Hôm nay,  
“Đây là quan điểm của người viết, không nhất thiết là quan điểm của Việt Báo.”

Hoa Kỳ và Tổng Thống Ngô Đình Diệm (Phần Cuối: Những Biểu Hiện Suy Thoái Của Chế Độ Ngô Triều)

22/11/202115:24:00(Xem: 1414)

Kể từ năm 1960, cơ cấu quyền lực của chế độ Ngô triều bắt đầu có những biểu hiện suy thoái, cụ thể là tình trạng an ninh nội chính bất ổn, nông dân bất mãn, trí thức chống đối và quân đội âm mưu đảo chánh

An ninh nội chính bất ổn

Sau khi phá vỡ được quyền lực của các giáo phái tại miền Nam, ông Diệm nghĩ ngay đến biện pháp tiêu diệt mầm mống của Cộng sản nằm vùng. Mối lo âu của ông rất chính đáng là vì theo một ước lượng chung, sau ngày ký kết Hiệp định Genève, có khoảng 10.000 cán bộ Việt Minh còn ở lại tại miền Nam để lo xây dựng cơ sở đấu tranh cho tương lai. Các địa phương mà Việt Minh còn nhiều ảnh hưởng nhất là tại Cà Mau, Đồng Tháp Mười, Rạch Giá, Bến Tre, Phú Yên, Quảng Nam và Quảng Ngãi.

Ông Diệm bắt đầu phát triển Phong trào Tố Cộng, mà kết qủa là có hằng ngàn người tình nghi bị  tống giam. Không phải chỉ có cán bộ Cộng Sản nằm vùng bị tố cáo và bắt giữ mà các ký giả, thành viên Công đoàn, tín đồ các giáo phái bất đồng chính kiến cũng bị vạ lây. Dù Nghị định có quy định là chính phủ có quyền bắt giam các nghi can nguy hiểm đến chế độ, nhưng các viên chức địa phương đã lạm dụng nhằm thanh toán các đối thủ trong địa bàn và gây hoang mang cho dân chúng. Tác hại này chính ông Diệm cũng không thể nhận ra và sửa sai, vì các báo cáo là luôn sai lạc.

Ba năm sau, Đạo luật 10/59 ra đời có quy định về vai trò Tòa án Quân sự. Nhiệm vụ của Toà không những nghiêm cấm đối lập chính trị mà còn có những biện pháp giam giữ và truy tố can phạm. Có nhiều ước lượng khác nhau về kết quả hoạt động của Tòa này. Từ năm 1954 cho đến 1960 số tù nhân chính trị là khoảng 50.000. Các số ước lượng không chính thức cao hơn là khoảng 150.000, số bị xử tử là khoảng 12.000.  Luật này gây thương vong cho nhiều đảng viên và cuối cùng làm cho hoạt động của Cộng sản địa phương bị tê liệt.

Ngoài việc tăng cường các biện pháp an ninh gắt gao để cũng cố cho chế độ, ông Diệm càng mất dần các thiện cảm của nông dân qua các Quốc sách Cải cách Điền địa, Hành chánh địa phương và Ấp chiến lược.


Nông dân bất mãn

Cải cách Điền địa


THÔNG LUẬN - Cải cách điền địa và giải thể giai cấp đại địa chủ Nam kỳ thời  ông Diệm
Lễ phát tiền bồi thường truất hữu ruộng đất, nguồn ảnh Wikipedia


Hiểu rõ nỗi khổ của nông dân trong thời thuộc địa, nên ông Diệm quyết tâm cải thiện trong chế độ cộng hoà, như ông đã từng tuyên bố khi hoạch định chính sách: “Những cố gắng của chúng ta phải nhằm cải thiện đời sống quốc dân, nâng đỡ các giới cần lao, nhất là nông dân, san bằng những nỗi bất công, trừ diệt mọi mầm áp bức.”

Dù có quyết tâm thực hiện chương trình Cải cách Điền địa, nhưng trong thực tế, chính quyền đã một phần nào bị Toà Đại sứ Mỹ gây áp lực, và thành quả thu lượm được chỉ cải thiện một phần nào nhu cầu của nông dân.

Trong chiến tranh, Việt Minh đã tịch thu đất của đại điền chủ người Pháp và người Việt và phân phối lại cho nông dân. 

