Hôm nay,  

Đọc lại các nhà thơ Ukraine: sống và chết dưới thời Xô viết đàn áp

11/03/202200:00:00(Xem: 2658)

  

Nhìn vào các con số. Vào khởi đầu thập niên 1930s, có 259 nhà văn xuất bản sách trong Liên Bang Xô Viết. Vào cuối thập niên 1930s – chỉ còn 36. Như thế nào 80% các nhà văn đã biến mất? Có 17 người bị bắn, 8 người tự sát, 7 người chết vì lý do tự nhiên, và 175 người bị bắt và giam trong các trại. Và 16 người mất tích.

Những con số này cho một ý tưởng về thái độ Liên Bang Xô Viết đối với giới ưu tú văn hóa Ukraine, một thái độ đã áp đặt một kiểu im lặng văn hóa trong nhiều thập niên. Trong thập niên 1960s, một thế hệ mới, trẻ hơn xuất hiện và mang vào khu vực này một thời kỳ nghệ thuật chói sáng mới. Nhưng nó cũng sớm lụi tàn: nhà thơ Vasyl Symonenko bị đánh tới chết, họa sĩ Alla Horska và nhà soạn nhạc Volodymyr Ivasiuk chết trong các hoàn cảnh kỳ lạ, và nhiều người khác bị đẩy vào nhà tù, ép vào các bệnh viện tâm thần, và bị cấm xuất bản.

Chế độ Xô Viết khởi dậy cuộc chiến chính trị nhắm vào các khuôn mặt văn học Ukraine trong thập niên 1920s và kéo dài tới cuối thập niên 1980s, ngay trước khi Liên Bang Xô Viết sụp đổ. Vài năm sau đó, Putin, người đã tuyên bố rằng, “Cái chết của Liên Bang Xô Viết là thảm họa địa chính trị lớn nhất của thế kỷ,” và tìm cách để “gỡ ngược lỗi lầm này,” khởi đầu bằng cuộc tấn công của Nga vào Ukraine.

Nhớ như thế, bây giờ là lúc nên đọc lại lịch sử về giới ưu tú văn hóa Ukraine, những người sống và chết dưới một chế độ mà Putin rất mực hài lòng: đặc biệt, chuyện về các nhà thơ Vasyl Stus, Yevhen Pluzhnyk, Volodymyr Svidzinsky, và Pavlo Tychyna.

 

*

 

Vasyl Stus

Chết năm 1985 trong trại tù VS-389/36-1 ở miền trung tây Nga.

z-0-1-STUS
Từ trái: hình Vasyl Stus do KGB chụp năm 1980, tượng đài vinh danh Vasyl Stus

 

Vasyl Stus đã sống thời thơ ấu và thiếu niên tại Donetsk, nơi bây giờ là trung tâm của cái gọi là “Cộng Hòa Nhân Dân Donetsk,” một thành phố bị tuyên truyền của người Nga gọi là Nga trong nhiều năm. Tuyên truyền đó nói rằng thành phố đó không có chút gì gọi là văn hóa Ukraine.
 
Vào ngày 4/9/1965, cuốn phim biểu tượng The Shadows of the Forgotten Ancestors (Bóng Tối của Các Tổ Tiên bị Bỏ Quên) chiếu ra mắt ở rạp hát Ukraine tại Kyiv. Tại sự kiện này, nhà thơ Stus cùng với một số người khác, những người rồi sẽ được gọi là bất đồng chính kiến, kêu gọi lên án những cuộc đàn áp chính trị tập thể trong Liên Bang Xô Viết và các vụ bắt bớ những khuôn mặt văn hóa Ukraine. Anh cũng là một trong những người đầu tiên trong Lien Xô ủng hộ “Đoàn Kết,” một phong trào do công đoàn Ba Lan hình thành để chống Chủ nghĩa Cộng sản, gọi họ là “thiện nguyên viên vì tự do.” Stus bị trục xuất ra khỏi viện Pedagogical Institute (Học Viện Sư Phạm) tại Stalino (bây giờ là Donetsk) nơi anh nghiên cứu văn học và lịch sử.

