Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Rừng Phong Thu Đã Nhuộm Màu Quan San*

07/11/202111:46:00(Xem: 821)
Rung Thu Phong
Rừng phong thu. (nguồn: www.pixabay.com)



Màu quan san là màu gì? Bảng vẽ của họa sĩ không thấy nói đến, bảng màu mẫu cũng chưa từng nghe qua.  Ây vậy mà cái màu quan san nó tha thiết trong tâm hồn người, màu này đâu phải mới đây, đã hơn ba trăm năm rồi, mà nào phải từ khi cụ Nguyễn Du chế ra màu quan san thì cái màu quan san mới da diết như thế! Cả ngàn năm trước cái màu gây nhớ thương, gây u hoài trong lòng người đã có. Cái màu quan san tê tái khi Chiêu Quân sang Hồ, khi Tô Vũ ngoài biên ải ngóng về cố quận, khi Nguyễn Du đi sứ bên Tàu… 

Rừng phong đã nhuộm màu hay lòng người nhuốm màu thu? Những kẻ sống ở  vùng ngoại phương không ít thì nhiều, không cạn thì sâu ắt biết. Cái màu rừng phong đẹp lắm, rực rỡ lắm, đất trời như bừng lên, ánh nắng như lồng vào trong phiến lá. Nói muôn hồng nghìn tía không còn là ước lệ, không phải là tỷ dụ nữa mà hoàn toàn thật sự như thế. Hồng, đỏ, cam, vàng, nâu, tím, trắng… cứ thế mà lá phô diễn trước khi về với đất mẹ. Những chiếc lá sắc màu ấy có thật là lá chăng? Hay cũng chỉ là sự hội tụ hợp thành của ánh nắng mặt trời, hơi thở của gió, nước mát thiên nhiên, chất cứng từ đất mẹ. Những chiếc lá quanh năm xanh biếc, cung cấp dưỡng khí cho người và muôn loại hữu tình. Những chiếc lá reo ca với gió ngàn, chắn bão giông, che sức nóng và bức xạ của mặt trời… Khi lá đã hết trách vụ của mình lá vẫn còn hiến dâng cái đẹp lần cuối trước khi trở về đất mẹ. Lá sẽ hóa thành mùn đen và mùa sau lại tái diễn, cái vòng quay miên viễn kia vốn chẳng biết bắt đầu tự bao giờ và cũng chẳng ai biết khi nào sẽ kết thúc.
 

Thành Ất Lăng mùa này đẹp lắm, tuy không bằng núi rừng Colorado, New Hampshire, Virgina, Vermont… Nhưng vẫn đủ để quyến rũ những tâm hồn đa cảm. Ngày hôm qua nội thành Ất Lăng đã tưng bừng màu sắc cờ hoa mừng đội Braves vô địch quốc gia, một niềm hãnh diện của cư dân, dù là da trắng, da đen, da nâu, da vàng… Cuộc diễu hành kéo dài trên con đường Peace Tree, muôn ngàn người vẫy cờ hò reo. Những cây phong, cây bạch quả thả những chiếc lá vàng như rắc kim tuyến mừng các cầu thủ và cả người hâm mộ. Môn bóng cà na này là quốc hồn quốc túy của xứ Cờ Hoa, nó là đặc trưng của người Mỹ. Nói đến Mỹ thì lập tức nghĩ ngay đến bóng cà na, bánh hamburger và Coca Cola. Thành Ất Lăng là quê hương, là đại bản doanh của Coca cola, của đội Braves. Hóa ra thành Ất Lăng chiếm đến hai biểu tượng của xứ sở này rồi! 

