các sân khấu thế giới và được viết trên các bức tường sân ga tàu điện; được in trên các biểu ngữ, bảng hiệu, cờ và diều, được giương cao trong các cuộc biểu tình đòi ngưng bắn trên khắp thế giới.
Nhà xuất bản của Ocean Vương trên Marketplace cũng như Ocean Vương trên Instagram của mình đã thông báo về cuốn tiểu thuyết mới sẽ được xuất bản vào tháng 6 năm 2025, Emperor of Gladness. “Emperor of Gladness” là cuốn tiểu thuyết thứ hai của Ocean Vương, “kể về một năm trong cuộc đời của một thanh niên ương ngạnh ở New England, người tình cờ trở thành người chăm sóc cho một góa phụ 82 tuổi bị mất trí nhớ, tạo nên câu chuyện về tình bạn. sự mất mát và mức độ chúng ta sẵn sàng mạo hiểm để đòi hỏi một trong những ân huệ quý giá nhất của cuộc đời: cơ hội thứ hai.”
Tuyển tập “9 Khuôn Mặt: 9 Phong Khí Văn Chương” của Bùi Vĩnh Phúc là những trang sách phê bình văn học độc đáo, nơi đây 9 người cầm bút nổi tiếng của Miền Nam – Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, Vũ Khắc Khoan, Võ Phiến, Nguyễn Mộng Giác, Nguyễn Xuân Hoàng, Phạm Công Thiện, Bùi Giáng, Tô Thùy Yên – được chiếu rọi trên trang giấy rất mực trân trọng, công phu, phức tạp, và nổi bật là kiểu phê bình văn học rất mực thơ mộng của họ Bùi.
Nhận được tin buồn nhà thơ Phan Xuân Sinh sau một cơn bạo bệnh, nhập viện vì bệnh tim mạch, hôn mê sau 10 ngày vô phương cứu chữa đã qua đời tại Texas ngày 28/2/2024. Thọ 76 tuổi...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.