Năm 1972, cuốn sách Cheerful Cemetery (Nghĩa Trang Vui Mừng) của Stus, mà một nhà phê bình Xô viết gọi là một ngọn hải đăng nghệ thuật ngay cả khi ông chỉ trích sách này như là một cuộc bôi nhọ, đã trở thành một phần trong tiến trình tòa án xét xử, khi nhà thơ lần đầu bị bắt. Anh sẽ tiếp tục bị giam nhiều lần trong các trại Xô Viết, nơi anh bị ngăn cấm gặp vợ và người con trai nhỏ; dù vậy, không gì làm anh lùi trong cuộc chiến vì quyền của anh, quyền của người khác, và nhân quyền nói chung. Nhà thơ đã viết Letters to Son (Những Lá Thư Gửi Con Trai) và các tác phẩm khác trong khi không bao giờ tự mình mùi bước. Trong các lá thư này, anh dạy con trai anh hãy sống can đảm và vinh dự, nhưng không thể nói những lời này trực tiếp với con. Những lá thư này dịu dàng, nồng ấm và minh họa với các kinh nghiệm cá nhân. Khi chúng được xuất bản như một cuốn sách --- nhiều năm sau, khi đất nước độc lập --- chúng trở thành một khuôn mẫu giáo dục cho một người chính trực.

Một trong những chuyện kể kỳ bí nhất trong văn học Ukraine là lịch sử của The Soul Bird (Cánh Chim Tâm Linh), một tuyển tập thơ viết bởi Stus trước khi anh từ trần. Sách này, mà Stus nhắc tới trong các lá thư năm 1983, chứa đựng 40 bài thơ. Bản thảo bị tịch thu ngay sau khi nhà thơ từ trần trong trại --- nó có lẽ là đã bị tiêu hủy, nhưng có thể vẫn còn nằm trong văn khố KGB ở Moscow.

Sẽ nhận ra cùng lúc sự phi lý và cảm hứng khi đọc các phê phán Xô viết trong thơ của Stus. Nhà phê bình Xô viết A. Kaspruk, nhận ra đặc điểm về cái mà ông gọi là “suy thoái ý thức hệ” trong sách Winter Trees của Stus, viết, “Tinh thần của một người thích nghi chỉ có thể đọc sách này là với sự ghê tởm và khinh bỉ  đối với tên thi sĩ đã bôi nhọ đất nước và dân tộc của hắn trong kiểu như thế này.”

Vasyl Stus chết năm 1985 trong trại VS-389/36-1 ở Perm, Nga. Hoàn cảnh về cái chết của anh không rõ ràng, như thường xảy ra với các văn nghệ sĩ Ukraine bị bắt trong Liên Xô.
.
“Hãy cho em biết, Modigliani là một gã khờ?”
nàng đã hỏi tôi
trong khi tôi nghịch với các ngón tay tôi như dương cầm thủ khéo léo
trên bộ ngực rám nắng của nàng.
“Hắn là cùng một gã khờ như mọi người khác trong cõi này,”
tôi giảng cho nàng trong khi ôm
cái va chạm lặng lẽ của bộ mông của nàng.
“Anh biết thế đấy, em thường nghĩ
về cái kỳ lạ của nghệ thuật.
Đó là cái xa hoa dư thừa.”
“Vâng, nghệ thuật luôn luôn là dư thừa,”
tôi trả lời, hôn hai đầu gối của nàng.
“Nhưng dư thừa chỉ cứu chúng ta khỏi khó nghèo.
Chỉ có một thứ để lại cho cõi người:
ít nhất là dư thừa một chút ---
trong đức tin,
trong thói quen,
trong khẩu vị,
một cách đơn giản --- với thèm muốn.”
“Vâng, em tuyệt vời của anh.
Một cách chính xác.
Như luôn luôn, em nói chính xác,”
Tôi lập lại,
trong khi nghiến răng đam mê.
“Như thế khi chúng ta có một bé gái,
chúng ta sẽ chỉ đặt hoa hồng
nơi đầu giường của bé,”
nàng nói giọng khàn.
“Vâng. Nơi đầu giường,
và chắc chắn là với
hoa hồng,” tôi khiêm tốn đồng ý
với giọng nói rất lạ.
“Con ruồi làm phiền quá kìa ---
cứ vo ve và vo ve kìa.
Anh thương, giết nó đi kìa.”
 
