Hôm nay,  

Anh Hầu Quạt Đây…

12/12/202121:42:00(Xem: 2773)

s-l1600


“Anh hầu quạt đây”… là mượn hình ảnh trong bài thơ “Ngậm ngùi” của Huy Cận:

 

 “Sợi buồn con nhện giăng mau

Em ơi hãy ngủ anh hầu quạt đây”…

 

với ý định viết về chiếc quạt tay, mà Xuân Diệu trong bài thơ “Quạt” cũng đã viết:

 

Một chiếc quạt trong tay

Đủ cho anh đằm thắm”

 

Chiếc quạt tay có từ lâu đời lắm rồi, không ai có thể xác định được ai là người làm ra nó và xuất phát từ đâu, trong khi chiếc quạt máy, chạy bằng động cơ điện có xuất xứ từ nước Mỹ và ra đời vào năm 1882! Chiếc quạt tay hay còn gọi là quạt nan, quạt giấy, quạt… mo, luôn gắn bó với đời sống của người dân từ xa xưa. Là dụng cụ tạo ra những cơn gió mát vào những buổi trưa hè nóng nực hay những đêm trời oi bức từ bậc thứ dân cho đến những bậc quyền quí, vua chúa… Chiếc quạt tay, được bà, mẹ, chị, quạt cho cháu, cho con, cho em thêm giấc ngủ say nồng. Là vợ chồng, người yêu quạt cho nhau thêm ý tình thắm đượm. Là người hầu, kẻ ở quạt cho chủ nhân, và chính mình quạt cho mình, xua tan cái nóng của thời tiết… Và cũng từ lâu lắm rồi, chiếc quạt đã đi vào tục ngữ, ca dao của người Việt, qua hình ảnh của thằng Bờm và cái quạt mo, gây nhiều tranh cãi và bàn luận. Từ cái quạt mo cau, dân dã dễ làm, dễ kiếm, đến cái quạt đan bằng tre, trúc, bằng lá cọ, mật cật, lá buông… đã là sự chuyển hóa, từ mộc mạc, thô sơ lên tay nghề thủ công và nghệ thuật:

 

 “Ai làm cái quạt long nhài

Cái ô long dịp, cửa cài long then?” (Ca dao)

 

rồi đến khi có vải vóc, lụa là, có giấy, chiếc quạt được cải biến thành quạt xếp, có nan là những thanh tre, trên phất giấy hoặc vải lụa, có thể xếp lại, mở ra, mà ca dao đã mô tả:

 

Hỡi anh nón chóp quai dầu

Tay cầm cái quạt đi đâu bây giờ?

 

Cái quạt mười tám cái xương

Trên tài bít giấy, dười buông chữ màu”

 

và thật tình tứ khi:

 

Anh về để quạt lại đây

Mở ra, khép lại cho khuây cơn buồn”

 

Chính cái việc mở ra, khép lại của cái quạt xếp, mà Bà chúa thơ Nôm, Hồ Xuân Hương đã có bài thơ “Vịnh cái quạt” để đời:

 

Chành ra ba góc, da còn thiếu

Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa”

 

Ngoài công dụng quạt mát, cái quạt trên tay người quân tử, văn nhân, thi sĩ, còn có thể dùng để đề thơ, vẽ tranh, viết thư pháp. Những cái quạt của vua Càn Long đã lưu lại những bức họa thư pháp tài tình! Chiếc quạt trong tay mỹ nhân, mỹ nữ, cũng đề thơ, vẽ tranh, còn là vật trang sức, duyên dáng, và là những vật dụng để múa, say đắm hồn người.

 

Trong dân gian, cái quạt tay còn có những công dụng như câu ca dao sau:

 

Lấy anh, anh sắm sửa cho

Cái bị, cái bát, cái quạt mo đuổi ruồi”

 

đuổi ruồi, phủi bụi và thêm cái chuyện:

 

Lên non lót quạt mà ngồi

Bỏ quên cái quạt thôi rồi duyên anh”

 

Ngày nay, cái quạt máy ở những vùng có điện lên ngôi, thống lĩnh việc “xua nóng” cho con người, song cái ý, cái tứ, cái duyên của chiếc quạt tay vẫn chưa làm người ta xa hẳn chiếc quạt tay, bởi ít ra, các cụ đi chùa, đi lễ nhà thờ, vẫn cần mang theo cái quạt để phe phẩy. Các cô vũ công càng không thể thiếu cái quạt trong những vũ khúc “cổ trang” dịu dàng, duyên dáng trong cái quạt xếp, làm nên những vũ khúc nghê thường. Và cũng thật đằm thắm, tình tứ lắm thay, khi “ Em ơi hãy ngủ anh hầu quạt đây”. Quạt cho người tình, người yêu ngủ, mấy ai nỡ chối từ?

