Hôm nay,  

Những tưởng gió sẽ cuốn đi

01/04/202211:46:00(Xem: 2150)

Tùy bút

 

Wind 


Mùa đông xuân năm nay, trời lạnh sớm, cái lạnh tái tê kéo dài từng đợt trên khắp cả nước, từ miền cao đến châu thổ. Có những nơi như đèo Ô Qui Hồ, Mẫu Sơn, Y Tý… tuyết rơi trắng xóa. Tuyết nơi miền chí tuyến! Cùng với tiết trời là những đợt gió rét mướt vi vu dễ làm chùng lòng, chẳng dám dậy sớm đi biển. Nên nhớ vẩn vơ. Nhớ gió qua bao nỗi niềm.

 

Gió mậu dịch hay còn gọi là tín phong/ trade winds là gió thổi từ cao áp cận chí tuyến về miền xích đạo. Do trái đất quay, không khí bị chệch hướng vì ảnh hưởng của lực Coriolis, ở Bắc Bán Cầu, gió thổi hướng Đông Bắc-Tây Nam, ở Nam Bán Cầu, theo chiều Đông Nam-Tây Bắc. Gió thổi quanh năm nên trước khi có tàu thủy chạy bằng máy hơi nước, từ cuối thế kỷ 15, gió đã đưa thuyền buồm của các nhà hàng hải từ Âu Châu sang Tân Thế Giới, mở ra thời Phục Hưng với bao điều hay ho mà cũng lắm hệ lụy.

 

Mùa hè nóng bỏng 2020, sau cái chết tức tưởi của anh da màu George Floyd ở Minneapolis, Hoa Kỳ, đám đông cuồng nộ đã xịt sơn lên tượng Kha Luân Bố, người được vinh danh đã tìm ra Châu Mỹ năm 1492. Nhờ gió mùa và la bàn dẫn đường, vậy mà Christopher Colombus vẫn còn lầm miền đất mới Châu Mỹ với Ấn Độ.

 

Vài chục năm trở lại đây, khi biển và đại dương giữ vai trò then chốt trong thế địa chính trị trên bàn cờ thế giới, Trung Hoa muốn khẳng định vai cường quốc hàng hải, vội vàng phủi bụi thời gian, đề cao vai trò của đô đốc Trịnh Hòa qua 7 chuyến hải trình từ 1403 đến 1433. Những ngọn tín phong và gió mùa thuở đó đã đưa Trịnh Hòa đến vùng biển Đông Nam Á, Ấn Độ Dương, bán đảo Ả Rập, vùng Đông Phi. Luồng gió mới mở ra biển cả và đại dương lồng lộng cho đất nước Trung Hoa vốn xưa nay co cụm bên trong Vạn Lý Trường Thành có tên Trịnh Hòa, một Christopher Colombus phương Đông đầy tham vọng. Ông vốn là viên quan thái giám người Ouighur/Duy Ngô Nhĩ của vùng Tân Cương đầy nghi kị và sân hận bây giờ.

 

Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa với hai mùa gió Đông Bắc, từ tháng 9 đến tháng 5 và Tây Nam từ tháng 5 đến tháng 9. Mousson, Monsoon đến từ tiếng Ả Rập mausim nghĩa là mùa. Từ đó mà có chiến thuật giặc mùa. Cuối thế kỷ 18, từ những năm 1790, vào các tháng Năm, Sáu, theo gió mùa Tây nam, qua cửa Cần Giờ, Nguyễn Ánh đưa quân ra Quy Nhơn, phối hợp với các đoàn quân bản địa, uy hiếp và khống chế lực lượng anh em nhà Tây Sơn. Khi gió mùa Đông Bắc tràn về, quân Nguyễn rút vào Nam, chỉ để lại một ít quân sĩ canh giữ. Từ đó, dân gian có câu:

 

Lạy trời cho chóng gió nồm

Để thuyền chúa Nguyễn thuận buồm thẳng ra.

 

Mùa hè, gió mùa Tây Nam băng qua Ấn Độ Dương, biến thành những ngọn gió ẩm, khi thổi đến Trường Sơn thì bị hoành sơn nầy chận lại nên Trường Sơn Tây anh đi/ Thương em thương em bên ấy mưa nhiều...

Bên sườn đông, phía đồng bằng duyên hải miền Trung, đặc biệt là vùng đồng bằng duyên hải Nghệ-Tĩnh-Trị-Thiên, nhiều khi gió còn vượt qua giới hạn trên tiến ra tận Bắc Bộ hay xuống đến Bình Định, Phú Yên. Gió từ sườn đông Trường Sơn thổi sang phần phật từng cơn, từng cơn, kéo dài trong hai ba ngày, có khi đến nửa tháng, gọi là gió Lào. Người Lào hiền hòa, dễ mến, thân thiện, đi du lịch Lào thú vị và nhớ hoài mà gió Lào thì dữ dội.