Để tiến hành chương trình Cải cách Điền dịa, ngày 22/10/1956, Tổng thống Diệm cho ban hành Dụ số 57 nhằm trưng thu ruộng của tất cả các đại địa chủ để cho người nông dân nghèo mua trả góp. Nhờ thế, chánh phủ truất hữu 430.319 ha đất từ 1.085 đại điền chủ Nam kỳ và 220.813 mẫu ruộng của Pháp kiều. 

Với 651.182 hecta đất, nông dân nghèo miền Nam và đồng bào miền Bắc di cư có cơ hội mua đất với giá rẻ và được trà góp trong 12 năm. Có nhiều trường hợp xảy ra là nông dân không trả nổi số tiền vay, cuối cùng được nhà nước tặng không.

Nhìn chung, giới điền chủ đều ủng hộ chính sách  của ông Diệm vì lý do là điền chủ miền Nam hưởng mức tối đa là 115 mẩu, (có tài liệu khác cho là chỉ có đến 100 mẩu),  phần còn lại được bồi thường trong khi Nhật Bản và Đại Hàn, quy định mức tái cấp tối đa là 2 mẫu để canh tác. Trước đây, họ bị xem như đã mất quyền sở hữu ruộng đất, nay chính phủ khôi phục, họ được quyền thu địa tô và lãnh tiền bồi thường thiệt hại nếu bị truất hữu.

Đối với 80% nông dân còn nghèo đói, thất học, không có an ninh, luôn bị du kích cộng sản đe dọa, nay họ có một cảm giác công bằng  và may mắn, là  vì từ không hay có ít đất, nay lên thành có nhiều đất hơn. 

Theo một ước lượng trong năm 1955, 65% đất đai miền Nam nằm trong tay 10% dân chúng. Do đó, đời sống nông dân không cải thiện được nhiều. 

Theo những nhận định khác, lý do chính là vì sau 10 năm thi hành biện pháp cải cách, chỉ có 55% số lượng đất này được cấp phát, cụ thể là, sau khi truất hữu 650.000 mẩu, ông Diệm phân phối cho nông dân khoảng 244.000 mẩu, phần còn lại được cấp phát cho đồng bào Công giáo di cư, binh sĩ và công chức. Một bất công tiềm ẩn trong dân chúng.

Do đó, đời sống nông dân, đặc biệt trong những năm thất mùa,  phải chịu hậu quả trầm trọng hơn. Việc giảm thuế địa tô từ 50% xuống tối đa còn 25% thu hoạch cũng không giúp cho họ khá hơn. 

Ngược lại, một nhận xét trung thực là sản xuất nông phẩm tăng, gây nhiều tiếng vang cho Việt Nam trên thế giới. Từ năm 1955 đến 1962, mức sản xuất gạo đã tăng từ 2,8 triệu tấn đến 5 triệu tấn, còn xuất cảng tăng từ 70 ngàn tấn lên đến 323 ngàn tấn. Chính sách của ông Diệm thành công mà yếu tố chinh là do viện trợ của Mỹ hào phóng. 

Để giúp cho nông dân cải thiện phần nào, chương trình viện trợ nông phẩm của Mỹ mang tên Thực phẩm Phụng sự Hoà Bình (Food for Peace) trở thành nguồn cung cấp quan trọng. Khoản chi viện vật chất hào phóng này gồm lúa mì, bột mì, gạo và dầu ăn, nhưng không tới tay cho nông dân thụ hưởng, gây tiếng xấu cho ông Diệm. 

Lý do là vì chính quyền địa phương tham nhũng và hàng viện trợ lại để cho các Cơ quan Cứu trợ Thiên Chúa giáo phân phối, có nghĩa là, trước hết phẩm vật đến tay cha xứ ở các tỉnh, và sau đó, dù không phải là hầu hết, nhưng nhiều nơi, lại ưu tiên cho tín đồ và một phần không nhỏ, được đưa ra bán ở thị trường chợ đen.

Nhưng nhìn chung, đời sống nông dân miền Nam vẫn còn sung túc  hơn khi so với tình trạng nghèo đói miền Bắc, nơi mà các phong trào cải cách ruộng đất và hợp tác hoá theo mô hình của Mao Trạch Đông.

Hành chánh địa phương

Cũng giống như tại miền Bắc, địa phương tự trị là một đặc thù truyền thống của nông thôn miền Nam, “phép vua thua lệ làng” là một câu nói truyền tụng từ ngàn xưa vẫn còn đúng cho sinh hoạt hằng ngày tại đồng bằng sông Cửu Long; mọi việc “sau lũy tre xanh” như đề cử quan chức, xây đường đắp đê, tổ chức các ngày lễ tết đều do dân chúng địa phương tự quyết định.