*
 
Yevhen Pluzhnyk

Chết năm 1936 trong trại tập trung Solovky ở phía tây bắc Nga.

z-0-2-Yevhen-Pluzhnyk
Yevhen Pluzhnyk và nơi nhà thơ cư ngụ 1923-1934.
 
Vào năm 1937 tại Sandarmokh, một ngôi mồ tập thể ở phía bắc nước Nga, nhiều văn nghệ sĩ Ukraine bị xử tử: Mykola Kulish, một nhà soạn kịch hàng đầu trong thời đại của ông, giám đốc sân khấu Les Kurbas, tiểu thuyết gia tài năng Valerian Pidmohylnyi, và Mykola Zerov, một trí thức tinh hoa. Tất cả họ đều trong lứa tuổi bốn mươi. Trong khi đó, nhà thơ Yevhen Pluzhnyk bị giam trong các trại tàn bạo của chế độ, nơi ông sẽ chết trong vòng một năm vì lao phổi.

Pluzhnyk không hề viết các bản văn chính trị, và không đặc biệt nổi tiếng. Tuy nhiên, ông bị gọi là một kẻ khủng bố trong thời đại khủng bố của Stalin. Đó là một thời đại, khi các nhà thơ, các họa sĩ và những người biên soạn tự điển bị chế độ gọi là những tên  khủng bố, cùng với những người phần lớn không bận tâm chính trị, nhằm gán chính nghĩa cho hành vi của họ về tra tấn, tống giam và xử tử.

Vào một thời, khi các nhà văn khác ném những lời kết án vang dội vào Lenin, Stalin và những người cộng sản, Pluzhnyk đã chọn cách nói tới sự im lặng, lập đi lập lại các chữ “hãy giữ lặng lẽ,” “sự vắng lặng,” và “hãy tịch lặng.” Ngay cả khi các xe rồ máy, các xe đầu kéo gầm gừ, và các đường ống của các nhà máy điện rầm vang, ông nài nỉ xin im lặng: “Ô, bạn tôi ơi! / Tôi mất sức mạnh cuối cùng củ tôi rồi, / Sống trong một đất nước tưởng tượng, / Nơi hình ảnh của em đã mất, nơi hình ảnh của em ngọt ngào, / Nơi giọng nói của em… Hãy tịch lặng! Hãy tịch lặng! Hãy tịch lặng!”  

Pluzhnyk nói ngắn gọn và lặng lẽ. Ông nuốt chữ: nhiều bài thơ của ông có một đoạn kết bị đứt khúc. Ông không la hét, không đòi hỏi hay kinh hoàng. Ông chỉ hiện diện --- nơi mép lề của nhà in và của sự chú ý xã hội. Và đó là tội của ông: ông đã không dùng tài năng để ca tụng các lãnh tụ, để hát những tụng ca cho đảng cộng sản, để yêu thương thế giới Xô Viết mới và tuyên dương nó trong từng chữ một. Vì thế, ông bị bịt miệng vĩnh viễn.
 
Đã gặp một viên đạn trong thung lũng.
Đó là nơi tôi gieo hạt lúa mạch!

Ô thương ơi, thê thảm vậy kìa
Tôi đã sống xuyên qua quá nhiều thời gian!
.
Cụ bà khóc cả giờ đồng hồ.
Xuyên be sườn là một lỗ màu xám nâu
Vâng, dĩ nhiên --- nhan sắc và quyền lực
.
Đoàn xe tang đi qua!
 
*
 
Pavlo Tychyna

Chết vì lý do tự nhiên vào năm 1967 ở Kyiv

z-0-3-Pavlo-Tychyna-va-noi-an-nghi-vinh-hang___
Pavlo Tychyna và nơi an nghỉ vĩnh hằng ở Kyiv.
 