 

Hãy nghe nhà địa lý học Lê Bá Thảo – Thiên nhiên Việt Nam, NXB Giáo Dục tái bản. 2004, trg 202, mô tả:

 

Khi gió Lào thổi,nhiệt độ tăng cao lên đến 37-39° hay hơn, độ ẩm xuống đến mức thấp nhất, từ 30 đến 45%, độ bốc hơi tăng lên một cách đột ngột làm cây cỏ chết héo, mái tranh khô cong, tre nổ lốp bốp và hồ ao cạn nước.Người ta nghe thấy tiếng gió thổi ào ào trên các lùm cây,tiếng lá khô bay lao xao trên mặt đất và một luồng khí nóng phả vào người lấm tấm rát như kim châm.

 

Nguyễn Tuân trong tùy bút Gió Lào:

 

Bấy giờ là cuối tháng tư âm lịch, gió Lào đêm ngày nối tiếp kêu gào như sinh vật bị cắt họng. Có lúc gió rống lên như đàn chó già sủa bóng. Bị lục địa xua rượt từ Tràng Sơn ra bể Đông, gió chạy một chiều rất nhanh rất bạo qua một cái tỉnh vắng rộng. Còn linh động được ở đây là chỉ có cát và bụi thôi…Gió cứ một điều ù ù thổi từ đất ra biển không một phút nào ngoảnh cổ lại… Đất ùn chướng lũy, uất lên với nhiệt độ gió Lào… Khí trời ong ong, khí người ráo kiệt… Gió từ nẻo lưng đèo ùa về đưa tiếng khóc đàn bà qua các cồn cát trắng, trắng đến mức ngao ngán,qua những rú xanh ruộng cằn trên đó còn phất phơ cái ú ớ mê tín ma Hời…Ôi gió Lào ơi, tôi muốn đưa cả cho gió những ngày đầy hẹn ước của đời tôi, để gió đừng rên kêu trong một buổi, chỉ một buổi thôi!

 

(Dẫn lại theo bản dịch Trần Thiện Đạo. Albert Camus. Tiểu Luận, phần phụ lục. NXB Văn Hóa Thông Tin tái bản. Hà Nội 2004.)

 

Nhìn lại lịch sử Đại Việt, từ hậu bán thế kỷ 14, sau hào quang ba lần chiến thắng Nguyên Mông, nhà Trần bước sang thời suy vong. Từ phương Nam, quân Chiêm Thành tiến vào Đại Việt như chỗ không người, đốt phá kinh thành Thăng Long, vua quan kéo nhau di tản trước, dân lêu bêu tứ tán theo sau. Người anh hùng Chiêm Thành bấy giờ là Chế Bồng Nga. Như chiến thuật của Nguyễn Ánh sau này, Chế Bồng Nga nương theo gió nồm/ gió mùa Tây Nam để tấn công Đại Việt.

 

Tháng 11 năm 1389, trong thế thượng phong trước vua tôi nhà Trần bạc nhược, bất chấp quy luật thời tiết gió mùa Đông Bắc lạnh ẩm vốn xa lạ với đoàn quân phương Nam quen với nắng ấm, Chế Bồng Nga ra lệnh xuất quân. Trong đỉnh điểm mùa gió bấc tháng giêng năm 1390, do hàng thần bội phản, Chế Bồng Nga bị phục kích và trúng đạn chết trên thuyền ở sông Luộc, Hưng Yên, chấm dứt những trang sử vàng son Chiêm Thành. Trong sự thất bại ấy, ngoài lý do Chế Bồng Nga bị chỉ điểm, còn có gió mùa Đông Bắc lạnh cắt da đã cầm chân quân Chiêm Thành. Như tuyết rơi trắng xóa, giá rét căm căm phần nào giải thích sự thất bại của Napoléon I trong chiến dịch tiến quân sang Mạc Tư Khoa năm 1812 mà người Nga gọi là trận Borodino.

 

Có lần dừng chân phía Bắc đèo Cổ Mã, Phú Yên, tôi đành chịu trận trước những đợt gió lồng lộn, hung hãn đang rít lên như tiếng ngựa phi trong bão cát mịt mù. Cát phả vào người, luồn qua những lớp áo, gió và cát thấm rát vào da thịt nghe rờn rợn. Gió không khô nóng như gió Lào. Nơi quán bên đường, sau phút hoàn hồn, hỏi thăm về gió thì được chủ quán trả lời: gió nam c.