Để thay đổi, ông Diệm đưa ra các biện pháp nhân sự mới bằng cách điều động các viên chức từ địa phương khác tới, trong đó có cả thành phần người Bắc Công giáo di cư, hầu hết là những người chưa am tường tình hình địa phương mà chỉ lo việc tuân lệnh của chính phủ trung ương.

Ông Diệm còn thay đổi các địa danh tại nông thôn miền Nam còn âm hưởng Kampuchea ra thành Hán Việt. Rạch Giá là Kiên Giang, Cà Mau là An Xuyên, Trà Vinh là Vĩnh Bình, Chắc Cà Đao là Hoà Bình Thạnh, tất cả ngôn ngữ mới, dù là thanh tao và trang nhã, nhưng gây xa lạ cho cảm xúc gần gũi và quen thuộc của dân chúng từ lâu; do đó, cũng không tranh thủ được nhân tâm. 

Thực ra, tranh chấp quyền lực trong sinh hoạt xã thôn là một vấn đề ngấm ngầm và phức tạp hơn nhân sự và địa danh. Mối quan hệ giữa địa chủ và nông dân không thuần là trong phạm vi kinh tế. 

Vai trò của địa chủ tại nông thôn không thay đổi khi chế độ cộng hòa ra đời. Đó là một thái độ gia trưởng trong một xã hội cổ truyền còn sót lại, quyền lực tinh thần này không lệ thuộc vào cơ cấu hành chánh công quyền, họ còn nắm giữ ưu thế trong mọi sinh hoạt địa phương, cụ thể là làm chủ tọa các buổi lễ quan trọng, kể cả trong quan hôn tang tế, trung gian mua bán nông phẩm, giải quyết các xung đột đủ loại. Do không cần phải có trách nhiệm giải trình theo luật pháp, nên có một khoảng trống chính trị đối với việc kiểm soát của chính quyền trung ương.

Dù ông Diệm có thiện chí trong việc cải cách hành chánh địa phương, nhưng được nhìn chung là sai lầm, gây bất mãn trong giới nông dân, mà điển hình nhất là việc thi hành quốc sách Ấp Chiến lược.

Quốc sách Ấp Chiến lược

Các xáo trộn tại nông thôn tiềm ẩn bắt đầu khi Tổng thống Diệm thực thi các chính sách nhằm cải thiện an ninh nông thôn, thoạt đầu là chính sách Dinh điền (1957), sau đó lả Khu Trù mật (1960) và cuối cùng là Ấp Chiến lược (1963).

Dieses Bild hat ein leeres alt-Attribut; sein Dateiname ist image-2.jpeg.
Ấp Chiến lược, nguồn ảnh Wikipedia



Mục tiêu của các chương trình này là giúp cho địa phương tổ chức theo phương thức tự quản, tự phòng và tự phát triển. Tất cả các thôn ấp đều được bảo vệ bởi các rào cản kiên cố, các cổng chính ra vào làng được canh gác, ban ngày người dân được tự do đi lại và người lạ phải qua thủ tục kiểm soát, ban đêm các cổng được đóng lại. 

Ngoài ra, các nơi còn có hệ thống báo động để phát hiện mọi trường hợp xâm nhập; thực tế là truy tìm dấu vết các cán bộ Việt Minh còn đang lén lút hoạt động, nhất là tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long.

Để tổ chức cụ thể, chính quyền buộc nông dân dời nhà vào trong một khu vực có kiểm soát với lời hứa hẹn là tạo một cuộc sống tốt đẹp hơn. Nông dân  được mua vật liệu xây dựng với giá rẻ và trợ giúp khởi nghiệp, nhưng các quan chức tận dụng cơ chế để trục lợi bằng cách báo cáo sai lạc.

Thiện chí của ông Diệm giúp cho nông dân là chân thành mà khi thực hiện là không tới tay người thụ hưởng, trong khi giới chức địa phương làm lũng đoạn kế hoạch và không thực tâm cải thiện. 

Dù ông Diệm có đi nhiều nơi để trực tiếp khánh thành hay kinh lý, nhưng việc thực hiện chính sách là ngoài tầm kiểm soát. Các thành công tại các địa điểm Khu Trù mật Vị Thanh (Chương Thiện) hay Cái Bè, Cai Lậy (Định Tường) hoàn toàn được địa phương dàn dựng giả tạo khi ông Diệm đi kinh lý, nên có quá nhiều thiệt hại, mà nhất là thanh danh cho chế độ.  

