Hôm nay,  

Quan Hệ Đối Tác Châu Á-Thái Bình Dương Tạo Ra 'Trọng Tâm' Mới Cho Thương Mại Toàn Cầu - UNCTAD

24/12/202111:40:00(Xem: 15311)

Kinh tế


doitac 

Một hiệp định thương mại tự do mới, bao gồm một phần ba nền kinh tế thế giới, sẽ loại bỏ 90% thuế quan giữa 15 quốc gia Đông Á và Thái Bình Dương và dự kiến sẽ thúc đẩy xuất khẩu trong khu vực thêm 42 tỷ USD.

 

Theo một nghiên cứu của Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển (United Nations Conference on Trade and Development, UNCTAD) được công bố vào ngày 15 tháng 12, một hiệp định thương mại tự do châu Á-Thái Bình Dương mới có hiệu lực vào ngày 1 tháng 1 năm 2022 sẽ tạo ra khối thương mại lớn nhất thế giới theo quy mô kinh tế.

 

Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (The Regional Comprehensive Economic Partnership, RCEP) bao gồm 15 quốc gia Đông Á và Thái Bình Dương thuộc các quy mô kinh tế và giai đoạn phát triển khác nhau.

 

Đó là Australia, Brunei Darussalam, Campuchia, Trung Quốc, Indonesia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Lào, Malaysia, Myanmar, New Zealand, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam.

 

RCEP sẽ trở thành hiệp định thương mại lớn nhất thế giới được đo bằng GDP của các thành viên, gần một phần ba GDP của thế giới.

 

Để so sánh, các hiệp định thương mại khu vực lớn khác tính theo tỷ trọng GDP toàn cầu là khối thương mại Nam Mỹ Mercosur (2,4%), khu vực thương mại tự do lục địa châu Phi (2,9%), Liên minh châu Âu (17,9%) và Hoa Kỳ-Mexico-Canada. đồng ý (28%).

 

Phân tích của UNCTAD cho thấy tác động của RCEP đối với thương mại quốc tế sẽ rất đáng kể. Báo cáo cho biết: “Quy mô kinh tế của khối mới nổi và sự năng động trong thương mại của khối này sẽ khiến khối này trở thành trung tâm trọng tâm của thương mại toàn cầu.“

Ngay trong COVID-19, việc RCEP có hiệu lực cũng có thể thúc đẩy khả năng phục hồi thương mại. Nghiên cứu gần đây của UNCTAD cho thấy thương mại trong các hiệp định như vậy đã tương đối linh hoạt hơn trước sự suy thoái thương mại toàn cầu do đại dịch gây ra.

 

Xóa bỏ 90% thuế quan trong khối

 

Thỏa thuận bao gồm một số lĩnh vực hợp tác, trong đó nguyên tắc trọng tâm là nhượng bộ thuế quan. Nó sẽ loại bỏ 90% thuế quan trong khối, và những nhượng bộ này là chìa khóa để hiểu những tác động ban đầu của RCEP đối với thương mại, cả trong và ngoài khối.

Theo khuôn khổ RCEP, tự do hóa thương mại sẽ đạt được thông qua việc cắt giảm dần thuế quan. Trong khi nhiều loại thuế quan sẽ được bãi bỏ ngay lập tức, các loại thuế khác sẽ được giảm dần trong thời gian 20 năm.

 

Các mức thuế vẫn còn hiệu lực sẽ chủ yếu giới hạn đối với các sản phẩm trong các lĩnh vực chiến lược, chẳng hạn như nông nghiệp và công nghiệp ô tô, trong đó nhiều thành viên RCEP đã từ chối các cam kết tự do hóa thương mại.

 

Lợi ích cho xuất khẩu trong khu vực

 

Thương mại giữa 15 nền kinh tế của khối đã trị giá khoảng 2,3 nghìn tỷ đô la vào năm 2019 và phân tích của UNCTAD cho thấy các nhượng bộ thuế quan của hiệp định có thể thúc đẩy xuất khẩu trong liên minh mới thành lập lên gần 2%, tương đương khoảng 42 tỷ đô la.


Điều này sẽ là kết quả của việc tạo ra thương mại, vì thuế quan thấp hơn sẽ kích thích thương mại giữa các thành viên gần 17 tỷ đô la và chuyển hướng thương mại, vì mức thuế thấp hơn trong RCEP sẽ tái chuyển hướng thương mại trị giá gần 25 tỷ đô la từ các nước không phải thành viên sang thành viên.

