Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Abdulrazak Gurnah Nobel Prize 2021

29/10/202100:00:00(Xem: 979)

 

Abdulrazak-Gurnah-Nobel-Van-Chuong-01
Nhà văn Abdulrazak Gurnah

  

Nhà văn lưu vong, Abdulrazak Gurnah, từ quê quán ở miền Đông Phi đến Anh Quốc năm 18 tuổi. Hành trình xa quê hương gần 55 năm với bút mực và sách đã mang lại cho ông giải Nobel văn chương 2021. Vượt qua một số tên tuổi hàng đầu trong năm nay như Margaret Atwood ở Canada, Lyudmila Ulitskaya ở Nga. Nhà văn Châu Phi trước ông lãnh giải Nobel văn chương 1986 là Wole Soyinka.

Lưu vong, danh từ này quen thuộc, Gurnah nói, chuyện tị nạn, di cư “là những gì hiện diện với chúng ta mỗi ngày” - thậm chí nhiều hơn cả khi ông mới đến tị nạn ở Anh, năm 1960. “Người ta đang chết, đang bị tổn thương trên khắp thế giới. Chúng ta cần giải quyết vấn nạn này bằng một cách tử tế nhất.” (Associated Press. 10, 07, 2021.) Nhận diện ý thức và tâm tư trên, Viện Hàn lâm Thụy Điển cho biết giải thưởng này để công nhận “sự thấu hiểu không khoan nhượng và nhân ái của Gurnah đối với những tác dụng của chủ nghĩa thực dân và số phận người tị nạn.” Báo chí đề cao ông là nhà văn có kinh nghiệm vượt qua các lục địa và các nền văn hóa, đã đưa vào tiểu thuyết về tác động của di dân đối với cá nhân và xã hội.   

Gần đây, Abdulazak Gurman đã nghỉ hưu từ công việc giáo sư chuyên về văn chương Hậu lục địa ở đại học Kent. Hôm thứ năm ngày 20 tháng 10, ông đang đứng trong bếp tại nhà riêng ở vùng đông nam nước Anh. Điện thoại reng, bắt lên, nghe tin ông được giải Nobel năm nay. Thoạt đầu, ông tưởng là trò đùa. Ai đó muốn trêu ông mừng hụt. Ông thừa nhận, cùng bạn bè đã theo dõi tin tức Nobel mỗi ngày, nhưng không nghĩ, ông may mắn được vinh dự đó.

 

Gurnah, nhà văn kết nối con người và vùng địa lý

Truyện của Gurnah mang tính điều tra những câu chuyện trong đời sống lưu vong. Đồng thời, ông cũng quan tâm sâu sắc đến bản chất chia rẽ từ sự thống trị của thực dân, sự phân biệt chủng tộc, sự bài ngoại đối với ngoại quốc. Tác phẩm ông nêu ra những gì có thật để cung cấp cho người đọc niềm tin vào bề xấu của bạo lực. Tâm lý kỳ hoặc trong việc hủy hoại đời sống người khác mà họ cho là không quan trọng hơn của chính họ.

Tác phẩm của ông dường như yêu cầu người đọc đừng đóng câu truyện lại, dù đã đọc hết. Đừng cảm tưởng như đã thu thập đầy đủ kiến thức về vấn nạn chủng tộc. Mà mở rộng tầm nhìn đến những sự kiện mới, cập nhật, của di dân, dí trú.

Văn phong ông dí dỏm, châm biếm, tự phản biện, gài nhiều quan điểm, tạo ra sức hấp dẫn. Nội dung truyện thường xảy ra ở Châu Phi và nhiều nơi khác trên toàn cầu. Tạo ra khái niệm: Điều quan trọng là phải tìm thấy người khác trong mối liên hệ với chúng ta, nhận thức được quyền sinh sống của họ, kể cả khi họ chưa thuộc về một quốc gia nào. Ông đưa ra những thực trạng như người di dân bị đe dọa khi tình trạng công dân được đặt ra. Hoặc sự hiếu khách có điều kiện trong khi nhập cư. Tại sao người tị nạn, người di dân, hầu như không có được phẩm giá, mà nhân loại chung đòi hỏi? Sự từ chối thừa nhận nhân tính con người và những hậu quả khủng khiếp của nó là những chi tiết khám phá trong truyện của Gurnah. (Tuyển chọn và tóm lược một phần bài viết trong This Is Africa, Ngày 11 tháng 10, 2021.)  