Thiệt hại kinh tế cho nông dân không đáng kể. Trong tâm hồn chất phác của nông dân, khi bị buộc phải rời bỏ xóm làng quen thuộc và xa cách mồ mả tổ tiên là một mất mát tinh thần không thể bù đắp. Đó là lý do tại sao có nhiều người dân không hưởng ứng chương trình, lúc đầu tham gia vì bị áp lực, nhưng sau thời gian không thích nghi, cũng tìm cách ở về nơi cũ.

Tình hình an ninh nông thôn suy sụp, do đó, ngày 10 tháng 10 năm 1961, Tổng thống Diệm phải ban bố “tình trạng khẩn cấp trên toàn lãnh thổ”. Ngày 7 tháng 12 năm 1961, Tổng thống Diệm công khai thú nhận là “Việt Nam Cộng Hòa đang phải đối đầu với một thảm hoạ lớn nhất trong lịch sử” và gởi thư cho Tổng thống John F. Kennedy xin tăng thêm viện trợ quân sự trong khi các biện pháp viện trợ của Mỹ tỏ ra không hữu hiệu.

Bất ổn nội tình làm cho một nghịch lý thành hình: Tổng thống Diệm không thể áp dụng cùng một lúc việc quân sự hoá và dân chủ hoá cho chế độ. Khi càng dập tắt các tiếng nói của các thành phần đối lập ở thành phố, ở nông thôn đường lối đấu tranh của MTGPMN càng thu hút hơn. 

Thực tế cho thấy có nhiều nơi Việt Cộng kiểm soát 80% lãnh thổ, mức độ tử vong hằng tháng cho binh sĩ miền Nam lên khoảng 200 và số người bị thương lên hàng ngàn.

Thất bại này không phải là tại các vùng châu thổ sông Cửu Long đông dân, mà ngay trong vùng cao nguyên thưa thớt, nơi CIA có nhiều ảnh hưởng. Thành công của mô hình chiến khu Hải Yến ở Bình Hưng, Cà Mau do cha Nguyễn Lạc Hóa lãnh đạo những người Hoa chống Cộng không thể áp dụng cho cả nước, mà chỉ là một ngoại lệ.

Đâu là nguyên nhân? 

Thực ra, không phải chỉ có ông Ngô Đình Nhu, Cố vấn Chính trị, là chịu trách nhiệm toàn bộ trong sự thất bại này, mà chính giới tại Washington có liên đới.

Trong khi ông Nhu cho là chiến thuật ngắn hạn là ưu tiên thì Cố vấn Roger Hilmans đề cao các biện pháp quân sự. Do đó, các biện pháp đấu tranh chính trị và cải thiện kinh tế cần giới hạn trong giai đoạn này. 

Tướng Paul D. Harkins cho huy động trực thăng vận để yểm trợ các lực lượng bộ binh tại nhiều khu vực. Nhưng phương tiện dồi dào của Mỹ áp dụng cho khuôn khổ đấu tranh chống du kích chiến là không phù hợp, nhất là trong khi đang thiếu nhân tâm. 

Các cuộc hành quân bộ binh có trực thăng yểm trợ thành công rõ rệt vì đẩy lui được du kích quân về các căn cứ địa, nhưng không thể hủy diệt toàn bộ Cộng quân vì có nông dân còn bao che hoặc do thiện tâm hoặc bị bắt buộc. Sau năm 1963, các quốc sách này đều bị bãi bỏ. (Xem chi tiết trong bài John F. Kennedy và cuộc chính biến 1 tháng 11 năm 1963.)

Về sau, khi thời gian lắng động và nhìn lại trong toàn cảnh, tất cả các phe phái, cho dù là theo phe thua hay thắng cuộc, còn mang nặng tinh thần suy tôn cụ Ngô hay chống đối Ngô triều, đều có những nhận định chung giống nhau.

Một là, có nhiều lý do để cho nông dân bất đắc dĩ phải bao che cho cán binh Cộng Sản hoạt động, hoặc là vì mối quan hệ thân nhân, hoặc là áp lực khủng bố địa phương mà họ không thể làm khác hơn. 

Với trình độ đơn giản của nông dân, họ không có ý thức sâu xa về các mục tiêu đấu tranh giải phóng hay giai cấp, nhất là giai đoạn trước 1960, lý do chống Mỹ xâm lược chưa thành hình. 

Nông dân cũng không phải là giới “ăn cơm quốc gia thờ ma Cộng Sản“ như một thiểu số trí thức ở thành phố sau này. 