Thành Ất Lăng vốn ở miệt đông nam nên nắng nhiều hơn mưa, nóng nhiều hơn lạnh, trời xanh quanh năm, tuyết trắng chỉ đỏng đảnh như gái dậy thì, chợt có chợt không. Vì ở gần miệt cuối nên nàng thu cũng đến chậm hơn so với những bang trên hướng bắc, nếu những bang ấy đã vàng từ hai ba tuần trước thì giờ này Ất Lăng mới trổ màu. Mùa này đi vào rừng cứ như bơi giữa biển sắc màu, duy chỉ có bọn thông, tùng, bách thì xanh quanh năm. Đẹp nhất, rực rỡ nhất có lẽ họ nhà phong và họ cây bạch quả. Bọn chúng nuốt lấy ánh mặt trời để rồi tỏa ra từ phiến lá. Tựa như bọn con nít lấy giấy kiếng màu bịt cái đèn pin. Nằm dưới gốc phong hay gốc cây bạch quả cứ ngỡ mình về với cổ tích xa xưa, giá mà chết ngay dưới hàng phong hay dưới gốc bạch quả thì diễm tuyệt biết bao, giá mà trút hơi thở cuối trên thảm lá vàng này thì còn gì thú vị bằng, nếu có thể đổi hơi thở để trở thành chiếc lá trong vô số chiếc lá kia thì vui biết nhường nào. Nằm dưới gốc phong lá phủ trên thân xác, đời nhẹ và đẹp biết bao. Làm thân con người trong cõi nhân gian này nhọc nhằn lắm, phải vất vả mưu sinh, phải chịu ràng buộc trong những mối quan hệ thân sơ, phải  gánh lấy hậu quả của chính mình trong quá khứ và bao nhiêu thứ phải khác nữa. Bởi vậy gã du tử ước chi hóa làm chiếc lá ngay ở cái khoảnh khắc này. Mình hóa thành chiếc lá, mình sẽ vui như lá, sẽ thở như gió, sẽ ấm như nắng trời, sẽ thanh khiết như nước và sẽ vững chãi như đất.  Gã du tử hoàn toàn không hối tiếc, sẵn sàng đổi thân để làm chiếc lá kia.

Mùa này những gã du tử đi lang thang dưới tán lá đầy màu sắc cứ như những kẻ đi tìm dĩ vãng. Có đôi khi trên những cung đường mòn cứ ngỡ lạc vào xứ sở “Bạch tuyết và bảy chú lùn”. Bạch Tuyết không thấy, những chú lùn cũng không làm sao nhận ra. Cả khối người mắt xanh da trắng thì biết ai là Bạch Tuyết đây? Thiên hạ cũng toàn là lùn cả thì làm sao phân biệt đâu là bảy chú lùn? Những người lớn, những bậc đại nhân thì hiếm gặp và chẳng mấy khi xuất hiện giữa đời. Bạch Tuyết không có nhưng những người bạn của Bạch Tuyết thì hiện diện ở nơi này, bọn nai, sóc, chim chóc...nhộn nhạo cả khu rừng. 

Mùa này trời đất phong quang lắm, có lẽ lá cây rụng dần nên thưa thớt, nhờ thế mà ánh sáng chiếu khắp mọi nơi. Phong quang vì sắc màu của lá làm rạng rỡ đất trời. Những chiếc lá kia mặc kệ sự đời, mặc cho ai ăn thịt bò dát vàng, mặc cho dân đen thiếu cơm áo, mặc cho chữ nghĩa nhì nhằng, mặc cho lòng người đa đoan… Những chiếc lá hạnh phúc biết bao, đem chuyện kẻ quyền thế ăn bẩn, ăn bạo vào chuyện những chiếc lá kia cũng là bất đắc dĩ mà thôi! Dù biết rằng nó sẽ làm ô uế chiếc lá, làm lấm lem sắc màu của thu, nhưng không thể không nói. Gã du tử chưa phải là chiếc lá, vẫn còn mang thân phận con người, vẫn còn là con dân một nước, nước dẫu xa, nhà dẫu cách nhưng lòng con dân không thể không hướng về. Muôn triệu người dân đang cơn dịch bệnh, chết chóc, khổ đau, túng thiếu, đói kém...nhưng quan quyền thì trơ như đá, dối như cuội, leo lẻo như vẹt học nói. Tiền một bữa ăn của quan có thể đủ gạo cho ngàn gia đình, một chầu nhậu của quan có thể đủ học phí cho ngàn em học sinh, một cuộc du hí của quan có thể đủ tiền chữa bệnh cho biết bao người. Quan vơ vét không chừa thứ gì, miễn nó phải thành tiền trong túi. Quan ăn cả đất đai, tiền bạc, tài sản tư lẫn công, ăn cả khí huyết, đờm dãi của những con bệnh. Ăn không chừa thứ gì, tích cóp không bao giờ biết đủ, dùng mọi thủ đoạn với nước với dân.