Anders Olson, chủ tịch Ủy ban Nobel văn chương, gọi Gurmnah là “nhà văn hậu thuộc địa nổi bật nhất thế giới.” Nhà văn này xuất thân từ Zanzibar, một địa điểm đa ngôn ngữ, mang tính quốc tế rất lâu trước khi thời đại toàn cầu hóa. Olson nhận định: “Tác phẩm của ông ấy cho chúng ta một bức tranh sống động và chính xác về một đất nước Châu Phi khác, một nơi không quá nổi tiếng đối với nhiều người. Một khu vực ven biển mé trong và dọc theo Ấn Độ Dương, mang dấu ấn bởi chế độ nô lệ, những hình thức đàn áp của các chính thể, và bạo quyền của lục địa khác nhau như: Bồ Đào Nha, Ấn Độ, Ả Rập, Đức, Anh …”  Về tiểu thuyết, Olson nhận xét: Các nhân vật của Gurnah “tìm thấy bản thân trong hố sâu giữa các nền văn hóa … giữa đời sống bỏ lại sau lưng và đời sống trước mặt sắp đến. Phải đối diện với sự kỳ thị chủng tộc và những định kiến không tốt, nhưng họ bắt buộc phải im lặng trước sự thật hoặc biến chế lại tiểu sử để tránh xung đột trong thực tế.” (Trích cùng Associtated Press.)

Trong cuộc nói chuyện với The Wright State Guardian, 29 tháng 9 năm 2004,  Gurnah nói : “Tôi biết mình đến Anh viết văn trong sự ghẻ lạnh, bây giờ, tôi nhận ra, chuyện đến từ nơi này và sống ở nơi khác đã là đề tài của tôi viết trong nhiều năm qua, không phải chỉ vì tôi đã trải qua kinh nghiệm mà còn là những câu chuyện của thời đại chúng ta đang sống.” Ông tự mô tả động lực thúc đẩy ông phải viết là tìm kiếm “điều gì đó chưa nói, chưa từng nghe bao giờ.” 

 

Đặc Điểm Về Sáng tác

Hầu như ít thấy nhà phê bình hoặc điểm sách bàn thảo hoặc phân tích về phương diện sáng tạo trong sáng tác của Gurnah. Có lẽ, mọi tập trung đều nhắm về trọng điểm trong văn chương đấu tranh kỳ thị và nhân quyền.

Xét chung về các tác phẩm, người đọc sẽ nhận thấy cấu trúc dàn dựng và kỹ thuật kể truyện của ông có nhiều điểm khác thường.

Ví dụ, trong tác phẩm Desertion, ông sử dụng nhiều giọng tự sự khác nhau để trình bày ý tưởng. Mỗi giọng kể là một góc nhìn, từ đó các sự kiện được quan sát và tường thuật. Các tường thuật viên gồm có: Ngôi thứ nhất Tôi, chúng tôi; ngôi thứ hai; ngôi thứ ba, số ít; đám đông … Nhiều góc cạnh tự sự sẽ nâng cao mức độ khách quan, làm sự việc xảy ra trung thực hơn, dễ tin hơn.

Cấu trúc tự sự là một khung cấu trúc làm cơ sở thứ tự cho cách thức trình bày cốt truyện và bối cảnh. Gurnah tìm thấy sự liên hệ quan trọng giữa lời tự sự và cấu trúc tự sự. Dù là cấu trúc theo thứ tự thời gian trên một đường thẳng hoặc cấu trúc ráp đoạn, ông đã thực hiện những thay đổi này một cách độc đáo. Tác phẩm Desertion được đánh giá cao trên tác động giữa kể truyện và cấu trúc tự sự.  (Trích The Narrative Voice in Abdulrazak Gurnah’s Desertion, Anne Minayo Mudanya. Trang 11-12.)