 

Gió nam cồ thổi ròng rã ngày đêm không ngừng nghỉ. Không biết gió ở đâu mà nhiều thế, chạy hàng đàn lũ lượt, lồng lộn, la thét, hung hãn tột cùng… Một cái gió mà ruồi muỗi phải sợ núp trốn, nhưng trẻ nhỏ và ngựa lại thích chí vô cùng. Đó là gió nam c. (Ngô Phan Lưu).

 

Tôi đưa khách nhàn du Lai Châu, Điện Biên Phủ, Lào Cai, Yên Bái… nhiều lần mà chưa từng bao giờ cảm nhận “ruồi vàng, bọ chó, gió Than Uyên”. Có lẽ phải là người đã chọn nơi này làm quê hương hay chỉ là nỗi nhớ hắt hiu những người tù khổ sai thuở nào tháng ngày núi rừng biên ải.

 

Trong bài thơ Les yeux d’Elsa/ Đôi mắt Elsa, Louis Aragon viết: “Les vents chassent en vain les chagrins de l’azur/ Gió thổi không nguôi cho tan đi niềm đau nhân thế.

 

Thôi thì hãy nhớ đến những ngọn gió hoan hỉ hơn, những ngọn gió khiến con người xích lại gần  nhau. Buổi sáng hôm nay, mùa đông đến đột nhiên, không báo trước.Vừa mới hôm qua giời hãy còn nắng ấm và hanh…

 

Thế mà qua một đêm mưa rào, trời bỗng đổi ra gió bấc, rồi cái lạnh ở đâu đến làm cho người ta tưởng đang ở giữa mùa đông rét mướt. (Gió đầu mùa, Thạch Lam).

 

Trời muốn trở rét…Ở ngoài có lẽ gió thổi mạnh hơn vì tôi nghe tiếng lá bàng rụng trên đường mau hơn…Gió lên…gió nữa lên…Gió lên…lạy Trời gió lên…Một cơn gió mạnh nổi lên. Lá rụng… một lát đã đầy đường. Mau lên chị ơi… Nhặt cả hai tay chị ạ…Trời sáng rõ lúc nào tôi không đý. Ánh nắng lấp lánh trên những lá bàng bóng như sơn son. Hai đứa bé còn đứng đó buộc mấy gánh lá bàng nhặt được đêm qua. (Đôi bạn, Nhất Linh).

 

Thời đi học, chúng tôi may mắn đọc miên man từ Tự Lực Văn Đoàn, nhóm Sáng Tạo, Văn… đến Kim Dung, các tác giả phương Tây. Albert Camus là một trong những dòng văn chương để đời thuở ấy cho đến tận bây giờ, đặc biệt là tập tiểu luận ngắn Noces/ Giao Cảm với bốn bài tùy bút trải lòng với mặt trời, nắng, biển cả, sa mạc, gió…

 

Gió từ một nẻo trống giữa mấy hòn núi xa ở phía đông thốc ra, chạy ùa từ chân trời mù tịt mà dội hừng hực vào gạch đá và ánh nắng. Gió liên tiếp rít qua phế tích, quay cuồng trong một hý trường đất đá lẫn lộn, chui thọc vào các đống đá khối rỗ mặt, vây trùm các cột trụ để rồi phân tán ra thành bao tiếng rú không ngừng trong công trường trống nóc. Tôi cảm thấy bị dập vùi như một cột buồm… Riêng tôi, đứng trước cảnh vật này, tôi không muốn dối ai, mà cũng không muốn ai dối tôi. (Gió về Djémila, theo bản dịch của Trần Thiện Đạo, Sđd).

 

Cho nên, bao nhiêu năm rồi, vẫn ngại phất phơ gió chiều nào ngả theo chiều đó.

