Giới Thiệu Truyện Nôm ‘Quan Âm Tế Độ Diễn Nghĩa Ca’ Do Giáo Sư Nguyễn Văn Sâm Phiên Âm Ra Chữ Quốc Ngữ

22/03/202209:47:00(Xem: 1303)
Quan Am Te Do
Hình bìa truyện Nôm Quan Âm Tế Độ Diễn Nghĩa Ca do Giáo Sư Nguyễn Văn Sâm phiên âm ra chữ quốc ngữ.

 

Bồ Tát Quán Thế Âm hay Bồ Tát Quán Tự Tại là tôn danh của một vị Bồ Tát trong Phật Giáo được các dịch giả Trung Hoa dịch từ chữ Phạn (Sanskrit) “Avalokiteśvara.” Ngài Huyền Trang (602-664) dịch là Quán Tự Tại, trong khi ngài Cưu Ma La Thập (Kumārajīva 344-413) dịch là Quán Thế Âm.

Quán Tự Tại là dùng trí tuệ quán sát các pháp đều do duyên sinh, cho nên giả hợp, là Không. Vì thấu suốt bản chất các pháp là Không nên không bị trói buộc mà tự tại giải thoát. Như vậy, Bồ Tát Quán Tự Tại là vị Bồ Tát quán chiếu các pháp bằng trí tuệ Bát-nhã thấy rõ bản chất các pháp là giả danh, là Không, nên tự tại giải thoát. Như trong Bát Nhã Tâm Kinh (Prajñāpāramitāhṛdaya Sūtra) có nói:

“Bồ-đề-tát-đỏa y Bát-nhã Ba-la-mật-đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết-bàn.” (Bồ Tát nhờ trí tuệ vượt qua bờ bên kia nên tâm không vướng mắc, vì tâm không vướng mắc nên không sợ hãi, xa lìa mộng tưởng điên đảo, rốt ráo tịch tịnh.). Đó chính là trí tuệ của một vị bồ tát.

Quán Thế Âm là quán chiếu âm thanh của thế gian, mà âm thanh của thế gian cũng là âm thanh của đau khổ vì bản chất của cuộc đời là khổ (một trong bốn sự thật – Tứ diệu đế - được đức Phật dạy) để cứu độ. Cho nên, Bồ Tát Quán Thế Âm là vị Bồ Tát quán chiếu sự khổ đau của chúng sinh để cứu giúp. Đó chính là lòng từ bi của một vị bồ tát. Trong Phẩm Phổ Môn thứ 25 của Kinh Diệu Pháp Liên Hoa (Saddharma Puṇḍarīka Sūtra), đức Phật đã nói về lòng từ bi cứu khổ của Bồ Tát Quán Thế Âm như sau:

“Phật bảo ngài Vô Tận Ý Bồ Tát: "Thiện nam tử! Nếu có vô lượng trăm nghìn muôn ức chúng sanh chịu các khổ não, nghe Quán Thế Âm Bồ Tát này một lòng xưng danh. Quán Thế Âm Bồ Tát tức thì xem xét tiếng tăm kia, đều được giải thoát.” (Phẩm Phổ Môn 25 của Kinh Pháp Hoa – Thích Trí Tịnh dịch)

Nhờ trí tuệ quán chiếu các pháp do duyên sinh, giả hợp, Không, và cũng nhờ trí tuệ quán thấy chúng sinh bị chìm đắm trong vòng luân hồi khổ đau, nên Bồ Tát khởi phát lòng từ bi cứu khổ. Trong Kinh Lăng Già (Laṅkāvatāra Sūtra) có nói:

“Thế gian ly sanh diệt

Do như hư không hoa

Trí bất đắc hữu vô

Nhi hưng đại bi tâm.”

(Thế gian lìa sanh diệt giống như hoa đóm trong hư không. Trí tuệ không vướng mắc vào có hay không nên phát khởi tâm đại bi.)

Từ bi và trí tuệ được ví như hai bánh của cỗ xe Phật Giáo. Thiếu một trong hai bánh này thì cỗ xe Phật Giáo không thể chạy, không thể được truyền bá, không thể hướng dẫn con người từ bờ bên này (thử ngạn) trầm luân khổ đau sang bờ bên kia (bỉ ngạn) giác ngộ và giải thoát.