 

– Trn Hoàng Vy

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Khi lần đầu tiên gặp một họa sĩ, tôi thường có khuynh hướng tìm vài nét tương đồng để liên tưởng đến một họa sĩ nổi tiếng nào đó thuộc những thế hệ trước. Với Nguyễn Trọng Khôi, tôi cũng làm như vậy nhưng trừ vài nét chung chung như được đào tạo ở trường ốc hay năng khiếu, tôi không tìm được gì đậc biệt. Nguyễn Trọng Khôi (NTK) không giống một họa sĩ nào khác.
Hồ Hữu Thủ cùng với Nguyễn Lâm, Nguyễn Trung của Hội Họa sĩ Trẻ trước 1975 còn sót lại ở Sài Gòn, họ vẫn sung sức lao động nghệ thuật và tranh của họ vẫn thuộc loại đẳng cấp để sưu tập. Họ thuộc về một thế hệ vàng của nghệ thuật tạo hình Việt Nam. Bất kể ở Mỹ như Trịnh Cung, Nguyên Khai, Đinh Cường… hay còn lại trong nước, còn sống hay đã chết, tranh của nhóm Hội Họa sĩ Trẻ vẫn có những giá trị mang dấu ấn lịch sử. Cho dù tranh của họ rất ít tính thời sự, nhưng cái đẹp được tìm thấy trong tác phẩm của họ lại rất biểu trưng cho tính thời đại mà họ sống. Đó là cái đẹp phía sau của chết chóc, của chiến tranh. Cái đẹp của hòa bình, của sự chan hòa trong vũ trụ. Cái mà con người ngưỡng vọng như ý nghĩa nhân sinh.
Westminster, CA – Học Khu Westminster hân hoan tổ chức mừng lễ tốt nghiệp của các học sinh đầu tiên trong chương trình Song Ngữ Tiếng Việt (VDLI) tiên phong của học khu. Đây là khóa học sinh đầu tiên ra trường và các em sẽ được ghi nhận tại buổi lễ tốt nghiệp đặc biệt được tổ chức vào thứ Ba, ngày 28 tháng Năm, lúc 6:00 giờ chiều tại phòng Gymnasium của Trường Trung Cấp Warner (14171 Newland St, Westminster, CA 92683).
Tháng Năm là tháng vinh danh những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho đất nước Hoa Kỳ mà trong đó tất nhiên có người Mỹ gốc Việt. Những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho Hoa Kỳ bao gồm rất nhiều lãnh vực, từ kinh tế, chính trị đến văn học nghệ thuật, v.v… Nhưng nơi đây chỉ xin đề cập một cách khái quát những đóng góp trong lãnh vực văn học của người Mỹ gốc Việt. Bài viết này cũng tự giới hạn phạm vi chỉ để nói đến các tác phẩm văn học viết bằng tiếng Anh của người Mỹ gốc Việt như là những đóng góp nổi bật vào dòng chính văn học của nước Mỹ. Điều này không hề là sự phủ nhận đối với những đóng góp không kém phần quan trọng trong lãnh vực văn học của Hoa Kỳ qua hàng trăm tác phẩm văn học được viết bằng tiếng Việt trong suốt gần năm mươi năm qua.
Vì hình ảnh ảm đạm, buồn sầu, như tiếng kêu đòi tắt nghẹn. Tôi, tác giả, đi giữa lòng thủ đô Hà Nội mà không thấy gì cả, không thấy phố không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ. Cờ đỏ là quốc kỳ. Mưa sa làm cho những lá quốc kỳ sũng nước, bèo nhèo, nhếch nhác, úng rữa. Một hình ảnh thảm hại. Hình ảnh thảm hại là dự phóng cho tương lai thảm hại. Và thất bại. Lạ một điều, người ta chỉ trích dẫn năm dòng thơ này, tổng cộng 14 chữ, mà không ai trích dẫn cả bài thơ, và hẳn là hơn 90% những người biết năm dòng này thì không từng biết, chưa bao giờ đọc, cả bài thơ, và tin rằng đó là những lời tâm huyết của nhà thơ Trần Dần nói về thời cuộc mà ông nhận thức được vào thời điểm 1955.
Viet Book Fest cho thấy thế hệ trẻ gốc Việt nay đã vượt qua được những ràng buộc cơm áo gạo tiền của thế hệ đi trước, để cộng đồng Việt nay có thể vươn lên với giấc mơ văn học nghệ thuật trên đất nước Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ.