Abdulrazak-Gurnah-Nobel-Van-Chuong-02
hình bìa tác phẩm Paradise


Trong tác phẩm nổi bật của ông, Paradise 1994, lọt vào danh sách rút gọn cho Giải thưởng Booker và Giải Whitbread, ông đã sử dụng kỹ thuật tạo cho các nhân vật im lặng trước những sự việc đáng lẽ phải thét gào, phản kháng. Sự im lặng không những tạo thêm nỗi đau buồn trong thế giới câu truyện, mà còn tạo cho người đọc thương cảm và phản đối bạo quyền. Khi Vijay Nair (2012) phỏng vấn ông về tác phẩm Paradise, Gurnah nói về nỗi buồn: “Kinh nghiệm sống làm chúng ta đau buồn, càng trải qua nhiều kinh nghiệm chúng ta càng bị đè nặng. Cuối cùng chúng ta trở thành giống như những người già, bị đè nặng bởi những điều chúng ta không thể quên.” Thông điệp này được các nhân vật trong Paradise truyền đi qua sự im lặng.

Ngoài việc sáng tác tiểu thuyết và truyện ngắn, Gurnah còn đóng vai trò học giả, một học giả xuất sắc, đóng góp những luận văn, tiểu luận, bài báo cho các tạp chí như Times Literature Supplement, Research in Africa Literatures, World Literature Today … Tham gia các chương trình truyền hình và  đài phat thanh quốc tế như BBC, chương trình Hardtalk  … và những hoạt động văn hóa văn học khác, như chủ tịch hội đồng giám khảo cho giải thưởng Caine, năm 2003. Chủ biên cho Essays on African Wrting của Heinemann, năm 1993.

Abdulrazak Gurnah sinh năm 1948. Quê quán tại Zanzibar, bên bờ biển Tanzania, thuộc địa của người Anh. Giành lại độc lập năm 1963, tạo ra nhiều biến động, đưa đến cuộc cách mạng tháng Giêng năm 1964. Những hình ảnh sâu đậm này đều xuất hiện trở lại trong những cuốn tiểu thuyết và những truyện ngắn của Gurnah.

Ông rời quê hương đến Anh tị nạn, năm 1967, và cư trú ở đó cho đến hôm nay.  Tốt nghiệp PhD tại đại học Kent và dạy văn chương Anh ở đại học này từ năm 1985.

 

Tác phẩm.

Tiểu thuyết:

Memory of Departure (1987), Pilgrims Way (1988), Dottie (1990), Paradise (1994), Admiring Silence (1996), By the Sea (2001), Desertion (2005),The Last Gift (2011), Gravel Heart (2017), Afterlives (2020),

Truyện ngắn:

"Cages" (1984), "Bossy" (1994), "Escort" (1996), "The Photograph of the Prince" (2012), "My Mother Lived on a Farm in Africa" (2006), "The Arriver's Tale", (2016), "The Stateless Person's Tale",

 

Giới thiệu tóm lược truyện ngắn

“Escort”

của Abdulrazak Gurnah

 

Người Dẫn Đường

(Ghi chú: Chữ nghiêng là dịch từ bản gốc. Chữ thẳng là lời người dịch tóm lược.)

 

Tôi biết anh ta đã nhìn thấy tôi đang tiến lại gần nhưng vì lý do nào đó, vẫn giả lơ. Dừng lại bên cửa sau của xe đang mở, chờ anh ta nhìn lên. Anh gấp tờ báo đang đọc, trườn ra khỏi cửa, liếc nhìn tôi một thoáng ra vẻ không ưa. Tôi đứng lặng người, lòng trống rỗng, lấy làm lạ. Có lẽ, không phải không ưa thích, mà đơn thuần chỉ là bực mình theo thói quen không vừa ý từ tình trạng sống mệt mỏi tẻ nhạt, một sự bất mãn. Nhưng cảm tưởng như không ưa. Anh hất mặt, hơi đưa cằm ra phía trước, ngụ ý hỏi tôi muốn gì. Sau khi nghe tên khách sạn, anh gật đầu, như thể bị bắt buộc, như thể anh mong đợi tôi nói tên một nơi không thể đến. Ngồi phía trước bên cạnh anh, cảm giác thách thức một con thú, nhưng cũng thừa nhận vẻ bực tức vì sự hiện diện của tôi đã gây ra. Ngồi bên cạnh để anh có cơ hội thấy tôi không phải là người khó ưa như anh nghĩ. Tôi không thể nào tránh khỏi việc phát hiện cơn giận của anh. […]