Bồ Tát Quán Thế Âm có đầy đủ trí tuệ và từ bi. Cho nên, Ngài đã được nhiều kinh điển Phật Giáo nói đến. Chẳng hạn, trong các Kinh: Vô Lượng Thọ (Sukhāvatīvyūha Sūtra), Diệu Pháp Liên Hoa Hoa (Saddharma Puṇḍarīka Sūtra),  Bát Nhã Tâm Kinh (Prajñāpāramitāhṛdaya Sūtra), Lăng Nghiêm (Śūraṅgama Sūtra), Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm (Mahāvaipulya Buddhāvataṃsaka Sūtra), v.v…

Khi Phật Giáo truyền bá sâu rộng trong nhân gian thì hành trạng và hình tượng của Bồ Tát Quán Thế Âm cũng thích ứng theo căn cơ, thời đại và quốc độ ở mỗi nơi. Vị Bồ Tát theo truyền thống Bắc Truyền tức Đại Thừa duy nhất được tôn thờ trong các nước Phật Giáo Nam Truyền là Bồ Tát Quán Thế Âm. Tại Tích Lan, Bồ Tát Quán Thế Âm được tôn xưng là Nātha. Tại Miến Điện, Ngài được gọi là Lokanat hay Lokabyuharnat. Tại Thái Lan và Nam Dương, Ngài được gọi là Lokesvara. Tại Tây Tạng, Ngài được gọi là Chenrezig. Tại Đại Hàn, Ngài được gọi là Gwan-eum. Tại Nhật Bản, Ngài được gọi là Kannon hay Kanzeon.

Đối với quần chúng bình dân, những giáo nghĩa cao siêu về Tánh Không (Śūnyatā) mà Bồ Tát Quán Tự Tại đã giảng cho Tôn Giả Xá Lợi Phất trong Bát Nhã Tâm Kinh là triết lý cao thâm khó thấu hiểu và thực hành trong cuộc sống hàng ngày. Đối với quần chúng bình dân, một Bồ Tát Quan Thế Âm trong hình ảnh của Quan Âm Thị Kính hay Quan Âm Diệu Thiện sẽ gần gũi, dễ cảm thông, dễ tiếp nhận, và dễ được ảnh hưởng sâu đậm hơn. Từ đó, những câu chuyện được diễn bày bằng thơ như Quan Âm Thị Kính hay Quan Âm Diệu Thiện đã được sáng tác và phổ biến trong dân gian để đáp ứng với căn cơ và tình cảm của giới bình dân.

Cả hai truyện Quan Âm Thị Kính và Quan Âm Diệu Thiện đều được viết  bằng chữ Nôm và đã được các học giả Hán-Nôm phiên âm sang chữ quốc ngữ.

Gần đây, tôi có cơ duyên đọc được cuốn truyện thơ lục bát về Quan Âm Diệu Thiện là “Quan Âm Tế Độ Diễn Nghĩa Ca” do Giáo Sư Nguyễn Văn Sâm phiên âm từ chữ Nôm sang chữ quốc ngữ.

Trong Lời Dẫn Nhập của truyện “Quan Âm Tế Độ Diễn Nghĩa Ca,” Giáo Sư Nguyễn Văn Sâm đã cho người đọc biết về xuất xứ của cuốn truyện này như sau:

“Truyện Quan Âm Diệu Thiện: Việt Nam đầu thế kỷ 20, (1908) hai tín nữ  Nguyễn Từ Quang và Hoàng Diệu Trúc ở Gia Định phát tâm cổ động đồng đạo góp phần kim tài khắc in bản Nôm Quan Âm Tế Độ Diễn Nghĩa Ca dầy 186 trang gồm 7228 câu - bản Nôm lục bát dài nhứt trong lịch sử văn học Việt Nam. Tiếc là theo thói quen thời đó người ta không đề tên tác giả - dịch giả - tập thơ Phật giáo quí giá nầy. Qua thời gian, bản Quan Âm Tế Độ chỉ một lần được phiên âm ra quốc ngữ do ông Nguyễn Văn Kinh, nhà in Nguyễn Văn Viết 1925 rồi thôi, không thấy bản quốc ngữ nào khác.”