Pavlo Tychyna, thường được gọi là một trong các nhà thơ Ukraine quan trọng nhất trong thế kỷ 20, là một khuôn mặt gây tranh cãi vì quan hệ của ông trong chế độ Xô Viết. Khỏi đầu tư thập niên 1920s, ông đã viết chỉ để ủng hộ chế độ và rồi trở thành Chủ tịch Xô Viết Tối Cao của Cộng Hòa Xã Hội Xô Viết Ukraine, trong chính phủ Xô Viết Ukraine.

Khi còn thơ ấu, Tychyna đã hát trong dàn đồng ca của một tu viện. Ông dạy nhạc cho người khác. Ông từng gợi nhớ lại nỗi huy hoàng ông cảm thất trong khi trình diễn với một dàn đồng ca trong Chernihiv, một thành phố mà lính Nga bây giờ đang chiếm đóng trong khi dân địa phương và Quân Lực Ukraine đang anh hùng chống lại họ. Có một âm vang đặc biệt trong các phòng triển lãm và các nhà thờ bí mật, một âm vang cho một ý nghĩa của nhiều ngàn năm lịch sử, như dường vang vọng mọi thứ từng hiện hữu trước chúng ta và sẽ hiện hữu mãi.

Vào lứa tuổi hai mươi, Tychyna xuất bản vài tuyển tập thơ và hiển lộ cho một tương lai ưu thắng. Dù vậy, từ nửa sau của thập niên 1920s trở đi, độc giả không hiểu những gì xảy ra cho ông: những gì ông viết như dường của người khác. Các dòng thơ của ông ngợi ca các nhà độc tài gây kinh ngạc với sự thô kệch của chúng --- thiếu vắng tính nhân đạo, chúng kêu gọi bạo lực và nghèo nàn về mỹ học. Khi bạn nhận ra một Tychyna tuổi trẻ trong vài dòng thơ về Lenin và Stalin, bạn cảm thấy bối rối. Rõ ràng rằng, dưới áp lực chính trị, Tychyna nhượng bộ cho sức co cụm cơ bản để tự bảo vệ mạng sống không bị nghiền nát. Một vài bạn của Tychyna, bị bắt trong thời kỳ này, đã quyết định tự sát để khỏi bị tra tấn --- những người khác bị bắn trong các căn hầm thành phố, hay bị đẩy vào trại tập trung.

Vasyl Stus đã viết, “Hiện tượng Tychyna là một hiện tượng của kỷ nguyên đó. Cuộc đời ông sẽ chứng thực về thời đại của chúng ta, không kém hơn những bài viết kinh hoàng của các sử gia. Nhà thơ đã sống trong một thời đại nơi  đã biến một thiên tài thành một thằng hề.”

Hệ thống bạo lực chính trị kiểu Nga có nghĩa là bẻ gãy một nhân cách. Khi một nhân cách bị bẻ gãy, ý tưởng về chủ nghĩa nhân đạo cũng bị tổn thương.
.
KHỦNG BỐ

Một lần nữa chúng ta nhận lấy Kinh Thánh, các triết gia, và các nhà thơ. Một người đã nói: “Ngươi chớ giết người!” – vào buổi sáng, được tìm thấy một phát đạn xuyên sọ. Và nơi bãi rác, lũ chó giành nhau ăn xác.
Hãy ngủ, đừng thức dậy, mẹ ơi!
Một ý tưởng cao thượng cần tới phẩm vật hiến tế. Nhưng có phải là một hiến tế
khi dã thú ăn thịt dã thú?
--- đừng thức dậy, mẹ ơi…
Cái đẹp mỹ học dã man! --- khi nào bạn sẽ ngừng ngưỡng mộ
những cái cổ họng bị dao xẻ dọc?
Dã thú ăn thịt dã thú.
.
ĐOẢN CA CHỮ NGƯỢC