 

Gió đã lên… Trên mặt đất thân yêu nầy, còn biết bao nhiêu là cơn gió như gió nóng Santa Ana, đỏ rực đây đó đất trời California, gió Mistral hay gió Sirocco lồng lộng miền Nam nước Pháp hay cơn gió nhẹ hiu hiu một chiều nào bên sông Hương…

 

– Tống Văn Thụy

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Westminster, CA – Học Khu Westminster hân hoan tổ chức mừng lễ tốt nghiệp của các học sinh đầu tiên trong chương trình Song Ngữ Tiếng Việt (VDLI) tiên phong của học khu. Đây là khóa học sinh đầu tiên ra trường và các em sẽ được ghi nhận tại buổi lễ tốt nghiệp đặc biệt được tổ chức vào thứ Ba, ngày 28 tháng Năm, lúc 6:00 giờ chiều tại phòng Gymnasium của Trường Trung Cấp Warner (14171 Newland St, Westminster, CA 92683).
Tháng Năm là tháng vinh danh những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho đất nước Hoa Kỳ mà trong đó tất nhiên có người Mỹ gốc Việt. Những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho Hoa Kỳ bao gồm rất nhiều lãnh vực, từ kinh tế, chính trị đến văn học nghệ thuật, v.v… Nhưng nơi đây chỉ xin đề cập một cách khái quát những đóng góp trong lãnh vực văn học của người Mỹ gốc Việt. Bài viết này cũng tự giới hạn phạm vi chỉ để nói đến các tác phẩm văn học viết bằng tiếng Anh của người Mỹ gốc Việt như là những đóng góp nổi bật vào dòng chính văn học của nước Mỹ. Điều này không hề là sự phủ nhận đối với những đóng góp không kém phần quan trọng trong lãnh vực văn học của Hoa Kỳ qua hàng trăm tác phẩm văn học được viết bằng tiếng Việt trong suốt gần năm mươi năm qua.
Vì hình ảnh ảm đạm, buồn sầu, như tiếng kêu đòi tắt nghẹn. Tôi, tác giả, đi giữa lòng thủ đô Hà Nội mà không thấy gì cả, không thấy phố không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ. Cờ đỏ là quốc kỳ. Mưa sa làm cho những lá quốc kỳ sũng nước, bèo nhèo, nhếch nhác, úng rữa. Một hình ảnh thảm hại. Hình ảnh thảm hại là dự phóng cho tương lai thảm hại. Và thất bại. Lạ một điều, người ta chỉ trích dẫn năm dòng thơ này, tổng cộng 14 chữ, mà không ai trích dẫn cả bài thơ, và hẳn là hơn 90% những người biết năm dòng này thì không từng biết, chưa bao giờ đọc, cả bài thơ, và tin rằng đó là những lời tâm huyết của nhà thơ Trần Dần nói về thời cuộc mà ông nhận thức được vào thời điểm 1955.
Viet Book Fest cho thấy thế hệ trẻ gốc Việt nay đã vượt qua được những ràng buộc cơm áo gạo tiền của thế hệ đi trước, để cộng đồng Việt nay có thể vươn lên với giấc mơ văn học nghệ thuật trên đất nước Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ.
Hư vỡ là đặc tính bất biến của cuộc đời, của tất cả những gì có mặt trong vũ trụ này. Nghĩa là những gì hợp lại, thì sẽ tan; những gì sinh ra, rồi sẽ biến mất. Không có gì kiên cố, bất biến trên đời. Đức Phật đã chỉ ra sự thật đó, và biến những thái độ sống không vui thành sự kham nhẫn mỹ học: cái đẹp chính là vô thường. Bởi vì vô thường, nên có hoa mùa xuân nở, có những dòng suối chảy từ tuyết tan mùa hè, có những trận lá mùa thu lìa cành, và có những trận mưa tuyết mùa đông vương vào gót giày. Bởi vì sống hoan hỷ với hư vỡ là tự hoàn thiện chính mình, hòa hài làm bạn với hư vỡ là sống với sự thật, và cảm nhận toàn thân tâm trong hư vỡ từng khoảnh khắc là hòa lẫn vào cái đẹp của vũ trụ. Và sống với chân, thiện, mỹ như thế tất nhiên sẽ đón nhận được cái chết bình an.