Truyện Nôm “Quan Âm Tế Độ Diễn Nghĩa Ca” do Giáo Sư Nguyễn Văn Sâm phiên âm sang chữ quốc ngữ gồm 12 hồi, tổng cộng 7228 câu thơ lục bát. Theo Giáo Sư Nguyễn Văn Sâm thì đây là truyện thơ chữ Nôm dài nhất trong lịch sử văn học Việt Nam.

Truyện kể Tôn Giả Từ Hàng từ trên thượng giới nhìn thấy ở dưới nhân gian con người tạo ra nhiều tội nghiệp và phải gánh chịu nhiều ác quả đau khổ nên đã phát khởi lòng từ bi rồi giáng trần để cứu độ. Ngài đã đầu thai làm Công chúa Diệu Thiện ở nước Cao Ly mà vua cha là Diệu Trang Vương. Công chúa Diệu Thiện vốn có túc duyên tu hành từ đời trước nên khi còn trẻ tuổi mà đã biết tu nhân tích đức. Khi lớn lên ở tuổi lập gia thất thì vua cha muốn gả chồng cho, nhưng Công chúc Diệu Thiện đã nhất mực từ chối chuyện hôn nhân và chỉ nghĩ đến chuyện tu hành. Điều này làm cho vua cha tức giận rồi ra lệnh cấm đoán, trừng phạt và đày ải Công chúa Diệu Thiện để làm nản lòng ý nguyện quyết tu hành của Công chúa. Nhưng, Công chúa Diệu Thiện không những không thui chột ý nguyện tu hành mà còn nhẫn nại chịu đựng bao nhiêu gian lao cực khổ do vua cha tạo ra. Với lòng thành và sức mạnh tinh tấn tu hành, cuối cùng Công chúa Diệu Thiện cũng đã đạt thành chánh quả để trở thành Bồ Tát Quan Âm Diệu Thiện. Bồ Tát Quan Âm Diệu Thiện sau khi đắc đạo đã vận dụng lòng từ bi để cứu độ mọi người mà trong đó có vua cha đã tạo ra nhiều tội nghiệp kể cả việc đốt Chùa Bạch Tước làm cho nhiều Tăng, Ni bị chết cháy.



Truyện Nôm “Quan Âm Tế Độ Diễn Nghĩa Ca” chuyên chở những giáo lý cơ bản của nhà Phật như nhân quả, nghiệp báo, luân hồi, báo hiếu phụ mẫu, lòng từ bi, v.v… để khuyến hóa quần chúng bình dân ăn hiền ở lành và tu nhân tích đức. Chẳng hạn, truyện nói về nhân quả:

 

“Tiết nầy nhơn quả rõ ràng,

Khuyên người chớ khá bạo tàn buông lung.

Làm người cho biết thỉ chung,

Dữ thời xa lánh, hiếu trung noi làm.

Phật tiên xưa cũng người phàm,

Tỉnh thời là Phật, mê làm chúng sanh.”

 

Hay nói về nghiệp báo thiện ác:

 

“Những lời thiện báo ác trừng,

Luận xem báo ứng rõ chưng dữ lành.

Nhơn gian hỗn tạp đấu tranh,

Thế tình yêu chuộng lợi danh, sang giàu.

Quả nhơn cũng có chậm mau,

Như hoa tàn rụi, khác màu sâm si.

Công danh, cực lạc hữu thì,

Họa dâm, phước thiện, lạ chi, rõ ràng.”

 

Hoặc nói về đạo hiếu:

 

“Chân như đạo Phật rất mầu,

Tâm trung chữ hiếu, niệm đầu chữ Nhân.

Hiếu là độ đặng tông thân,

Nhân là vớt hết trầm luân mọi loài.

Cùng trong một điểm linh đài,

Hóa ra muôn phép cứu hoài chúng sanh.

Khuyên người chớ khá đấu tranh,

Trì trai niệm Phật, cảnh thanh đặng về.”