Những chiếc lá mùa này đẹp lắm, nhưng chưa hẳn đẹp bằng những tấm lòng tận tụy hy sinh vì đồng loại. Cây phong, cây bạch quả có vững chãi cũng không bằng sự trụ vững của những người lên tiếng vì nước vì dân. Chỉ có một điều là họ cô đơn quá, họ tranh đấu cho chính đồng loại nhưng đồng loại lại thờ ơ vô cảm hay quá nhút nhát e dè. Ngục tù, hình án, côn đồ… cứ như bầy quạ đen túa ra che chắn mặt trời. Ai đó bảo rằng, nghệ thuật không liên can đến chính trị, cái đẹp tách rời với chính trị. Thế những con người lên tiếng vì tự do không phải là cái đẹp sao? Những người tranh đấu vì đồng loại, vì người dân không phải cái tuyệt vời sao? Nếu nói như thế có khác gì con đà điểu rúc đầu vào trong  cát? Cái đẹp của thiên nhiên dễ nhìn, dễ thấy, dễ rung cảm. Cái đẹp của tâm hồn khó mà nhận ra, cái đẹp của lương tri càng khó thấy, cái đẹp của vô úy cũng không dễ được nhìn nhận. Tuy nhiên những cái đẹp của nhân cách con người mới đi sâu vào lòng người, mới tồn tại theo tháng năm, mới đi vào sử sách. Nghệ thuật mà xa rời đời sống, thì nó giống như món đồ chưng trong tủ kiếng chẳng ích gì cho đời. Nghệ thuật phải gắn liền với đời sống, phải phục vụ đời sống thì ấy mới chính là nghệ thuật. 

Lý thuyết thì mùa thu đã đến cả hai tháng rồi, nhưng thực tế thì thành Ất Lăng chỉ mới vào thu một tuần này mà thôi, trong vòng ba tuần tới là cao điểm của sắc màu. Thiên nhiên hóa một cõi địa đàng, lá không còn lãng đãng thả trong gió mà là từng cụm, từng vồng, từng mảng lá đổ xạc xào trong gió thu. Bầy vịt trời, chim trời đang hối hả bay về vùng nắng ấm. Có lẽ kỳ diệu nhất là những đàn bướm Monarch. Chúng cũng rực rỡ muôn màu như lá thu, chúng còn mong manh hơn cả chiếc lá, ấy vậy mà hàng năm họ nhà chúng bay di cư cả mười ngàn dặm, trên đường thiên di ấy, có vô số bướm bỏ lại xác thân với lá cỏ và cũng có vô số bướm con được sinh ra. Mười ngàn dặm là một khoảng cách vô cùng nghiệt ngã với cả con người chứ đừng nói chi là những cánh bướm mong manh kia. Thế mà bao đời nay chúng vẫn cứ đi về như thế! Thật đúng như nhạc sĩ họ Trịnh đã ca: ”Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt.” Con người mệt thật, mệt đến rũ rượi ra, mệt tưởng chừng như bỏ cuộc. Ấy vậy mà đàn bướm Monarch kia vẫn đi về hàng năm, vẫn đẹp, vẫn mong manh đến nao lòng. Cái đẹp nào cũng mong manh, càng đẹp lại càng mong manh, những tưởng mong manh sẽ bị bóp bể, sẽ bị bẻ gãy, sẽ đập nát tan bởi những cái thô tháo, cường bạo, dã man…

Nhưng không, Cái đẹp, cái mong manh vẫn tồn tại và đã tồn tại song song với con người. Những con người bị đày đọa trong ngục tối, bị hành hạ, bị bức bách kia vẫn không hề run sợ, không khuất phục tí nào. Những con người đáng tôn vinh ấy vẫn âm thầm như đất, như mùn để cho đời những chiếc lá mùa sau.

Mùa thu đã đến, đang đến và sẽ đến. Những chiếc lá đã lên màu, đang lên màu và sẽ lên màu. Những gã du tử vụng về giữa đường đời không biết đi về đâu? Cứ như những chiếc lá thả mình trong gió, những chiếc lá tưởng chừng vô tích sự biết đâu nguồn cội đi về. Lá vẫn sống trọn đời lá, lá cháy hết mình lần cuối trước khi về ngủ yên trong đất mẹ. Những gã du tử ước mình là chiếc lá, ắt cũng sẽ có một ngày hóa thành chiếc lá thông qua một nắm mùn dưỡng chất. Một chiếc lá có cả nắng trời, hơi thở trong lành của gió, thanh khiết của nước và mùn đen từ đất mẹ. Những gã du tử còn mang thân phận con người nhưng hồn hòa cùng sắc màu lá, bay cùng lá khắp cả đất trời.