Mỗi 30 tháng 4 là mỗi năm xa hơn ngày đó, 1975, thêm một bước nữa xa hơn, đi vào dĩ vãng. Hầu hết những người trực tiếp tham gia vào cuộc chiến trước 75, nay đã vắng mặt. Non nửa thế kỷ rồi còn gì. Khi không còn ai nữa, không hiểu những thế hệ trẻ tha hương sẽ nhớ gì? Một thoáng hơi cay? Có khi nào bạn đọc ngồi một mình chợt hát lên bài quốc ca, rồi đứng dậy, nghiêm chỉnh chào bức tường, thằng cháu nhỏ thấy được, cười hí hí. Ông ngoại mát rồi. Trí tưởng tượng của người thật kỳ diệu. Rượu cũng kỳ diệu không kém. Nửa chai vơi đi, lơ mơ chiến sĩ trở về thời đó. Lạ lùng thay, quá khứ dù kinh hoàng, khốn khổ cách mấy, khi nhớ lại, có gì đó đã đổi thay, dường như một cảm giác đẹp phủ lên như tấm màn mỏng, che phía sau một thiếu phụ trẻ đang khóc chồng. Cô có mái tóc màu nâu đậm, kiểu Sylvie Vartan, rủ xuống che nửa mặt. Nhưng thôi, đừng khóc nữa. Chỉ làm đất trời thêm chán nản. Để tôi hát cho em nghe, ngày đó, chúng tôi, những người lính rất trẻ.
Ngày 30 tháng 4 năm nay, 2024, đánh dấu 49 năm ngày Sài Gòn thất thủ vào tay cộng sản Bắc Việt (30 tháng 4 năm 1975). Biến cố này đã mở ra một tương lai đen tối cho dân tộc Việt Nam mà một trong những hệ lụy thảm khốc nhất là hàng triệu đồng bào đã bỏ nước ra đi tìm tự do, trong đó có khoảng hơn 400,000 người chết thảm giữa lòng biển cả. Cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài trong 20 năm đã khiến cho hơn 950,000 bộ đội và thường dân miền Bắc chết và khoảng 600,000 lính cộng sản bị thương. Trong khi đó, có khoảng hơn 700,000 thường dân và binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa thiệt mạng, cùng với 1,170,000 lính VNCH bị thương. Phía Hoa Kỳ có 58,281 binh sĩ tử thương và 303,644 lính bị thương. Đó là chưa kể số thương vong của binh sĩ các nước tham chiến ở hai miền Nam-Bắc, theo www.en.wikipedia.org.
Thế giới đang bùng nổ nhiều cuộc chiến tranh, và đang ngún lửa ở nhiều nơi khác: Trung Đông, Ukraine, Miến Điện, Đài Loan, Biển Đông… Một thời Việt Nam cũng đã trải qua nhiều cuộc binh lửa. Khi đọc kỹ Tam tạng Kinh điển, chúng ta cũng sẽ thấy có những cuộc chiến. Bản thân Đức Phật khi mới lớn cũng học kỹ thuật kiếm cung. Trong nhiều kiếp quá khứ, Đức Phật, khi còn ở cương vị Bồ Tát, cũng đã từng ra trận. Nhiều hình ảnh ẩn dụ trong kinh điển cũng cho thấy dấu tích chiến tranh: ngựa chiến, voi chiến, áo giáp, mũi tên… Và rồi tận cùng, Đức Phật nói trong Kinh SN45.7 rằng chiến thắng vinh quang nhất chính là nhiếp phục tham, sân, si – nơi đó chính là Niết Bàn. Đó là mặt trận lớn nhất, gian nan nhất.
Vào ngày 6 tháng 12, 2023, nhà thơ, nhà văn, giáo sư văn học và nhà hoạt động xã hội được yêu mến người Palestine Refaat Alareer đã thiệt mạng trong một cuộc không kích từ Israel cùng với người anh, em gái và bốn đứa con của họ. Trong tuần để tang kể từ đó, những lời tri ân dành cho cuộc đời, sự nghiệp viết lách và các hoạt động nghệ thuật tích cực của Alareer đã tràn ngập khắp nơi trên thế giới. Nhiều lời tri ân được đăng cùng với bài thơ cuối cùng “Nếu tôi phải chết” được ông đăng trên Twitter của mình vào ngày 1 tháng 11 năm 2023. Cho đến nay, bài thơ chia tay như một điềm báo đau lòng của Alareer hiện đã được dịch sang hơn 40 thứ tiếng; được đọc trên các sân khấu thế giới và được viết trên các bức tường sân ga tàu điện; được in trên các biểu ngữ, bảng hiệu, cờ và diều, được giương cao trong các cuộc biểu tình đòi ngưng bắn trên khắp thế giới.
Nhà xuất bản của Ocean Vương trên Marketplace cũng như Ocean Vương trên Instagram của mình đã thông báo về cuốn tiểu thuyết mới sẽ được xuất bản vào tháng 6 năm 2025, Emperor of Gladness. “Emperor of Gladness” là cuốn tiểu thuyết thứ hai của Ocean Vương, “kể về một năm trong cuộc đời của một thanh niên ương ngạnh ở New England, người tình cờ trở thành người chăm sóc cho một góa phụ 82 tuổi bị mất trí nhớ, tạo nên câu chuyện về tình bạn. sự mất mát và mức độ chúng ta sẵn sàng mạo hiểm để đòi hỏi một trong những ân huệ quý giá nhất của cuộc đời: cơ hội thứ hai.”
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.