 

Đọc truyện “Quan Âm Tế Độ Diễn Nghĩa Ca,” chúng ta thấy nội dung của truyện ảnh hưởng rất sâu nặng văn hóa và văn học Trung Hoa. Chẳng hạn, đoạn thơ sau đây:

 

“Lịnh trên Kim mẫu Diêu Trì,

Đương khi hội yến nhóm thì chư tiên.

Thiên Tôn Vô Cực tòa tiền,

Từ Hàng quì gối phút liền tâu qua.”

 

“Kim Mẫu Diêu Trì,” “Thiên Tôn Vô Cực,” “chư tiên” là những nhân vật trong văn hóa và văn học Trung Hoa, cụ thể là trong Đạo Lão, mà không có trong Phật Giáo chính thống thuộc Nam và Bắc Truyền. Hơn nữa, trong truyện “Quan Âm Tế Độ Diễn Nghĩa Ca” mô tả 10 địa ngục mà thường được biết là Thập Điện Diêm Vương. Đây rõ ràng là thuộc về văn hóa và văn học Trung Hoa vì tên các vị chủ ngục này đều là tên theo tiếng Trung Hoa. Theo Bách Khoa Từ Điển Mở, Thập Điện Diêm Vương mới chỉ được xuất hiện từ thời nhà Đường (từ thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ thứ 10 tây lịch) ở Trung Hoa do ảnh hưởng của Đạo Lão. Trong các Kinh thuộc Nam Truyền như Nikaya hoặc các Kinh thuộc Bắc Truyền như A-hàm và đặc biệt trong Kinh Địa Tạng là Kinh nói về nhân quả của địa ngục đều không thấy đề cập đến Thập Điện Diêm Vương.

Trong Lời Dẫn Nhập của truyện “Quan Âm Tế Độ Diễn Nghĩa Ca,” Giáo Sư Nguyễn Văn Sâm đã cho người đọc biết về mục đích xuấn bản cuốn truyện Nôm “Quan Âm Tế Độ Diễn Nghĩa Ca” như sau:

“Chúng tôi cho xuất bản lần nầy mục tiêu là giới thiệu bản QN của mình, có chú giải một số từ ngữ cần thiết để người đọc dễ thấu hiểu bản văn vốn được viết trước đây gần hai thế kỷ. Cũng để bảo toàn phần nào gia tài văn hóa chữ Nôm chúng tôi cũng cho in lại toàn văn bản Nôm (BN) như vậy người muốn nghiên cứu bản văn nầy có điều kiện để kiểm nghiệm bản phiên âm mới.”

Ở đây, Giáo Sư Nguyễn Văn Sâm có nói đến một trong những mục đích mà ông phiên âm sang chữ quốc ngữ và phổ biến truyện “Quan Âm Tế Độ Diễn Nghĩa Ca” là để “bảo toàn phần nào gia tài văn hóa chữ Nôm.” Tôi cho đây là điều rất quan trọng và cần thiết đối với gia tài văn học và văn hóa vô giá của dân tộc.

Chữ quốc ngữ hay tiếng Việt viết theo ký tự La Tinh mới được phát triển thành quốc ngữ và được sử dụng chính thức trên toàn cả nước Việt Nam kể từ đầu thế kỷ 20 đến nay. Điều đó có nghĩa là trong suốt mấy ngàn năm lịch sử, Việt Nam đã sử dụng chữ Hán và chữ Nôm (bắt đầu xuất hiện sớm nhất là vào thời Nhà Lý, tức khoảng thế kỷ thứ 11 về sau, theo Bách Khoa Từ Điển Mở) làm quốc âm. Như thế cũng có nghĩa là các di sản văn hóa và văn học Việt Nam trong suốt mấy ngàn năm này đều nằm trong chữ Hán và/hay chữ Nôm. Nhưng có một thực tế đã và đang diễn ra là các thế hệ người Việt càng về sau này càng ít hay không biết đọc và viết chữ Hán hay chữ Nôm. Từ đó, chúng ta thấy có một nguy cơ là nếu không dịch hay phiên âm các di sản văn hóa và văn học cổ này sang chữ quốc ngữ thì người sau sẽ không còn biết đến dòng lịch sử văn hóa và văn học mấy ngàn năm trước của tổ tiên nước Việt.