TIỂU LỤC THẦN PHONG

Ất Lăng thành, 11/21

 

* Truyện Kiều – Nguyễn Du

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Đôi khi, có người tự hỏi, mình có tài, tại sao không có danh vọng phù hợp? Có thể vì không gặp thời, chuyện này hiếm hoi. Có thể vì không phát huy tài năng đúng mức. Có thể vì tưởng lầm mình có tài. Từ một tài năng có thật, biến thành hiệu quả để có danh vọng xứng đáng, đòi hỏi một hành trình tuy ngắn ngủi từ trí não đến hai bàn tay, nhưng xa vời như đường đi từ trái đất lên đến mặt trời. Nhưng trước hết, làm sao biết mình có tài hay không? Hỏi mẹ vợ, mẹ chồng, thì rõ.
Đã có những cuộc tình sôi nổi, mặn nồng lúc ban đầu, thề sống chết bên nhau đời này đời sau, muôn đời sau, nhưng rồi sự cảm thụ và ý tưởng của mỗi người thay đổi dần theo thời gian, tuổi tác. Sắc tàn, chí hao, có người muốn tìm những gì mới lạ, khích động hơn; lại có người nhìn ra những phai tàn trong đời sống, chỉ muốn an thân tịnh dưỡng, buông bỏ tất cả, quay về với chính mình… “Có chút tình thoảng như gió vội, tôi chợt nhìn ra tôi”
Nổi tiếng quốc tế như một người viết tiểu thuyết, và cũng nổi tiếng như một Thiền sư, Ruth Ozeki có một văn phong riêng, trộn lẫn các pháp ấn khổ, vô thường, vô ngã vào các chuyện kể trên giấy. Độc đáo như thế: Ruth Ozeki là một nhà văn, một đạo diễn phim ảnh và là một Thiền sư dòng Tào Động. Xin mở ngoặc nhỏ nơi đây, nói bà là Thiền sư, chỉ có nghĩa rằng, bà là một cư sĩ được trao cương vị người dạy Thiền. Sách và phim của bà, kể cả nhiều tiểu thuyết, đan xen các chuyện kể cá nhân vào các vấn đề xã hội, và chạm vào các chủ đề liên hệ tới khoa học, kỹ thuật, chính trị, môi trường, sắc tộc, tôn giáo, chiến tranh và văn hóa quần chúng.
Đối thoại với Trịnh Y Thư: Văn chương Nghệ thuật & Những điều khác. Đinh Từ Bích Thuý & Đặng Thơ Thơ thực hiện
Cung Tích Biền là nhà văn của lương tri, bởi mọi truyện ông viết đều đưa ra những chất vấn về bản chất của một nền đạo lý nhân bản. Nhà văn bằng ngôn ngữ vi diệu và huyền áo đã tạo dựng nên một không gian nghệ thuật đặc thù phong cách của riêng ông. Và ông dùng không gian nghệ thuật ấy để đối thoại với quá khứ, một quá khứ được soi lại qua những tra vấn để trở thành công án cho ngày hôm nay. – Đặng Thơ Thơ
Thơ của Holderlin giản dị, cô đọng, súc tích và thêm sự pha trộn giữa lãng mạn và cổ điển, nhất là cổ điển Hy Lạp, nên rất đặc biệt. Ông được xếp vào một trong những nhà thơ trữ tình xuất sắc nhất ở Đức. Một số nhà văn, triết gia lớn của Đức như Wolfgang Goethe, Friedrich Schiller, Friedrich Hegel und Friedrich Schelling là những người đồng thời với Hölderlin.