 

Lợi ích không đều giữa các thành viên

 

Báo cáo nhấn mạnh rằng các thành viên trong RCEP dự kiến ​​sẽ được hưởng lợi trong các phạm vi khác nhau của hiệp định.

 

Việc nhượng bộ thuế quan được kỳ vọng là sẽ tạo ra tác động thương mại cao hơn cho các nền kinh tế lớn nhất trong khối, không phải vì sự bất cân xứng trong đàm phán, mà phần lớn là do mức thuế quan vốn đã thấp giữa nhiều thành viên RCEP khác.

 

Phân tích của UNCTAD cho thấy Nhật Bản sẽ được hưởng lợi nhiều nhất từ ​​các nhượng bộ thuế quan trong RCEP, phần lớn là do các tác động chuyển hướng thương mại. Xuất khẩu của nước này dự kiến ​​sẽ tăng khoảng 20 tỷ USD, tương đương với khoảng 5,5% so với xuất khẩu của nước này sang các thành viên RCEP vào năm 2019.

 

Báo cáo cũng cho thấy những tác động tích cực đáng kể đối với xuất khẩu của hầu hết các nền kinh tế khác, bao gồm Úc, Trung Quốc, Hàn Quốc và New Zealand. Mặt khác, các tính toán cho thấy việc nhượng bộ thuế quan RCEP có thể làm giảm xuất khẩu của Campuchia, Indonesia, Philippines và Việt Nam.

 

(Do RCEP, số lượng xuất khẩu của Việt Nam sẽ giảm xuống ước khoảng chung là 1, 5%, nhưng mức xuất lậu sang Trung Quốc không thể xác định, người dịch.)

 

Báo cáo cho biết, điều này chủ yếu xuất phát từ các tác động tiêu cực trong chuyển hướng thương mại, vì một số mặt hàng xuất khẩu của các nền kinh tế này dự kiến ​​sẽ chuyển hướng sang lợi thế của các thành viên RCEP khác do sự khác biệt về mức độ nhượng bộ thuế quan.

Ví dụ, một số mặt hàng nhập khẩu của Trung Quốc từ Việt Nam sẽ được thay thế bằng hàng nhập khẩu từ Nhật Bản do chính sách tự do hóa thuế quan giữa Trung Quốc và Nhật Bản mạnh mẽ hơn.

 

Tham gia khối tốt hơn là ra ngoài

 

Tuy nhiên, báo cáo lưu ý rằng những tác động tiêu cực tổng thể đối với một số thành viên RCEP không ngụ ý rằng họ sẽ tốt hơn nếu ở bên ngoài thỏa thuận RCEP. Tuy nhiên, các hiệu ứng chuyển hướng thương mại sẽ được tích lũy.

 

“Ngay cả khi không tính đến các lợi ích khác của hiệp định RCEP bên cạnh các nhượng bộ thuế quan, các tác động tạo ra thương mại liên quan đến việc tham gia vào RCEP sẽ làm giảm bớt các tác động chuyển hướng thương mại tiêu cực,” báo cáo nêu rõ.


Báo cáo trích dẫn ví dụ của Thái Lan, nơi các tác động tạo ra thương mại hoàn toàn bù đắp cho các tác động chuyển hướng thương mại tiêu cực. Nhìn chung, báo cáo nhận thấy rằng toàn bộ khu vực sẽ được hưởng lợi từ các nhượng bộ thuế quan của RCEP, với hầu hết những lợi ích này là do chuyển hướng thương mại ra khỏi các nước không phải là thành viên.

 

Báo cáo cho biết: “Khi quá trình hội nhập của các thành viên trong RCEP tiến xa hơn, những tác động chuyển hướng này có thể được tăng cường, một yếu tố không nên đánh giá thấp đối với các thành viên không thuộc RCEP”.