Giáo Sư Nguyễn Văn Sâm là một trong số hiếm hoi các học giả có thẩm quyền về chữ Hán-Nôm của Việt Nam trong và ngoài nước hiện nay đã nỗ lực không ngừng để chạy đua với tuổi già sức yếu mà hoản thành việc phiên âm sang chữ quốc ngữ nhiều tác phẩm văn học chữ Nôm. Nhân tiện chúng tôi xin giới thiệu sơ lược về Giáo Sư Nguyễn Văn Sâm để độc giả am tường vị giáo sư dày công trong việc phiên dịch sang chữ quốc ngữ các tác phẩm văn học chữ Nôm.

Theo trang  mạng của Viện Việt Học, có trụ sở tại Nam California, Giáo sư Nguyễn Văn Sâm sanh tại Sài gòn, năm 1940. Từng dạy ở trường Nguyễn Đình Chiểu, Mỹ Tho, Pétrus Ký, Đại Học Văn Khoa (Sài gòn) và các trường Đại Học Vạn Hạnh, Cao Đài, Hoà Hảo, Cần Thơ.

Ông sang Mỹ từ năm 1979, vẫn sống bằng nghề dạy học. Ông đã Viết cho Văn, Văn Học và các tạp chí Việt ngữ của người Việt. Trước 1975 ông chuyên viết về biên khảo văn học. Ông là thành viên Ban Biên Tập Tự Điển Chữ Nôm Trích Dẫn và cũng là Trưởng ban Văn chương, Viện Việt-Học. Ông hiện cư ngụ tại California, Hoa Kỳ.

Theo nhà văn, nhà báo Phan Tấn Hải trong bài viết “GS Nguyễn Văn Sâm Sinh Nhật 81: Thêm Nhiều Tác Phẩm Đang Viết,” trên trang mạng Việt Báo.com, thì các tác phẩm của Giáo Sư Nguyễn Văn Sâm gồm có như sau:

TRƯỚC 1975:

1. Văn Chương Tranh Đấu Miền Nam (Kỷ Nguyên, Sàigòn, 1969),

2. Văn học Nam Hà (Lửa Thiêng, Sàigòn, 1972, 1974),

3. Văn Chương Nam Bộ và Cuộc Kháng Pháp 1945-1954 (Lửa Thiêng, Sàigòn, 1972, Xuân Thu, CA, 1988).

SAU 1975:

A. Sáng tác:

1. Miền Thượng Uyển Xưa, tập truyện (Bách Việt, CA 1983, in chung với Đặng Phùng Quân),

2. Câu Hò Vân Tiên, tập truyện (Gió Việt, TX, 1984),

3. Ngày Tháng Bồng Bềnh, tập truyện (Gió Việt, TX, 1987),

4. Khói Sóng Trên Sông, tập truyện (Văn, CA, 2000),

5. Quê Hương Vụn Vỡ, tập truyện (Viện Việt Học, CA, 2012),

6. Giọt Nước Nghiêng Mình, tập truyện (Viện Việt Học, CA, 2018),

7. Ước Vọng Bay Tan, kịch thơ (Tiếng Quê Hương, Virginia, 2016).

B. Phiên âm từ sách Nôm:

1. Trương Ngáo (Viện Việt Học, 2008),

2. Tội Vợ Vợ Chịu (Viện Việt Học, 2010),

3. Người Hùng Bình Định (Viện Việt Học, 2012),

4. Mà Lòng Tôi Thương (Viện Việt Học, 2013),

5. Tỉnh Mê Một Cõi (Viện Việt Học 2015),

6. Báo Ứng Nhân Quả (Gió Việt, 2016).

C. Chú giải sách xưa:

1. Kể Chuyện Tình Buồn (Chú giải “U Tình Lục” của Hồ Văn Trung, 2014),

2. Chuyện Đời Xưa (Chú giải “Chuyện Đời Xưa” của Trương Vĩnh Ký (Ananda Viet Foundation, 2017).

Xin trân trọng cảm ơn Giáo Sư Nguyễn Văn Sâm và kính giới thiệu đến quý độc giả truyện Nôm “Quan Âm Tế Độ Diễn Nghĩa Ca” do Giáo Sư Nguyễn Văn Sâm phiên âm sang chữ quốc ngữ.