Các phi cơ và tất cả kỹ thuật mới nhất ---
hữu dụng thế nào, khi người ta không nhìn
thẳng vào mắt nhau?
Đừng ném những kẻ giận dữ vào tù, họ là chính
nhà tù của họ.
Các đại học, các bảo tàng viện và các thư viện không có thể cho ra những gì có thể tìm
trong
những đôi mắt
nâu,
xám
hay xanh…

--- Virlana Tkacz và Wanda Phipps dịch từ tiếng Ukraine ra tiếng Anh
 
*
 
Volodymyr Svidzinskyi

Bị giết năm 1941: xác thiêu trong một nhà kho nông trại vùng Kharkiv, phía đông Ukraine

z-0-4-Volodymyr-Svidzinskyi_Tranh--Anna-Sarvira
Volodymyr Svidzinskyi (1885-1941) và tranh của Anna Sarvira.
 
Volodymyr Svidzinskyi trong thế hệ các nhà thơ Ukraine thế kỷ 20, những người không có nấm mồ --- chuyện về đời ông rất thường được kể từ đoạn kết. Ông bị những người Xô Viết bắt và tố giác là “kích động chống Xô Viết” vào tháng 10/1941, khi quân Đức tiến tới gần Kharkiv, một thành phố nơi dân chúng đang trú ẩn dưới các trận bom của Không quân Nga. Cùng các tù nhân khác, ông bị NKVD (công an chìm Xô Viết) chở tới vùng đồng trống chung quanh Kharkiv. Nhóm tù nhân này bị khóa vào trong một nhà kho nông trại, và bị thiêu chết nơi đây.

Svidzinsky không đặc biệt nổi tiếng với các độc giả Xô Viết. Các sách của ông được vài bài điểm sách mờ nhạt: nhà phê bình Xô Viết Ivan Dniprovskyi viết rằng Svidzinsky vô dụng cho chế độ, viết, “Giai cấp công nhân không cần các sách kiểu này” và “một giọng thơ nông dân của nhà thơ chủ nghĩa cá nhân không cho ra được bất cứ cái gì với đám đông lao động.”

Các nhà văn “giai cấp công nhân” sẽ cố ý đơn giản hóa ngôn ngữ của họ cho dễ hiểu và minh bạch cho mọi người; thay vậy, Svidzinskyi đã lặn sâu vào đại dương ngôn ngữ Ukraine. Svidzinskyi khám phá nhiều phương ngữ độc đáo và dùng chúng để làm phong phú thêm ngôn ngữ Ukraine. Mặc dù thơ tới với độc giả Ukraine quá trễ, ngay cả trong thập niên 1990s, nó đã tạo ra một ấn tượng tươi mới.

Các nhà thơ của thời kỳ đó thường được định hình bởi các sự kiện trong thời của họ; trong khi đó, Svidzinskyi sống tách ra ngoài thời đại của ông, dịch thuật các cổ thư Hy Lạp và các hài kịch của Aristophanes (448-380 BC). Ông đã cười vui trong một thời đại không có gì tức cười. Ông sống trong thế giới này một cách ngây thơ. Thái độ dè dặt của ông và kiểu “di cư vào nội tâm” --- một khái niệm phát triển bởi nhà văn Đức Frank Thiess để mô tả những người chệch hướng ra ngoài nền văn hóa bản địa của người cầm bút --- bị chính quyền Xô Viết xem như một tội hình sự. Vì thế, họ đã xử tử Svidzinskyi.
.
KINH HOÀNG

Kinh hoàng --- Tôi từng là một con thú.
Kinh hoàng --- con cháu tôi sẽ nói, tôi đã từng là một con người.

--- Do Virlana Tkacz và Wanda Phipps dịch từ tiếng Ukraine qua tiếng Anh
.
QUẢ LẮC MỆT MỎI…

Quả lắc đã mỏi.
Ngày, đêm,
Mùa hè, mùa đông ---
Lắc, hãy lắc nỗi niềm câm lặng!
Quả lắc khò khè như người bị thương.
.
Nhưng vì sao tôi không nghe những tiếng rên đau đớn
Khi mối tình tôi tới bên tôi
Có những lúc nàng sẽ nằm xuống
Và rồi tôi sẽ đọc truyện cho nàng nghe.
.
Ngày, đêm
Mùa hè, mùa đông,
Những cuốn sách chúng ta đọc đã vàng úa,
Các góc sách ám đen mốc meo
Con nhện giăng lưới trùm lên các thứ cũ kỹ này ---
Nhưng không thể.
.
Ngày, đêm ---
Đếm từng khoảnh khắc.
Quả lắc giọng khàn thêm.