Hai là, nếu so với các biện pháp diệt Cộng cực kỳ đẫm máu được thi hành tại Mã Lai, Philippines hay trong chiến dịch Phượng Hoàng của chế độ Đệ nhị Cộng hoà, thì chính sách Tố Cộng và Diệt Cộng của ông Diệm đã không triệt để, bị bao che, một phần là vì chính quyền quá sơ hở hoặc bị mua chuộc. Do đó, mầm mống Cộng Sản vẫn còn và gây tác hại về sau.

Ba là, một lý do khác quan trọng không kém là kinh nghiệm chống du kích thành công tại Philippines và Mã Lai không thể áp dụng tại Việt Nam. 

Sau khi Edward Lansdale, vì nhiều lý do khác nhau, không tiếp tục nhiệm vụ giúp cho ông Diệm, kinh nghiệm tại Philippines không còn được ai tại Việt Nam quan tâm. 

Ý thức tầm quan trọng của vấn đề, Tổng thống Diệm có yêu cầu Sir Robert Thompson, một chuyên gia Anh chống du kích thành danh tại Mã Lai tiếp tục vai trò cố vấn. 

Theo ý kiến của Thompson, Việt Nam phải đặt trong tâm chiến lược trong đấu tranh chính trị với nông dân và sử dụng bộ binh, tuyệt đối tránh dùng không quân. 

Thompson bác bỏ ưu thế của không quân và chỉ trích Mỹ nặng nề khi ném bom xóm làng, trong khi Mỹ chủ trương sử dụng trực thăng vận là ưu tiên.

Do đó, kinh nghiệm của Thompson cũng như Lansdale không đóng góp nhiều cho Tổng thống Diệm trong việc chống Cộng.

Bốn là, chính sách về nông thôn của Tổng thống Diệm thoạt đầu có thành công nhất định; về sau, chính việc Tướng Nguyễn Khánh quyết định huỷ bỏ làm cho các hoạt động du kích phát triển mạnh hơn và tình hình an ninh nông thôn càng xấu đi. 

Khi thanh danh Tổng thống Diệm tại nông thôn không còn, thì trí thức thành thị bắt đầu nhận ra bản chất của chế độ Ngô triều, nên cũng lên tiếng chống đối.

Trí thức chống đối

Ngày 26 tháng Tư năm 1960, 18 trí thức gồm các viên chức cao cấp trong chính quyền đồng thanh lên tiếng yêu cầu cải cách chế độ qua một bảng Tuyên cáo mệnh danh là Caravelle.

Sở dĩ được gọi Caravelle vì địa điểm gặp gỡ là Hotel Caravelle, một khách sạn sang trọng bậc nhất của Sài Gòn, thực ra, danh xưng chính thức là Nhóm Tự do Tiến bộ.

Khách Sạn Caravelle Trước 1975 - YouTube
Khách sạn Caravelle, nguồn ảnh Wikipedia


Với lời lẽ rất ôn hòa, Bản Tuyên cáo của nhóm Caravelle cáo buộc các biện pháp chính trị, hành chính, xã hội và quân sự của chính quyền là sai lầm, làm cho dân chúng bất mãn và giảm tiềm lực đấu tranh chống Cộng. Để đối phó, chính quyền phải thực thi dân chủ và chấm dứt chế độ gia đình trị. 

Trong khi hình thức đối lập công khai của tầng lớp trí thức chưa thành hình trong một chế độ độc tài, nên Tổng thống Diệm phản ứng mạnh tay. Tất cả những người ký tên trong Bảng Tuyên bố Caravelle bị quy kết cho là có liên hệ với Cộng sản.

Dù là các chính khách tên tuổi, có nhiều ảnh hưởng trong xã hội, thuộc nhiều khuynh hướng chính trị, tôn giáo khác nhau, chống Cộng, hay đối lập, Bảng Tuyên bố gây tiếng vang quá khiêm nhường.

Sau đó, ngay trong nội các lại có nhiều bất đồng chính kiến gay gắt. Cuối cùng, hậu quả là việc bốn Bộ trưởng Lâm Lễ Trinh (Nội Vụ), Trần Trung Dung (Phụ tá Quốc Phòng), Trần Chánh Thành (Thông Tin) và Nguyễn Văn Sĩ (Tư Pháp) từ chức.

Cho đến ngày nay, các trí thức lãnh đạo nhóm Caravelle như Phan Khắc Sửu, Trần Văn Văn, Trần Văn Đỗ  được ca ngợi là là những nhân sĩ liêm khiết, họ vẫn còn được dân chúng nể trọng vì những đóng góp cao quý cho đất nước.