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Chúng tôi chào đời vào buổi không mấy vui. Cái vui chưa đúng là vui, không đáng nhớ. Cái buồn đi lố cái gọi là buồn, phải kèm thêm từ “thảm”. Trốn đi đâu cũng chẳng thể ra ngoái nỗi nhớ. Cuộc đời thì dài dặc, niềm vui biến đâu mất tiêu. Cứ nghe cha đêm khuya thở dài. Mẹ ru con toàn nỗi nhớ // Chiều chiều ra đứng ngõ sau / nhớ về quê mẹ ruột đau chín chiều // Nhớ ai không nhớ, nhớ người thất thế sa cơ // Chiều chiều én liệng truông mây / cảm thương chú Lía bị vây trong thành //
Chúng ta đều rõ là Âu, Mỹ đón Tết Dương Lịch mỗi năm vào ngày 01.01. Hằng năm, người Á Châu nói chung và người Việt Nam nói riêng đều đón Tết theo Âm Lịch. Như vậy người Á Chân có dịp mừng Năm Mới đến hai lần.
LTS: Trải dài suốt mấy thế hệ, từ thời kháng chiến chống Pháp, cuộc chiến hai mươi năm, và rồi tha hương, tên tuổi Phạm Duy luôn luôn gắn bó với tình tự dân tộc, là một huyền thoại trong khu làng âm nhạc, văn nghệ Việt Nam. Hiếm ai trong chúng ta không cảm thấy lòng dạt dào yêu quê Mẹ Việt Nam hơn khi nghe nhạc và ca từ của Ông. Cả một cuộc đời dài sáng tác, Ông đã để lại cho đời sau một gia sản tinh thần khổng lồ với “ngàn lời ca” mà có lẽ trước và sau Ông khó ai bì kịp. Đúng ngày này 10 năm trước, ngày 27 tháng 1 năm 2013, người nhạc sĩ nổi trôi cùng mệnh nước 93 năm đã kết thúc cuộc hành trình “trên đường về nơi cõi hết”. Nhân ngày giỗ Ông năm thứ 10, Việt Báo hân hạnh đăng tải dưới đây loạt bài của nhà văn Cung Tích Biền. Loạt bài gồm 4 phần, mỗi phần là cái nhìn ở mỗi chặng đường soi giọi bước chân của người nhạc sĩ.
mưa bụi lướt về trong mơ ướt sũng một thời trí nhớ thì thầm cổ tích như thơ bay vào trong con giấc ngủ mẹ ru con lời dịu dàng nguyện cho mưa về tốt lúa nguyện cho khắp cõi bình an nguyện người người xa nhà lửa
Sinh thời, Hemingway, tác giả của “Ngư ông và biển cả” vào bất cứ lúc nào cũng có nuôi chừng vài chục con mèo. Ngôi nhà của ông ở Key West, Florida, trở thành viện bảo tàng có khoảng 40 cho đến 50 con mèo sáu ngón (polydactyl cat). Tất cả đều được đặt tên của những nhân vật nổi tiếng. Đám mèo sáu ngón này là hậu duệ của con mèo Snow White do một vị thuyền trưởng tặng cho Hemingway.
... Nếu thế thì mỗi bài thơ là một sự cách tân, mỗi thi sĩ là một người làm mới sự vật. Có những điều chỉ ngôn ngữ thi ca mới nói được, chỉ thi ca mới có cái “thần” giúp chúng ta thấu thị tận đáy sâu của bản ngã. Người làm thơ là người nắm trong tay quyền năng “soi sáng” sự vật, quyền năng cho sự vật một đời sống mới, quyền năng “đi vào linh hồn của sự vật[1],” và không ai có thể tước đoạt quyền năng đó từ tay hắn...
Ngày nay nhân loại có quá nhiều thú vui không kể xiết. Người ta tìm kiếm, ngụp lặn trong thú vui và cho đó là hạnh phúc. Nhưng này bạn ơi, Thú vui không phải là hạnh phúc, Mà nhiều khi nó là nguồn gốc của khổ đau. Niềm vui lớn nhất của nhân loại ngày hôm nay.