--- Do Virlana Tkacz và Wanda Phipps dịch từ tiếng Ukraine qua tiếng Anh
 
*
Năm 2010, Putin tuyên bố, “Không ân hận về sự sụp đổ của Liên Xô là không có trái tim. Muốn hồi phục lại Liên Xô là không có trí tuệ.”
Trong phần thứ nhì của câu vừa dẫn, Putin nói đúng. Bây giờ Putin đang tấn công 40 triệu người “không có trái tim.” Những người này biết giá của tự do. Họ ghi nhớ tới cuộc đời và tác phẩm của các nhà thơ. Trái tim của dân tộc Ukraine nồng cháy, và cái đầu thì lạnh.
Cuộc chiến của họ đang tiếp diễn.
 
________________________
 
Xin gửi lời cảm ơn tới Bohdana Neborak và Kate Tsurkan đã giúp biên tập và quản lý, và tới Virlana Tkacz và Wanda Phipps về các bản dịch thơ của Tychyna và Svidzinsky.
.
Myroslav Laiuk

Sinh ra và lớn lên trong một ngôi làng nhỏ miền Tây Ukraine, Myroslav Laiuk là tác giả ba tuyển tập thơ, hai tiểu thuyết, và một sách thiếu nhi sắp ấn hành. Ông thắng các giải thưởng văn học Smoloskyp Literary Award (Ukraine), the Kovaliv Fund Award (USA), the Oles Honchar Prize (Germany and Ukraine), và the Litakcent Literary Award (Ukraine). Tiểu thuyết đầu tiên của ông là cuốn Babornia vào chung kết giải 2016 BBC Book of the Year Award tại Ukraine. Tác phẩm Myroslav được dịch ra 11 ngô ngữ, và thơ của ông được phổ nhạc bởi hai ban nhạc nổi tiếng quốc tế có bản doanh ở Kyiv: Dakh Daughters và Oy Sound System. Ông có bằng Tiến Sĩ về Nghiên Cứu Văn Học tại Kyiv-Mohyla Academy ở Kyiv, nơi ông bây giờ giảng dạy. Năm 2018, Myroslav được vinh danh như một trong các lãnh đạo trẻ sáng tạo nhất tại Ukraine trong chương trình giải thưởng The Kyiv Post’s Top Thirty Under Thirty.
GHI CHÚ:
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Westminster, CA – Học Khu Westminster hân hoan tổ chức mừng lễ tốt nghiệp của các học sinh đầu tiên trong chương trình Song Ngữ Tiếng Việt (VDLI) tiên phong của học khu. Đây là khóa học sinh đầu tiên ra trường và các em sẽ được ghi nhận tại buổi lễ tốt nghiệp đặc biệt được tổ chức vào thứ Ba, ngày 28 tháng Năm, lúc 6:00 giờ chiều tại phòng Gymnasium của Trường Trung Cấp Warner (14171 Newland St, Westminster, CA 92683).
Tháng Năm là tháng vinh danh những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho đất nước Hoa Kỳ mà trong đó tất nhiên có người Mỹ gốc Việt. Những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho Hoa Kỳ bao gồm rất nhiều lãnh vực, từ kinh tế, chính trị đến văn học nghệ thuật, v.v… Nhưng nơi đây chỉ xin đề cập một cách khái quát những đóng góp trong lãnh vực văn học của người Mỹ gốc Việt. Bài viết này cũng tự giới hạn phạm vi chỉ để nói đến các tác phẩm văn học viết bằng tiếng Anh của người Mỹ gốc Việt như là những đóng góp nổi bật vào dòng chính văn học của nước Mỹ. Điều này không hề là sự phủ nhận đối với những đóng góp không kém phần quan trọng trong lãnh vực văn học của Hoa Kỳ qua hàng trăm tác phẩm văn học được viết bằng tiếng Việt trong suốt gần năm mươi năm qua.