Cô luật sư trẻ mới ra trường, người được tòa chỉ định để bênh vực tôi, khi gặp mặt lần đầu, cô hùng hổ nhưng lúng túng khi nói, “Ông đừng nhận tội, tôi sẽ giúp ông thoát khỏi tội danh này. Tôi đã nhìn thấy một phương án.” Tôi nói, rõ ràng là tôi có tội. Cố ý phạm pháp. Tội này đã được tổ chức suốt 20 năm. Đã đánh cắp một khối lượng tài sản khổng lồ. Có tang chứng, vật chứng. Có hàng trăm ngàn nhân chứng. Tội sẽ nhận tội mà không mảy may hối tiếc. Khối tài sản khổng lồ đó đã tan biến vào trí não, tâm tư của dân Việt, tôi không có cách nào lấy lại. Tôi nhận tội. Cô luật sư cố gắng thuyết phục. Tôi hiểu cô cần công việc này. Cần có hồ sơ tranh cãi, dẫu không thắng cũng để lại những luận lý luật pháp như một bằng chứng tài năng cho tương lai. Ai cũng biết vụ kiện này sẽ thua. Nhưng nếu như thắng một vụ kiện không thể thắng, cô sẽ trở thành ngôi sao, sẽ được các văn phòng luật sư lớn chiếu cố. Đời cô sẽ thay đổi hào quan trong một ván cờ. Thắng bại không phải là chuyện quan trọng. Chỉ là c
Văn học người Mỹ Bản Xứ xuất hiện phong phú trong văn học truyền khẩu từ trước khi tiếp xúc với người Châu Âu và/hay sau khi áp dụng theo cách viết của người Châu Âu. Văn học truyền khẩu của người Mỹ Bản Xứ ngoài việc kể chuyện, cũng còn ca nhạc, tụng niệm, và thơ dùng cho các buổi lễ. Nhiều trong số những câu chuyện và ca nhạc này được những nhà nhân chủng học da trắng sao chép lại, nhưng thường mâu thuẫn đáng kể với các bộ lạc và thường bị hiểu sai hay dịch sai nghiêm trọng.Richard J. Chacon và Rubén G. Mendoza trong phần “Giới Thiệu” tác phẩm nghiên cứu “The Ethics of Anthropology and Amerindian Research: Reporting on Environmental Degradation and Warfare” [Đạo Đức Của Nhân Chủng Học và Nghiên Cứu Về Người Mỹ Da Đỏ: Phúc Trình Về Sự Suy Thoái Môi Trường Và Chiến Tranh], được phổ biến vào năm 2011, đã viết rằng: “Trong nỗi thống khổ của cuộc tấn công của thực dân, các nhà nhân chủng thường không nhận thức hay nhận thức ngược lại giá trị lịch sử và văn hóa
Nhà văn lưu vong, Abdulrazak Gurnah, từ quê quán ở miền Đông Phi đến Anh Quốc năm 18 tuổi. Hành trình xa quê hương gần 55 năm với bút mực và sách đã mang lại cho ông giải Nobel văn chương 2021. Vượt qua một số tên tuổi hàng đầu trong năm nay như Margaret Atwood ở Canada, Lyudmila Ulitskaya ở Nga. Nhà văn Châu Phi trước ông lãnh giải Nobel văn chương 1986 là Wole Soyinka. Lưu vong, danh từ này quen thuộc, Gurnah nói, chuyện tị nạn, di cư “là những gì hiện diện với chúng ta mỗi ngày” - thậm chí nhiều hơn cả khi ông mới đến tị nạn ở Anh, năm 1960. “Người ta đang chết, đang bị tổn thương trên khắp thế giới. Chúng ta cần giải quyết vấn nạn này bằng một cách tử tế nhất.” (Associated Press. 10, 07, 2021.) Nhận diện ý thức và tâm tư trên, Viện Hàn lâm Thụy Điển cho biết giải thưởng này để công nhận “sự thấu hiểu không khoan nhượng và nhân ái của Gurnah đối với những tác dụng của chủ nghĩa thực dân và số phận người tị nạn.” Báo chí đề cao ông là nhà văn có kinh nghiệm vượt qua các lục địa
Ngài Ryokan sinh năm 1758, viên tịch năm 1831. Ryokan ra đời trong năm 1758 (ngày chính xác không rõ), tại ngôi làng hẻo lánh ven biển Izumozaki, thuộc tỉnh Echigo, bây giờ gọi là Quận Niigata. Vùng này, Honshu phương bắc, còn đuợc gọi là “xứ tuyết,” nơi các trận tuyết mùa đông dày ngập tới nổi buộc cư dân phải rời nhà và vào lại nhà họ bằng tầng [lầu] thứ nhì.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.