Đa số nông dân và thiểu số trí thức bất mãn ngày càng nhiều. Họ lên tiếng công kích chế độ, nhưng không có kết quả. 

Đến khi quân đội nhận thức là chế độ Ngô triều suy thoái, nguy cơ cho sinh mệnh của ông Diệm và chế độ trầm trọng hơn, đó là lý do xảy ra một cuộc âm mưu đảo chính. 

Quân đội đảo chánh

Tình hình an ninh nội chính càng bất ổn, ông Diệm càng có ý thức hơn về sinh mệnh cho cá nhân và chế độ. 

Cho đến năm 1963, ông đã bị mưu sát tất cả ba lần và đều bình yên. Nổi tiếng nhất là vụ ám sát ở hội chợ Ban Mê Thuột vào lúc 9 giờ sáng ngày 22 tháng 2 năm 1957. Mưu sự bất thành, hung thủ là Hà Minh Trí, 22 tuổi bị bắt ngay tại trận. Về sau, Cộng Sản đã hãnh diện lên tiếng xác nhận là đã đứng ra tổ chức cả ba.

Nhưng ngày 11 tháng 11 năm 1960 mới là lần đầu tiên quân đội chống chế độ bằng cách đảo chính.

Cũng giống như đa số nông dân và trí thức, hầu hết các tướng lãnh cáo buộc ông Diệm đã bổ nhiệm các người thân cận nắm quân đội và đề nghị là vợ chồng ông Nhu đang lạm quyền phải  xuất ngoại. Nguyện vọng này không được ông Diệm quan tâm. 

Do đó, một số sĩ quan cho là mâu thuẫn không còn giải pháp và cách hay nhất là phải lật đổ chế độ.

Không giống như các soạn thảo kế hoạch trong các lần sau, ngay trong lần đầu tiên này, mọi việc chuẩn bị diễn ra trong tuyệt mật, không có CIA hay Toà Đại sứ Mỹ tham gia. 

Đại sứ Mỹ Durbrow, dù có lên tiếng chỉ trích cá nhân Tổng thống Diệm, nhưng quan điểm chính thức của chính phủ Mỹ là vẫn giữ lập trường ủng hộ chế độ.

Hai nhân vật đầu não của tổ chức đảo chính là Đại tá Nguyễn Chánh Thi và Trung tá Vương Văn Đông. Tổ chức huy động được một Trung đoàn Thiết giáp, một đơn vị Hải quân và ba Tiểu đoàn Nhảy dù tham gia.

Lực lượng đảo chính tấn công vào ngày 11 tháng 11 năm 1960, nhưng không thể chiếm giữ các mục tiêu quan trọng như Đài Phát thanh Sài Gòn hay ngăn chặn các trục lộ giao thông chính vào thành phố. 

Việc bao vây Dinh Độc Lập bị trì trệ, nên Tổng thống Diệm tìm cách hoãn binh, và tuyên bố là sẽ thoả hiệp với phe đảo chính để thành lập chính phủ lâm thời, nhưng thực tế là tìm cách huy động các lực lượng trung thành với đến giải cứu.

Đại tướng Lê Văn Tỵ, Tổng tham mưu trưởng QLVNCH, dù đồng ý hợp tác tạm thời với phe đảo chính, nhưng yêu cầu phải thương lượng với Tổng thống Diệm để tìm giải pháp.

Cuối cùng, may mắn cho ông Diệm là lực lượng trung thành còn đủ thời gian đến kịp và cuộc giao tranh diễn ra trong chớp nhoáng và khốc liệt. Quân đảo chính không đủ khả năng chống trả nên bị tiêu diệt. Tổng cộng có khoảng 400 người chết, trong đó có cả thường dân hiếu kỳ đi xem. Sau đó, các sĩ quan và chính khách tham gia bị đưa ra xét xử. 

Ý thức được nguy cơ suy vong cho chế độ, Tổng thống Diệm càng thi hành nhiều biện pháp gắt gao. Để biện minh, ông Diệm cho là trong giai đoạn này hiểm hoạ xâm lăng của Cộng sản đã gần kề, chính quyền cần phải tập trung nguồn lực để bảo vệ đất nước. Các thành phần đối lập bị bắt giam nhiều hơn và một số bị mất tích.