Giờ ăn trưa xe cộ đông đảo, lái chậm lại, anh liếc nhìn cái cặp nằm trên đùi tôi. Rồi anh nhướng mắt nhìn thẳng vào mặt tôi. “Ông từ đâu đến?” Uốn giọng lên xuống làm cho câu hỏi bớt đột ngột, nhưng vẫn nghe ra âm thanh gầm gừ từ oán hận. Tuy thế, anh đặt câu hỏi như thể e ngại tôi sẽ trì hoãn quyền được hỏi của anh. “Unatoka wapi?” Anh lại làm chiếc xe lảo đảo, rồi dựa ngửa, đặt khủy tay lên cánh cửa xe. Anh gầy và căng thẳng. Khuôn mặt uể oải ra vẻ bất cần đời. Tôi quay lại tỏ ý quan tâm đến câu hỏi. Có điều gì hằn học, giằn vặt hiện lên khuôn mặt đang chuyển động đó, khiến tôi nghĩ rằng anh đã trải qua một cuộc sống hiểm nguy và có khả năng hành động độc ác để xoa dịu sự đau đớn của mình. Tôi cảm thấy sợ hãi và chán ghét sự tò mò. Chỉ muốn chuyến xe đưa tôi đến nơi càng sớm càng tốt. Đáng lẽ, nên bỏ đi ngay lập tức sau khi thấy cái nhìn cay đắng của người tài xế. Anh ta lại liếc nhìn cái cặp tay và trên mặt thoáng nét cười chế giễu sự nghiêm trọng của người cạnh bên. Chỉ là cái cặp nhựa rẻ tiền, tay cầm cứng và zip kéo vụng về. Có lẽ, chỉ còn dùng trong vài tháng nữa, không cần phải bị quan sát kỹ như vậy.



“Nơi nào?” Anh vừa hỏi lại vừa gật gù chú ý nhìn cái cặp tay. 

“Uingereza,” Anh Quốc, tôi hạ giọng nhẹ nhàng.

“Sinh viên?” Anh khịt mũi.

Có lẽ, ý của anh, tôi là một trong những người đi làm việc thiện nguyện trên thế giới, rồi trở về với những câu chuyện xứ lạ và cái cặp tay rẻ tiền. Phải chăng tôi là một trong những người thất bại đã làm một điều đáng xấu hổ và liên tục gửi về những nghiên cứu với tính toán thông minh để mang lại một ít tài sản trong những chuyến đi vui vẻ? Khuôn mặt anh ta hớn hở đầy ác ý, chờ xem tôi lúng túng trả lời ra sao. Khi bắt đầu câu chuyện, tôi dự đoán anh sẽ cho tôi biết, trong khi mọi người bỏ chạy, anh phải ở lại để chăm sóc một gia đình bệnh hoạn, bất kể những kỳ vọng mà các giáo viên và các người cố vấn đã đặt lên anh từ lúc còn nhỏ. Tôi nói tôi là thầy giáo. Lần này anh khịt mũi nghe rất rõ ràng. Chỉ vậy thôi sao? […]

“Uingereza,” anh vừa hát vừa cua trái vể hướng bến tàu, nơi khách sạn của tôi. “Uingereza,” anh lập lại, “Một xứ sở xa hoa.”

Tôi hỏi: “Anh đã đến nơi đó lần nào chưa?”

Câu truyện Người Dẫn Đường kể lại cuộc gặp gỡ tình cờ giữa một thầy giáo, công dân Anh, gốc người Swahihi, Châu Phi, trở về quê hương trong một chuyến công tác, và một anh tài xế, người bản xứ, tên Salim, tính tình nóng nảy, mặc cảm, nhưng có một quá khứ chứng tỏ là một kẻ chịu chơi, một lãng tử. Trên đường đưa người đồng hương ở hải ngoại về khách sạn, anh tài xế tỏ vẻ khinh thường và chế giễu người khách. Sau khi biết được người khách hiện đang cư ngụ ở Anh, Salim kể lại, anh đã từng đến đó với một phụ nữ Mã Lai, tên Betty, đã bỏ chồng đi giang hồ. Anh gọi là cô điếm Âu Châu. Cô thừa hưởng một số tiền lớn, đưa tình nhân đi du lịch, Salim đến Anh, Pháp, kể cả Úc Châu. Một cuộc tình sôi nổi, xa xỉ, và xác thịt. Không chỉ một mình Betty, anh liên hệ tình dục với nhiều phụ nữ khác. Sống một chuỗi ngày giàu sang hả hê. Thầy giáo hỏi: “Việc gì đã khiến anh trở lại nơi này?” Anh nói, đến một lúc nào đó, bạn phải ngưng cuộc chơi, trở về quê nhà với dân tộc. Tiếp tục ở những nơi khác, sớm hay muộn, sẽ trở thành thằng hề.