Vì hình ảnh ảm đạm, buồn sầu, như tiếng kêu đòi tắt nghẹn. Tôi, tác giả, đi giữa lòng thủ đô Hà Nội mà không thấy gì cả, không thấy phố không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ. Cờ đỏ là quốc kỳ. Mưa sa làm cho những lá quốc kỳ sũng nước, bèo nhèo, nhếch nhác, úng rữa. Một hình ảnh thảm hại. Hình ảnh thảm hại là dự phóng cho tương lai thảm hại. Và thất bại. Lạ một điều, người ta chỉ trích dẫn năm dòng thơ này, tổng cộng 14 chữ, mà không ai trích dẫn cả bài thơ, và hẳn là hơn 90% những người biết năm dòng này thì không từng biết, chưa bao giờ đọc, cả bài thơ, và tin rằng đó là những lời tâm huyết của nhà thơ Trần Dần nói về thời cuộc mà ông nhận thức được vào thời điểm 1955.
Viet Book Fest cho thấy thế hệ trẻ gốc Việt nay đã vượt qua được những ràng buộc cơm áo gạo tiền của thế hệ đi trước, để cộng đồng Việt nay có thể vươn lên với giấc mơ văn học nghệ thuật trên đất nước Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ.
Hư vỡ là đặc tính bất biến của cuộc đời, của tất cả những gì có mặt trong vũ trụ này. Nghĩa là những gì hợp lại, thì sẽ tan; những gì sinh ra, rồi sẽ biến mất. Không có gì kiên cố, bất biến trên đời. Đức Phật đã chỉ ra sự thật đó, và biến những thái độ sống không vui thành sự kham nhẫn mỹ học: cái đẹp chính là vô thường. Bởi vì vô thường, nên có hoa mùa xuân nở, có những dòng suối chảy từ tuyết tan mùa hè, có những trận lá mùa thu lìa cành, và có những trận mưa tuyết mùa đông vương vào gót giày. Bởi vì sống hoan hỷ với hư vỡ là tự hoàn thiện chính mình, hòa hài làm bạn với hư vỡ là sống với sự thật, và cảm nhận toàn thân tâm trong hư vỡ từng khoảnh khắc là hòa lẫn vào cái đẹp của vũ trụ. Và sống với chân, thiện, mỹ như thế tất nhiên sẽ đón nhận được cái chết bình an.
Mỗi 30 tháng 4 là mỗi năm xa hơn ngày đó, 1975, thêm một bước nữa xa hơn, đi vào dĩ vãng. Hầu hết những người trực tiếp tham gia vào cuộc chiến trước 75, nay đã vắng mặt. Non nửa thế kỷ rồi còn gì. Khi không còn ai nữa, không hiểu những thế hệ trẻ tha hương sẽ nhớ gì? Một thoáng hơi cay? Có khi nào bạn đọc ngồi một mình chợt hát lên bài quốc ca, rồi đứng dậy, nghiêm chỉnh chào bức tường, thằng cháu nhỏ thấy được, cười hí hí. Ông ngoại mát rồi. Trí tưởng tượng của người thật kỳ diệu. Rượu cũng kỳ diệu không kém. Nửa chai vơi đi, lơ mơ chiến sĩ trở về thời đó. Lạ lùng thay, quá khứ dù kinh hoàng, khốn khổ cách mấy, khi nhớ lại, có gì đó đã đổi thay, dường như một cảm giác đẹp phủ lên như tấm màn mỏng, che phía sau một thiếu phụ trẻ đang khóc chồng. Cô có mái tóc màu nâu đậm, kiểu Sylvie Vartan, rủ xuống che nửa mặt. Nhưng thôi, đừng khóc nữa. Chỉ làm đất trời thêm chán nản. Để tôi hát cho em nghe, ngày đó, chúng tôi, những người lính rất trẻ.