Tóm lại, những thành tựu xây dựng của Tổng thống Diệm và quân dân miền Nam là đáng khâm phục. Nhưng kể từ năm 1960 trở đi, nhất là khi Mặt trận Giải phóng miền Nam (MTGPMN) ra đời, miền Nam và chính thể Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hoà đi vào một giai đoạn bất ổn triền miên  và kết thúc vào ngày 1/11/1963.


Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
25/05/202406:40:00
Một người luật sư trẻ, sanh ra, lớn lên và vẫn đang sống tại Việt Nam, có lần nói với tôi là khi khai trên giấy tờ, anh luôn luôn điền vào là mình không có tôn giáo, mặc dù gia đình anh và chính bản thân anh theo Đạo Phật, tại nhà anh có ban thờ Phật và anh cũng cố gắng giữ năm giới trong cuộc sống hàng ngày.
24/05/202408:03:00
Câu hỏi “Vì Sao Phật Giáo Suy Giảm?” khởi lên trong khi tôi đọc bài viết nhan đề “Why Actor Michael O’Keefe Renounced His Buddhist Vows” (Tại sao diễn viên Michael O'Keefe từ bỏ lời nguyện Phật giáo của mình?) trên tạp chí Tricycle ngày 22/5/2024. Bởi vì, tôi nghĩ, rất hy hữu để có một Phật tử như Michael O'Keefe, một trí thức Hoa Kỳ tài năng, viết tiểu thuyết, soạn kịch, làm thơ, đóng phim cả trên màn ảnh lớn và TV đều xuất sắc. Để nói cho rõ, anh chỉ rời bộ áo Thiền sư, nhưng không thấy anh nói chuyện rời Phật Giáo. Sau khi đọc bản tin trên, tôi tìm đọc bài viết giải thích chi tiết nhan đề “The Lost Robe” (Bộ Y Đánh Mất) trong ấn bản Mùa Xuân 2024 của Tricycle.
24/05/202400:00:00
Kể về mối quan hệ với nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, ông Phạm Văn Đỉnh – một nhà vật lý học sống tại Pháp -- nhắc lại một sinh hoạt văn nghệ ở Sài Gòn ở đó nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu “quơ tay chỉ một nhóm văn nghệ sĩ lau nhau”: “Mấy thằng Huế tụi bây, cứ làm văn nghệ cho tao, đừng làm chính trị cho dân nó khổ!” Lời bông đùa này, nếu thật sự xét nét, cũng có thể xem là kỳ thị địa phương nhưng chúng ta không nên quá khắt khe với lời vui của một nghệ sĩ, trong một khung cảnh rất là nghệ sĩ. Mà chúng ta cũng không có quyền chộp lấy như một thứ thước đo chính trị, xã hội và, thậm chí, một thước đo… dân số học. Thế nhưng, càng soi rọi lại những trang sử hiện đại, chúng ta sẽ càng tìm ra những bằng chứng rõ ràng, cả người, cả việc, không thể nào chối cãi.
20/05/202405:13:00
Hình ảnh Thầy Minh Tuệ xuất hiện trên các mạng xã hội y hệt như một trận bão truyền thông, làm dâng tràn những cảm xúc và suy tưởng. Những bước chân đơn độc của Thầy đã đi bốn vòng đất nước trong nhiều năm qua, để tu hạnh đầu đà là điều khó làm, không phải ai làm cũng được. Một hình ảnh chưa từng nhìn thấy, dù là trong tiểu thuyết hay phim ảnh: hàng trăm người dân, có khi hàng ngàn người dân, cùng ra phố bước theo Thầy, lòng vui như mở hội, niềm tin vào Chánh pháp kiên cố thêm.
20/05/202404:35:00
Chúng ta sẽ có 1 năm chuẩn bị từ tháng tư 2024 đến tháng tư 2025.Ghi dấu tưởng niệm toàn bộ các chương trình từ 1 đến 30 tháng tư-2025. Toàn thể các tổ chức và đoàn thể được mời tham dự qua các đề tài khác nhau. Ủy ban kính mới tất cả các đoàn thể quân dân chánh địa phương tham dự.
17/05/202400:00:00