Trong vài ngày công tác ở Swahihi, ông thầy giáo quen biết Salim nhiều hơn, anh ta thường xuyên đến khách sạn chuyện trò và đề nghị đưa người khách đi chơi ở một câu lạc bộ trong làng. Trong khi trao đổi câu chuyện, Sa lim thường trêu cợt, không ưa thích những người da trắng. Có lần anh nói: “Thông thường họ không ra khỏi khách sạn cho đến khi xe taxi chúng tôi chạy vào tận nơi. Ông có biết họ cho những con khỉ đầu chó mặc đồ gì không? …. Mặc yếm vàng và thắt nơ đen. Tôi biết những người bản xứ phục vụ bên quày rượu cũng mặc áo trắng, thắt nơ đen, và mang tạp dề màu vàng…” 

Câu lạc bộ đêm mà Salim mô tả về ăn chơi hóa ra chỉ là một căn phòng phía trước của căn nhà đầy bùn và nước, được thắp sáng bằng ngọn đèn dầu. Hai người đàn ông khác đã có mặt ở đó, đứng dậy chào đón như thể đang mong đợi chúng tôi. Người thanh niên tên Majid, người trung niên tên Buda. Uống bia, ăn các món đặc sản. Một ngôi nhà tối trong rừng nơi những người đàn ông tụ tập uống rượu bí mật.

“Họ sẽ mang thêm nữa,” Buda nói một cách trấn an. Ông ta biểu lộ sự lẫn lộn giữa nóng nảy gần như khó kềm chế và ác tâm cáu kỉnh, hờn giận mà tôi từng thấy ở Salim. Có lẽ, họ sẽ mang thêm đồ uống. Phải rất là nghiêm túc, thậm chí bị ám ảnh, về thứ gì đó để trở thành người uống rượu trong làng phố hồi giáo như thế này. Một nơi không thể uống rượu tùy thích và trước sau gì cũng bị bắt gặp. Có lẽ, mặc cảm tội lỗi vì phạm pháp đã tạo ra sự tự kinh bỉ rồi giận dữ, hoặc cần thiết phải tiêu thụ bất kỳ chất độc hủy hoại nào sẵn có trong một nền văn hóa thiếu thốn tạo ra vẻ mặt ngoài khốn khổ. Hoặc có thể, đó là sự oán hận không được giải quyết đã thúc đẩy những người này uống rượu bất chấp mọi nguy hiểm. Làm sao tôi biết được?

Salim nói với vẻ hài hước, giọng khàn khàn, gật gù nơi mặt bàn trống: “Tôi có thể thấy hai bạn không bận tâm buổi cầu nguyện Maghreb hôm nay.” Hai người kia bật cười trước sự mỉa mai của anh ta. Salim cũng cười nhưng miễn cưỡng, khuôn mặt nhăn trong thoáng chốc càng nhăn thêm. Tưởng chừng anh đang bị đốt cháy. […]

Một cô gái ăn mặc rách rưới, bẩn thỉu bước ra từ phòng bên trong, bưng hai chai bia. Đôi mắt cô tận cùng vô cảm, cần phải cố ý tập trung khi muốn nhìn thứ gì. Cô đặt một chai bia trước mặt tôi. Khi cô nghiêng người, tôi nhìn qua vết rách trên áo dưới nách, thấy được một cơ thể đầy đặn và tươi trẻ. Chai còn lại, mang đến trước mặt Salim. Anh sờ mông cô làm cô nhăn mặt. Majid đột ngột nói: “Aziza, bạn chúng tôi đến từ Ulaya muốn em đó.” Bật cười khạt ra hai tiếng lớn như chó sủa. Cô ấy quay nhìn tôi với một chút quan tâm. Rồi đứng im chờ đợi như thể đón nhận chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo.