 

Đỗ Kim Thêm dịch

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) năm nay ở Davos, nơi 60 Tổng Thống và Thủ Tướng, 800 lãnh đạo doanh nghiệp và các tổ chức phi lợi nhuận tập họp để thảo luận về những thách thức lớn của thời đại chúng ta, Trí tuệ nhân tạo, AI, lần này đã trở thành chủ đề làm lu mờ mọi chủ đề khác. Trí tuệ nhân tạo AI ngày càng ảnh hưởng đến chúng ta, ngoài việc có thể xử dụng trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu và ảnh hưởng đến nền kinh tế, AI cũng ngày càng có vẻ là một phần của bộ máy chiến tranh, hay ngay cả trong thị trường lao động AI cũng cho thấy sự hiệu quả rõ ràng hơn, AI, trí tuệ nhân tạo là siêu năng lực vừa có thể hủy diệt mà cũng vừa có thể cải thiện, là rủi ro cũng như là cơ hội.
Lịch sử kinh tế của Mỹ là chu kỳ giữa sự các đợt tăng trưởng và suy thoái kinh tế. Gần đây nhất là sự tăng trưởng kinh tế từ thời Tổng Thống Obama, kéo dài sang thời Tổng Thống Trump trước khi đại dịch Covid-19 xảy ra. Tổng Thống Biden nhậm chức trong thời điểm nền kinh tế Mỹ bắt đầu có những dấu hiệu suy thoái. Theo các nhà hoạch định chính sách, hiếm khi các chính sách giảm lạm phát được áp dụng mà không xảy ra suy thoái. Nhưng có vẻ như lần này điều này có thể xảy ra.
Giá xăng trung bình vào ngày 14-12-2023 ở Mỹ là 3.10 USD/gallon, giảm 0.02 USD so với ngày hôm qua, 0.10 USD so với tuần trước và 0.25 USD so với tháng trước. Hawaii có giá cao nhất là $4.70, tiếp đến là California với giá là $4.63. Ngược lại, Texas ghi nhận giá thấp nhất trên toàn nước Mỹ là $2.55. Giá xăng giảm do mức cầu hạ theo mùa và mức cung trong nước Mỹ gia tăng đáng kể là một tin đáng hoan nghênh đối với những người Mỹ đã phải vật lộn với giá xăng cao trong quá khứ. Ngoài ra, tình hình kinh tế Trung Quốc là một điểm đáng lưu tâm. Trung Quốc là một quốc gia nhập cảng xăng dầu nhiều nhất thế giới. Kinh tế Trung Quốc đi xuống sẽ làm giảm mức cầu.
Sẽ không có một bản tổng kết nào đầy đủ về tình hình kinh tế Mỹ trong năm 2023. Sẽ không có dự đoán nào chính xác cho kinh tế tương lai 2024. Nhưng hai chữ “kinh tế” lớn lao và khách quan này lại ảnh hưởng trực tiếp đến túi tiền và đời sống hàng ngày của chúng ta. Kinh nghiệm và hiểu biết về khả năng kinh tế cộng đồng ảnh hưởng đến kinh tế cá nhân/gia đình, sẽ giúp cho lòng tham giàu có chững chạc hơn và nỗi sợ hãi nghèo khó được nhẹ nhàng hơn.
Theo trang mạng tin tức kinh tế thương mại Business Insider, báo cáo mới đây nhất về dự báo thị trường nhà ở năm 2024 có một số tin tốt lành, nhưng vẫn có nhiều thách thức từ năm nay sẽ vẫn tồn tại. Báo cáo này là của trang mạng chuyên về địa ốc Realtor.com. Nhìn chung, Realtor đưa ra một dự báo có nhiều điểm trái chiều. Điều này sẽ làm thất vọng nhiều người Mỹ đang hy vọng sẽ có một thị trường nhà cửa dễ mua bán nhiều hơn so với năm 2023, khi mà tỷ lệ lãi suất cao đã làm đóng băng phần lớn thị trường.
Ở Mỹ, khi người ta kết hôn, tài khoản của họ cũng thường được ‘quy về một mối’: phần lớn các cặp vợ chồng đều sẽ gửi toàn bộ thu nhập của mình vào một tài khoản chung. Trong những năm 1970 và 1980, việc tách biệt tài chánh có thể bị coi là điềm xấu cho một mối quan hệ. Nhưng ngày nay điều đó không còn đúng nữa. Tỷ lệ các cặp đôi, dù đã kết hôn hay chưa, giữ ít nhất một phần tài chánh riêng biệt đã tăng lên trong những thập niên gần đây, một phần vì người dân Hoa Kỳ có khuynh hướng kết hôn trễ hơn so với ngày xưa, và khi đó thì họ đã có thói quen tiêu xài của riêng mình.