Chữ “nếu” là chữ rất phức tạp như con dao ngàn lưỡi bén. Vì vậy, chữ “nếu” dẫn đến nguy hiểm nhiều hơn an toàn. Người đi trước đã nói, với chữ nếu tôi có thể nhốt cả Paris trong lòng bàn tay. Vậy mới hiểu: Nếu? Chủ nhật 28 tháng 4 năm 2024, thống kê CNN báo cáo: “Nhìn chung, 92% đảng viên Đảng Cộng hòa gọi thời kỳ nắm quyền của Trump là một thành công, trong khi chỉ 73% đảng viên Đảng Dân chủ cho rằng thời gian nắm quyền của Biden cho đến nay đã thành công. Trong số những người độc lập, 51% cho rằng nhiệm kỳ tổng thống của Trump đã thành công, trong khi chỉ có 37% coi nhiệm kỳ tổng thống của Biden là thành công. …… Tỷ lệ ủng hộ Trump trong cuộc thăm dò giữa các cử tri đã đăng ký giữ ổn định ở mức 49% trong cuộc đối đầu trực tiếp với Biden, giống như trong cuộc thăm dò quốc gia cuối cùng của CNN về cuộc đua vào tháng 1, trong khi tỷ lệ của Biden đứng ở mức 43%, không khác biệt đáng kể so với tháng 1. 45%.”
17/05/202400:00:00
Theo Wikipedia Hà Nội, tác phẩm Tuổi Hai Mươi Yêu Dấu của Nguyễn Huy Thiệp “vốn hoàn thành vào tháng 1/2003, đã được dịch ra tiếng Pháp và xuất bản từ năm 2005, cũng như được phát hành ở nhiều nước như Pháp, Bỉ, Thụy Sĩ, Canada. Vì ngôn ngữ nhạy cảm, cuốn tiểu thuyết phải chờ đợi 15 năm trước khi phát hành trong nước vào năm 2018.” Mà “nhậy cảm” thiệt, và “nhậy cảm” lắm. Tác giả viết như vậy đây: “Thời của tôi đang sống là thời chó má. Tin tôi đi, một trăm phần trăm là như thế đấy!”
10/05/202414:01:00
Thời gian gần đây hiện tượng sư Thích Minh Tuệ tu theo hạnh Đầu Đà đi bộ từ Nam chí Bắc đã được quần chúng đủ mọi thành phần ngưỡng mộ. Họ chờ đón sư ở dọc đường, cúi đầu hoặc quỳ xuống lòng đường để đảnh lễ, tặng đồ ăn thức uống, có khi tháp tùng sư một đoạn đường dài. Có khi họ tụ tập quanh sư tại nơi nghỉ chân, có khi là nghĩa địa, một ngôi nhà hoang, hoặc dưới tàng cây, ngồi quanh sư để nghe sư thuyết pháp hoặc vấn hỏi một số vấn đề. Đặc biệt tại Thanh Hóa có cả xe chở mấy chục học sinh Tiểu Học, tung tăng chạy tới để chiêm ngưỡng và vái lạy sư. Và lần đầu tiên một vị sư thuyết pháp tại một nghĩa địa.
10/05/202400:00:00
Nhập cư, immigrant, luôn luôn là vấn đề ở Hoa Kỳ và của người Hoa Kỳ. Và cũng là vấn đề của người Việt ở đây, chúng ta là người nhập cư qua những hình thức di tản, tị nạn, vượt biên, HO, bảo trợ, vân vân. Câu chuyện nhập cư có vẻ khôi hài một cách cay đắng khi nhìn lui lịch sử: Những người da trắng đầu tiên đến đất nước này, cũng là một dạng “người nhập cư.” Những làn sóng di dân theo sau tiếp tục từ châu Âu, cũng là nhập cư. Dân da đen bị bắt làm nô lệ, cũng là dạng nhập cư. Những dân Do Thái, dân năm châu bốn biển lánh nạn, lánh đói, lánh độc tài, lánh tù tội, đến đây, cũng nhập cư. Giờ đây và tiếp tục, dân vượt biển, vượt hàng rào biên giới, chui qua hầm… đều là người nhập cư. Rồi những người nhập cư sử dụng nhau, chống đối nhau, ghét bỏ nhau. Người nhập cư cũ không muốn người nhập cư mới. Người nhập cư cũ trở thành người bản xứ và không muốn chia xẻ với người nhập cư mới quyền sở hữu của mình.
10/05/202400:00:00
Sau khi phụ huynh tố giáo viên và nhà trường vì đã phát cuốn tiểu thuyết “Một thoáng ta rực rỡ ở nhân gian” của Ocean Vuong cho học sinh lớp 11 đọc, bởi trong đó có những trang “nhạy cảm”, trần trụi” về “cảnh giường chiếu”, nó đã bị sở Giáo dục thành phố HCM ra lệnh thu hồi. Sự việc này là một “ca” rất đáng suy ngẫm về nhiều mặt trong bối cảnh hiện nay của Việt Nam – từ tâm lý, văn hóa, giáo dục...