Hư vỡ là đặc tính bất biến của cuộc đời, của tất cả những gì có mặt trong vũ trụ này. Nghĩa là những gì hợp lại, thì sẽ tan; những gì sinh ra, rồi sẽ biến mất. Không có gì kiên cố, bất biến trên đời. Đức Phật đã chỉ ra sự thật đó, và biến những thái độ sống không vui thành sự kham nhẫn mỹ học: cái đẹp chính là vô thường. Bởi vì vô thường, nên có hoa mùa xuân nở, có những dòng suối chảy từ tuyết tan mùa hè, có những trận lá mùa thu lìa cành, và có những trận mưa tuyết mùa đông vương vào gót giày. Bởi vì sống hoan hỷ với hư vỡ là tự hoàn thiện chính mình, hòa hài làm bạn với hư vỡ là sống với sự thật, và cảm nhận toàn thân tâm trong hư vỡ từng khoảnh khắc là hòa lẫn vào cái đẹp của vũ trụ. Và sống với chân, thiện, mỹ như thế tất nhiên sẽ đón nhận được cái chết bình an.
Mỗi 30 tháng 4 là mỗi năm xa hơn ngày đó, 1975, thêm một bước nữa xa hơn, đi vào dĩ vãng. Hầu hết những người trực tiếp tham gia vào cuộc chiến trước 75, nay đã vắng mặt. Non nửa thế kỷ rồi còn gì. Khi không còn ai nữa, không hiểu những thế hệ trẻ tha hương sẽ nhớ gì? Một thoáng hơi cay? Có khi nào bạn đọc ngồi một mình chợt hát lên bài quốc ca, rồi đứng dậy, nghiêm chỉnh chào bức tường, thằng cháu nhỏ thấy được, cười hí hí. Ông ngoại mát rồi. Trí tưởng tượng của người thật kỳ diệu. Rượu cũng kỳ diệu không kém. Nửa chai vơi đi, lơ mơ chiến sĩ trở về thời đó. Lạ lùng thay, quá khứ dù kinh hoàng, khốn khổ cách mấy, khi nhớ lại, có gì đó đã đổi thay, dường như một cảm giác đẹp phủ lên như tấm màn mỏng, che phía sau một thiếu phụ trẻ đang khóc chồng. Cô có mái tóc màu nâu đậm, kiểu Sylvie Vartan, rủ xuống che nửa mặt. Nhưng thôi, đừng khóc nữa. Chỉ làm đất trời thêm chán nản. Để tôi hát cho em nghe, ngày đó, chúng tôi, những người lính rất trẻ.
Ngày 30 tháng 4 năm nay, 2024, đánh dấu 49 năm ngày Sài Gòn thất thủ vào tay cộng sản Bắc Việt (30 tháng 4 năm 1975). Biến cố này đã mở ra một tương lai đen tối cho dân tộc Việt Nam mà một trong những hệ lụy thảm khốc nhất là hàng triệu đồng bào đã bỏ nước ra đi tìm tự do, trong đó có khoảng hơn 400,000 người chết thảm giữa lòng biển cả. Cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài trong 20 năm đã khiến cho hơn 950,000 bộ đội và thường dân miền Bắc chết và khoảng 600,000 lính cộng sản bị thương. Trong khi đó, có khoảng hơn 700,000 thường dân và binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa thiệt mạng, cùng với 1,170,000 lính VNCH bị thương. Phía Hoa Kỳ có 58,281 binh sĩ tử thương và 303,644 lính bị thương. Đó là chưa kể số thương vong của binh sĩ các nước tham chiến ở hai miền Nam-Bắc, theo www.en.wikipedia.org.
Thế giới đang bùng nổ nhiều cuộc chiến tranh, và đang ngún lửa ở nhiều nơi khác: Trung Đông, Ukraine, Miến Điện, Đài Loan, Biển Đông… Một thời Việt Nam cũng đã trải qua nhiều cuộc binh lửa. Khi đọc kỹ Tam tạng Kinh điển, chúng ta cũng sẽ thấy có những cuộc chiến. Bản thân Đức Phật khi mới lớn cũng học kỹ thuật kiếm cung. Trong nhiều kiếp quá khứ, Đức Phật, khi còn ở cương vị Bồ Tát, cũng đã từng ra trận. Nhiều hình ảnh ẩn dụ trong kinh điển cũng cho thấy dấu tích chiến tranh: ngựa chiến, voi chiến, áo giáp, mũi tên… Và rồi tận cùng, Đức Phật nói trong Kinh SN45.7 rằng chiến thắng vinh quang nhất chính là nhiếp phục tham, sân, si – nơi đó chính là Niết Bàn. Đó là mặt trận lớn nhất, gian nan nhất.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.