Tập Cận Bình, bằng cách thắt chặt kiểm soát từ chính sách, truyền thông, đến quân đội, đã nâng quyền lực của mình tới mức chưa từng thấy trong nhiều thập kỷ. Nhưng chính nhu cầu chứng tỏ quyền lực của Tập cũng chính là chiếc ”gậy ông đập lưng ông”. Nền kinh tế Trung Quốc khó có thể phục hồi như mong đợi sau đại dịch covid, ngành bất động sản khủng hoảng, các nhà đầu tư nước ngoài rút vốn ra khỏi nước và tỷ lệ thanh niên thất nghiệp lên tới trên 20%. Các nhà phê bình năm nay đã sử dụng những thuật ngữ như đây là ”sự kết thúc của phép màu kinh tế Trung Quốc”. Vấn đề nan giải của Tập Cận Bình là ông dường như chỉ có một giải pháp duy nhất cho mọi vấn đề: tăng cường kiểm soát. Tập đã loại bỏ những cố vấn giỏi nhất vì tham nhũng hay có thể nói chính xác hơn là ông không tin tưởng họ.
Từ Adidas AG đến Nike Inc, các nhà sản xuất quần áo và giày dép đã chuyển chuỗi cung ứng của họ ra khỏi Trung Quốc do căng thẳng địa chính trị và chi phí sản xuất thấp hơn. Nhưng trong bối cảnh kinh tế toàn cầu ngày càng bất ổn và nhu cầu tiêu dùng suy yếu, nhiều công ty đã nhận ra rằng việc tìm kiếm các trung tâm sản xuất thay thế cũng đi kèm với những thách thức riêng. Một số thậm chí còn đóng cửa cơ sở sản xuất vừa mới thành lập để quay về Trung Quốc đại lục.
Đô la điện tử (digital dollar), còn gọi là đô la kỹ thuật số, là một vấn đề tài chánh có tầm vóc thế giới, có khả năng thay đổi nền kinh tế Hoa Kỳ và toàn cầu. Vấn đề này được bàn thảo trong những năm qua: Liệu đã đến lúc Hoa Kỳ có thể thay đổi tiền giấy, tiền đồng bằng tiền điện tử? Nhưng những cuộc thảo luận không được nổi bật vì tình hình chính trị sôi nổi, chính quyền, báo chí vây quanh câu chuyện cựu tổng thống Trump bị truy tố khoảng trên 90 tội, trong lúc ông đang tranh cử cho chuyến trở về tòa Bạch Ốc năm 2024.Thay đổi hệ thống tiền tệ quốc gia sẽ tạo ra sự xáo trộn thói quen sử dụng và cách đánh giá mặt tiền của dân chúng. Nhiều câu hỏi sẽ phải giải quyết: Tại sao phải đổi tiền giấy thành tiền điện tử? (Có lẽ, ngày xưa, người ta cũng đặt câu hỏi tương tựa như vậy khi đổi từ tiền kim loại, tiền vàng thành tiền giấy. Dĩ nhiên, phải có lợi ích cho người tiêu dùng, có khả năng phát triển kinh tế quốc gia và đồng minh.)
Trần nợ là mức ấn định số tiền tối đa mà chính phủ có thể vay nợ. Quốc hội biểu quyết số nợ tối đa, tạo ra mức “Trần Nợ”, và chính phủ không được vay tiền nhiều hơn mức “Trần Nợ” này. Chính phủ Hoa Kỳ đã đụng đầu vào “trần nợ” từ tháng Giêng năm 2023, khi số nợ lên tới $31.4 ngàn tỷ đô la. Bộ Tài Chánh không được vay nữa, phải “du di” các món chưa dùng trong ngân sách để xài tạm vào các mục đã hết tiền. Nhưng từ đầu tháng Sáu, sẽ bắt buộc phải vay nợ thêm mới có tiền chi tiêu. Nếu không thanh toán được thì chính phủ bị “vỡ nợ”, chính phủ Mỹ sẽ không có tiền trả lãi và vốn từ các món nợ cũ, công khố phiếu Mỹ sẽ mất giá trị kéo theo những tai họa kinh tế khôn lường cho kinh tế nước Mỹ lẫn kinh tế thế giới.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.