Salim: “Dẫn cô ấy vào phòng đi.” Cười nhe răng như một xác chết. Cô ta nhăn mặt. Tôi quan sát, khuôn mặt cô nhỏ và nhọn, thân hình thon gọn trẻ trung, không thấy sự phản kháng nào trên đó. Tôi lắc đầu. Ánh mắt cô sụp xuống. Majid cười rồi đứng lên. Cô gái quay lại đi vào phòng, tay đã bắt đầu kéo áo lên, trong khi Majid lắc lư đi theo sau.   

Rời khỏi câu lạc bộ ăn chơi nhầy nhụa, Salim đưa thầy giáo đến dự một đám cưới. Xe ngừng lại lúc gia đình và bạn bè hộ tống chú rể đến trước cửa nhà cô dâu. Hai người đánh trống gầy gò trông giống nhau, chơi với vẻ mặt căng thẳng một cách thản nhiên, mắt họ hướng theo những tiếng ồn ào đó. Ngôi nhà trang hoàng bằng lá dừa và dây đèn màu giăng ngang bức tường phía trước. Bên trong vọng ra tiếng người phụ nữ hát, rôi đột nhiên, tiếng hát chuyển thành một tràng reo hò vui sướng khi chú rể bước đến trước cửa nhà. Đám đông người bu quanh, hét lên những lời lẽ thô tục trêu ghẹo chú rể. Thình lình vỡ ra tiếng reo hò khi chú rẻ được thừa nhận, bước chân vào nhà. Tiếp theo là thực phẩm và bia rượu dọn ra.

Trên đường trở về khách sạn, Salim nói: “Cô dâu là bà con bên mé vợ tôi.”

Tôi chưa bao giờ nghĩ Salim có vợ. “Anh đã kết hôn trước khi bồ bịch với Betty?”

“Vâng,” Xe chạy trên con đường thiếu ánh sáng dẫn đến sân dịch vụ máy xe. Ngay cả trong ánh sáng lờ mờ đó, tôi vẫn có thể nhìn thấy sự căm ghét, giận dữ trên mặt anh. “Tôi đã kết hôn từ lâu rồi.”

“Anh quay về đây là vì cô ấy.”

Những người sống với lòng cay cú, vì mặc cảm thua sút, thất bại, lâu ngày, thường rơi vào tình trạng thường xuyên oán hận, ghét bỏ, nóng giận, bực tức, để rồi trở thành cá tính. Và thể xác cũng sẽ gia tăng bệnh tật. Salim thuộc vào trường hợp này. Thường khi, chịu đựng một thời gian, người phụ nữ chăn gối sẽ có phản ứng. Salim mất vợ.

Cô tình nhân Betty cưu mang anh một thời gian. Chia tay trong một trường hợp lạ kỳ. Mất Betty lại là một thất bại tiếp theo. Sự thất bại khi có tuổi sẽ nặng nề thương tích dai dẳng hơn lúc trẻ. Khi tự biết không còn cơ hội trở mình hoặc ngoan cố không muốn thay đổi hoặc ngu xuẩn tự tin mình đúng, đổ lỗi cho số mạng, người đó tự hãm hại mình và lôi kéo những người thương yêu họ chìm theo .

Anh cười khúc khích. Một lúc sau, với tiếng xe gầm gừ trên con đường gồ ghề, anh nói: “Cuối cùng, cô ấy đã cho tôi một thứ gì không rõ. Cô Mã Lai đó. Khi tôi ngủ với cô, tự nhiên hạ bộ tôi chảy máu. Đi bác sĩ do Betty chọn. Khám xong, ông nói, không có bệnh gì, nhưng cô ta quyết định không để tôi ở lại. Chẳng biết bệnh quái quỉ gì, nhưng bất cứ khi nào gần gũi phụ nữ, máu lại chảy ra.”

Chúng tôi im lặng. Khi xe dừng bên ngoài khách sạn, tôi hỏi: “Từ khi trở về đây, anh đã đi bác sĩ khám bệnh chưa?”

“Bác sĩ nào? Ở đây làm gì có bác sĩ.” Anh trả lời, đăm đăm nhìn phía trước. Rồi chợt quay về hướng tôi, mở nụ cười dịu dàng, ngây ngô. “Ngày mai, ông cho tôi đi với ông. Tôi sẽ gặp bác sĩ bên đó. Dẫn tôi theo, tôi sẽ làm tất cả những gì ông muốn.” Anh nghiêng người về phía tôi, nụ cười giờ đây đang tự cầu xin hiện lên trên khuôn mặt chai đá một cách lố bịch.     