Ngày 30 tháng 4 năm nay, 2024, đánh dấu 49 năm ngày Sài Gòn thất thủ vào tay cộng sản Bắc Việt (30 tháng 4 năm 1975). Biến cố này đã mở ra một tương lai đen tối cho dân tộc Việt Nam mà một trong những hệ lụy thảm khốc nhất là hàng triệu đồng bào đã bỏ nước ra đi tìm tự do, trong đó có khoảng hơn 400,000 người chết thảm giữa lòng biển cả. Cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài trong 20 năm đã khiến cho hơn 950,000 bộ đội và thường dân miền Bắc chết và khoảng 600,000 lính cộng sản bị thương. Trong khi đó, có khoảng hơn 700,000 thường dân và binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa thiệt mạng, cùng với 1,170,000 lính VNCH bị thương. Phía Hoa Kỳ có 58,281 binh sĩ tử thương và 303,644 lính bị thương. Đó là chưa kể số thương vong của binh sĩ các nước tham chiến ở hai miền Nam-Bắc, theo www.en.wikipedia.org.
Thế giới đang bùng nổ nhiều cuộc chiến tranh, và đang ngún lửa ở nhiều nơi khác: Trung Đông, Ukraine, Miến Điện, Đài Loan, Biển Đông… Một thời Việt Nam cũng đã trải qua nhiều cuộc binh lửa. Khi đọc kỹ Tam tạng Kinh điển, chúng ta cũng sẽ thấy có những cuộc chiến. Bản thân Đức Phật khi mới lớn cũng học kỹ thuật kiếm cung. Trong nhiều kiếp quá khứ, Đức Phật, khi còn ở cương vị Bồ Tát, cũng đã từng ra trận. Nhiều hình ảnh ẩn dụ trong kinh điển cũng cho thấy dấu tích chiến tranh: ngựa chiến, voi chiến, áo giáp, mũi tên… Và rồi tận cùng, Đức Phật nói trong Kinh SN45.7 rằng chiến thắng vinh quang nhất chính là nhiếp phục tham, sân, si – nơi đó chính là Niết Bàn. Đó là mặt trận lớn nhất, gian nan nhất.
Vào ngày 6 tháng 12, 2023, nhà thơ, nhà văn, giáo sư văn học và nhà hoạt động xã hội được yêu mến người Palestine Refaat Alareer đã thiệt mạng trong một cuộc không kích từ Israel cùng với người anh, em gái và bốn đứa con của họ. Trong tuần để tang kể từ đó, những lời tri ân dành cho cuộc đời, sự nghiệp viết lách và các hoạt động nghệ thuật tích cực của Alareer đã tràn ngập khắp nơi trên thế giới. Nhiều lời tri ân được đăng cùng với bài thơ cuối cùng “Nếu tôi phải chết” được ông đăng trên Twitter của mình vào ngày 1 tháng 11 năm 2023. Cho đến nay, bài thơ chia tay như một điềm báo đau lòng của Alareer hiện đã được dịch sang hơn 40 thứ tiếng; được đọc trên các sân khấu thế giới và được viết trên các bức tường sân ga tàu điện; được in trên các biểu ngữ, bảng hiệu, cờ và diều, được giương cao trong các cuộc biểu tình đòi ngưng bắn trên khắp thế giới.
Nhà xuất bản của Ocean Vương trên Marketplace cũng như Ocean Vương trên Instagram của mình đã thông báo về cuốn tiểu thuyết mới sẽ được xuất bản vào tháng 6 năm 2025, Emperor of Gladness. “Emperor of Gladness” là cuốn tiểu thuyết thứ hai của Ocean Vương, “kể về một năm trong cuộc đời của một thanh niên ương ngạnh ở New England, người tình cờ trở thành người chăm sóc cho một góa phụ 82 tuổi bị mất trí nhớ, tạo nên câu chuyện về tình bạn. sự mất mát và mức độ chúng ta sẵn sàng mạo hiểm để đòi hỏi một trong những ân huệ quý giá nhất của cuộc đời: cơ hội thứ hai.”
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.