Cuộc Thi Viết Văn Ứng Dụng Phật Pháp 2022 là một sự kiện hy hữu. Đây là giải thi viết đầu tiên ở hải ngoại để mời gọi viết bài hoằng pháp. Cũng là những hy sinh rất lớn của Ni Sư Thích Nữ Giới Hương, Trưởng Ban Tổ Chức Cuộc Thi, một công trình rất nặng nhọc và rất tốn nhiều thì giờ. Điểm hy hữu là: Chùa Hương Sen được thành lập ở thị trấn Perris, California, từ tháng 4/2010, vậy mà 12 năm qua chưa xây xong chánh điện vì nhiều lý do, bây giờ đã tổ chức được một cuộc thi viết văn gây nhiều tiếng vang toàn cầu. Ngay cả khi chánh điện bằng gạch cát xi măng chưa xây xong, một chánh điện bằng chữ đã hình thành trong tâm của nhiều ngàn người quan sát Cuộc thi này trong hội trường và trên livestream. Không chỉ như thế, hy hữu là rất nhiều bài viết gửi về dự thi đều hay tuyệt vời, nêu lên được những trải nghiệm gian nan và hạnh phúc của người con Phật.
Tôi biết BS. Phạm Gia Cổn lúc tôi vừa tập tễnh bước vào đời lính, nhận trách nhiệm làm y sĩ trưởng cho Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù, cùng một tiểu đoàn mà BS. Cổn vốn là y sĩ tiền nhiệm 2 năm trước. Tôi lội bộ theo TĐ, Anh làm chỉ huy trưởng Bệnh Viện Dã Chiến Đỗ Vinh tại căn cứ Non Nước, Đà Nẵng. Thỉnh thoảng chúng tôi gặp nhau ở BV Dã Chiến khi tôi theo trực thăng chuyển thương binh. Tôi nhìn thấy anh cao lớn, rất phong độ, uy dũng, với 3 bông mai đen ở cổ áo hoa rừng và dấu hiệu 3 đấm tay của Đệ Tam Đẳng Huyền Đai Tae Kwon Do ở túi áo trước ngực bên trái. Nhìn vào Anh, tôi có cảm giác như một tảng đá mạnh bạo, có tinh chất võ biền mà mình có thể dựa lưng khi cần. Dù hình tướng có vẻ rất quân kỷ, nhưng thái độ anh lại hòa nhã, ăn nói nhẹ nhàng, cởi mở nhưng trực tính. Anh đã cho tôi sự tự tin và niềm vui trong tình huynh đệ. Về sau, tôi cũng biết tin anh được đề cử làm Y Sĩ Trưởng Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù trong trận bảo vệ phòng truyến Phan Rang vào đầu tháng 4, 1975.
Hầu như mỗi cuối tuần, cô ấy và tôi đều đi đâu đó bằng tàu điện hoặc xe buýt. Ở Ukraine, có thể đi xa trong cuối tuần và trở về đúng thời hạn. Chỉ một lần chúng tôi về trễ, đi làm muộn hôm thứ hai. Đó là ngày chúng tôi đón xe đi nhờ từ Milove, vùng Luhansk, vào tháng Giêng. Đây là nơi cực điểm miền đông của đất nước. Đi đến bằng xe buýt, lúc quay về, chúng tôi cầm tay nhau đi bộ dọc con đường phủ đầy tuyết. Thuở đó chúng tôi say mê nhau. Những anh chàng ở nhà bốn cửa kiểu Liên Xô cho chúng tôi đi nhờ, không có vấn đề, ngoại trừ mỗi lần họ chỉ chở chúng tôi vài kilô mét, rồi thả xuống để rẽ vào làng của họ. Nhìn ánh sáng xanh ngát buổi hoàng hôn, chúng tôi rùng mình và cảm thấy hạnh phúc.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.