Từ mặc cảm của anh tài xế lái xe đối với người đồng hương thành công ở hải ngoại, từ sự mâu thuẫn tự nhiên giữa người được xem là may mắn và người tự cho mình số phận hẩm hiu, anh tài xế thay đổi thái độ đối với ông thầy giáo. Vì sao? Vì sự hiểu biết và lòng tử tế tạo ra cảm thông. Dường như bất kỳ những khó khăn xung đột nào, cũng có thể giải quyết ít nhiều bằng sự cảm thông chân thành.

Ngày hôm sau anh lại đến để đưa tôi, mặc dù tôi đã nói, sẽ tự mình ra phi trường. Vẫn lối trò chuyện kèm theo ác ý, ngạo nghễ thường ngày và chế giễu bất kỳ chuyện gì lọt vào tầm mắt. Cho dù tôi cố gắng thuyết phục anh thả tôi xuống trước phi trường rồi quay về, anh vẫn đậu xe để đi bên cạnh tôi với tờ báo cuộn trong tay.

“Một cặp da giống như cái của ông, khoảng độ bao nhiêu tiền? Lần tới, mang cho tôi một cái. Hoặc gửi cũng được, tôi bảo đảm sẽ hoàn lại số tiền. Không phải ông cần tiền của tôi trong xứ sở xa hoa đó, nhưng cho lúc trở về, một lúc nào, ông sẽ ngừng trò chơi này và quay lại cố hương. Tất cả mọi người đều làm như vậy, nếu không, họ sẽ là câu chuyện cười trong những xứ sở xa lạ.”

Chiếc cặp tay mà tác giả cài vào ngay từ đầu câu truyện, cho người đọc cảm tưởng, anh tài xế có mưu đồ đánh cắp, hoặc kinh bỉ ông thầy giáo hải ngoại làm dáng với cặp tay theo kiểu áo gấm về làng, đến đoạn chót mới vỡ lẽ, đây là sự yêu thích. Anh tài xế cũng muốn có một cặp tay. Để làm gì? Xóa một ít mặc cảm chăng?

Tôi bắt tay rồi đưa cho anh tất cả số tiền địa phương còn lại. Anh nhìn xấp tiền dày cộm với vẻ ngạc nhiên. Tôi nói: “Hy vọng sức khỏe của anh mau bình phục.” Anh cười toe toét: "Ông muốn nói cái gì?” Bỏ tiền vào túi. “Lần sau, ông phải ở lại.” Anh quay lưng bước đi, vẩy tay nhưng không nhìn lui.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Đại Tạng Kinh nói cho đủ là kho tàng chứa đựng Tam Tạng Giáo Điển Phật Giáo gồm Kinh, Luật và Luận, mà tiếng Bắc Phạn (Sanskrit) gọi là Tripiṭaka và tiếng Nam Phạn (Pali) gọi là Tipiṭaka. Kinh là những lời dạy của Đức Phật hay của các vị đệ tử của Đức Phật đã trùng tuyên lại lời Phật dạy và được Đức Phật xác chứng. Luật là những giới luật được Đức Phật đặt ra để giúp chúng đệ tử xuất gia và tại gia của Ngài nhiếp thọ thân khẩu ý trong đời sống hàng ngày để làm tăng trưởng đạo lực giải thoát và giác ngộ. Luận là những giải thích để làm rõ hơn lời Phật dạy trong Kinh và các giới luật do Phật chế ra. Thời Đức Phật còn tại thế tất cả những lời Ngài dạy về Kinh và Luật (thời kỳ này chưa có Luận) đều được chúng đệ tử của Ngài ghi nhớ thuộc lòng mà chưa được viết thành văn. Vào mùa an cư kiết hạ đầu tiên sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn (544 năm trước tây lịch), Đệ tử lớn của Đức Phật là Tôn Giả Đại Ca Diếp (Mahākāśyapa) đã chủ trì một cuộc kết tập Kinh điển lần đầu tiên tại Thành Vương Xá
Hồ Xuân Hương tên thật là Hồ Phi Mai, đó là lý do khiến Tốn Phong trong 31 bài thơ tặng Xuân Hương, đã có 29 bài nhắc đến Mai, có bài nhắc đến hai ba lần. Hồ Phi Mai hiệu là Xuân Hương, hoa mai bay trên hồ nơi ngắm cảnh xuân, Mai là hương hoa mùa xuân.
Đôi khi, có người tự hỏi, mình có tài, tại sao không có danh vọng phù hợp? Có thể vì không gặp thời, chuyện này hiếm hoi. Có thể vì không phát huy tài năng đúng mức. Có thể vì tưởng lầm mình có tài. Từ một tài năng có thật, biến thành hiệu quả để có danh vọng xứng đáng, đòi hỏi một hành trình tuy ngắn ngủi từ trí não đến hai bàn tay, nhưng xa vời như đường đi từ trái đất lên đến mặt trời. Nhưng trước hết, làm sao biết mình có tài hay không? Hỏi mẹ vợ, mẹ chồng, thì rõ.
Đã có những cuộc tình sôi nổi, mặn nồng lúc ban đầu, thề sống chết bên nhau đời này đời sau, muôn đời sau, nhưng rồi sự cảm thụ và ý tưởng của mỗi người thay đổi dần theo thời gian, tuổi tác. Sắc tàn, chí hao, có người muốn tìm những gì mới lạ, khích động hơn; lại có người nhìn ra những phai tàn trong đời sống, chỉ muốn an thân tịnh dưỡng, buông bỏ tất cả, quay về với chính mình… “Có chút tình thoảng như gió vội, tôi chợt nhìn ra tôi”
Nổi tiếng quốc tế như một người viết tiểu thuyết, và cũng nổi tiếng như một Thiền sư, Ruth Ozeki có một văn phong riêng, trộn lẫn các pháp ấn khổ, vô thường, vô ngã vào các chuyện kể trên giấy. Độc đáo như thế: Ruth Ozeki là một nhà văn, một đạo diễn phim ảnh và là một Thiền sư dòng Tào Động. Xin mở ngoặc nhỏ nơi đây, nói bà là Thiền sư, chỉ có nghĩa rằng, bà là một cư sĩ được trao cương vị người dạy Thiền. Sách và phim của bà, kể cả nhiều tiểu thuyết, đan xen các chuyện kể cá nhân vào các vấn đề xã hội, và chạm vào các chủ đề liên hệ tới khoa học, kỹ thuật, chính trị, môi trường, sắc tộc, tôn giáo, chiến tranh và văn hóa quần chúng.
Đối thoại với Trịnh Y Thư: Văn chương Nghệ thuật & Những điều khác. Đinh Từ Bích Thuý & Đặng Thơ Thơ thực hiện
Cung Tích Biền là nhà văn của lương tri, bởi mọi truyện ông viết đều đưa ra những chất vấn về bản chất của một nền đạo lý nhân bản. Nhà văn bằng ngôn ngữ vi diệu và huyền áo đã tạo dựng nên một không gian nghệ thuật đặc thù phong cách của riêng ông. Và ông dùng không gian nghệ thuật ấy để đối thoại với quá khứ, một quá khứ được soi lại qua những tra vấn để trở thành công án cho ngày hôm nay. – Đặng Thơ Thơ
Thơ của Holderlin giản dị, cô đọng, súc tích và thêm sự pha trộn giữa lãng mạn và cổ điển, nhất là cổ điển Hy Lạp, nên rất đặc biệt. Ông được xếp vào một trong những nhà thơ trữ tình xuất sắc nhất ở Đức. Một số nhà văn, triết gia lớn của Đức như Wolfgang Goethe, Friedrich Schiller, Friedrich Hegel und Friedrich Schelling là những người đồng thời với Hölderlin.
Rừng phong đã nhuộm màu hay lòng người nhuốm màu thu? Những kẻ sống ở vùng ngoại phương không ít thì nhiều, không cạn thì sâu ắt biết. Cái màu rừng phong đẹp lắm, rực rỡ lắm, đất trời như bừng lên, ánh nắng như lồng vào trong phiến lá. Nói muôn hồng nghìn tía không còn là ước lệ, không phải là tỷ dụ nữa mà hoàn toàn thật sự như thế. Hồng, đỏ, cam, vàng, nâu, tím, trắng… cứ thế mà lá phô diễn trước khi về với đất mẹ.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.