Đọc ‘Vằng Vặc Một Mảnh Lòng’ Của Nguyễn Hiền Đức

24/09/202100:00:00(Xem: 1332)
BIA SACH_VANG VAC MOT MANH LONG
Bìa sách "Vằng Vặc Một Mảnh Lòng" của Nguyễn Hiền Đức.

 

Trong Kinh Thừa Tự Pháp (Dhammadàyàda Sutta) do Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch, Đức Phật đã dạy rằng:

“Này các Tỷ-kheo, hãy là những người thừa tự pháp của Ta, đừng là những người thừa tự tài vật.”

Tài vật chỉ làm cho con người sống sung túc về vật chất trong đời này nhưng không giúp con người thăng hoa cuộc sống tâm linh đời này và đời sau và lại càng không thể giúp con người giác ngộ và giải thoát khổ đau trong ba cõi sáu đường. Thực hành giáo pháp của Đức Phật sẽ giúp con người nhận chân được bản chất đích thật của tất cả các pháp trên đời này để tự mình chứng nghiệm và vượt thoát khổ đau đời này và đời sau.

Trong khi người đời bám chặt vào tài vật xem như là tài sản sở hữu quý giá cần phải bảo vệ cho đến cùng, đôi khi dẫn đến những phân tranh thù hận máu đổ thịt rơi, thì Phật tử Nguyên Tánh Nguyễn Hiền Đức noi theo gương sáng của vị Thầy tôn kính của anh là Cố Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Minh Châu, Nguyên Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ngày đêm rị mọ gõ lại từng chữ, từng dòng, từng bài viết lợi lạc về Phật Pháp của chư vị Cao Tăng và quý vị Cư Sĩ dày công nghiên cứu và tu tập Chánh Pháp của Đức Phật để làm bảo vật giúp cho người đọc hiểu được con đường giải thoát tâm linh. Anh đã viết trong Lời Thưa Trình Về Tuyển Tập “Vằng Vặc Một Mảnh Lòng,” đã được NXB Liên Phật Hội ấn hành trong năm 2019:

“Ngoại trừ 8 bài phải copy trên các trang mạng, còn lại thì con “gõ” vào máy ở nhiều thời điểm. Ở cái tuổi đã “trộng,” khi trái gió trở trời thì làm sao con không đau lưng, nhức vai và mỏi mắt cho được. Nhưng rồi cuối cùng mọi việc cũng xong. Con vui mừng và cảm thấy lòng minh thanh thản, nhẹ nhàng vì đã hoàn thành một Quà tặng…”

Cuốn “Vằng Vặc Một Mảnh Lòng” dày 465 trang, khổ lớn, bìa màu, gồm 47 bài viết của chư tôn đức Tăng, Ni và quý cư sĩ uyên thâm Phật Học. Trong đó có bài của Thiền Sư Thích Mật Thể, Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Trí Quang, Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Minh Châu, Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Thiện Siêu, Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Trí Tịnh, Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Mãn Giác, Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Đức Nhuận, Thiền Sư Thích Nhất Hạnh, Thiền Sư Thích Thanh Từ, Hòa Thượng Thích Phước Sơn, Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, Hòa Thượng Thích Chơn Thiện, Hòa Thượng Thích Như Điển, Hòa Thượng Thích Phước An, Ni Trưởng Thích Nữ Trí Hải, học giả Nguyễn Hiến Lê, kịch tác gia Vũ Khắc Khoan, Giáo Sư Nguyễn Đăng Thục, Giáo Sư Lê Mạnh Thát, Giáo Sư Cao Huy Thuần, Nguyên Giác, Toại Khanh, Nguyễn Hiền Đức, v.v…

Trong tuyển tập “Vằng Vặc Một Mảnh Lòng,” có nhiều bài rất giá trị mà cũng khó tìm, như bài “Lời Giới Thiệu Luận Án Tiến Sĩ Phật Học Đại Học Bihar - Ấn Độ, 1961 Của Tỳ Kheo Thích Minh Châu: So Sánh Kinh Trung A Hàm Chữ Hán và Kinh Trung Bộ Chữ Pali do vị Viện Trưởng, Tân Tòng Lâm Nalanda S. Mookerjee viết vào ngày 23 tháng 3 năm 1964, và Thích Nữ Trí Hải dịch Việt. Hoặc như bài “Huyền Trang Và Công Cuộc Thỉnh Kinh Vô Tiền Khoáng Hậu Của Nhân Loại” của học giả Nguyễn Hiến Lê, và bài “Như Lai Vô Sở Thuyết” của kịch tác gia Vũ Khắc Khoan.

Tôi thích lối viết của kịch tác gia Vũ Khắc Khoan. Ông viết rất tự nhiên. Văn ông rất mượt mà, rất nhẹ nhàng và lôi cuốn. Tư duy Phật Pháp của ông rất sâu, rất tới. Chẳng hạn khi nói về cái vô sở thuyết mà ông gọi là “cái đó,” Vũ Khắc Khoan viết thế này:

“Nói ra là bị kẹt

Không nói cũng không xong

Hai câu đầu một bài Kệ của một thiền sư Việt Nam sống giữa thế kỷ thứ 17, thiền sư Chân Nguyên. Hai câu kệ, một thế đứng chênh vênh giữa hai ngã hữu vô. Nói hay không nói? Chung cuộc, bài kệ đành phải chấm dứt bằng một chấm phá lững lờ.

Vì anh đưa một nét

Đầu núi ánh dương hồng

“Tôi duỗi thẳng chân, ngửa mặt nhìn nắng sớm xuyên qua miếng băng bám nơi khung cửa, áng nắng lung linh màu sắc cầu vồng. Tự hỏi nắng sớm đích thật màu gì? Xanh hay đỏ, tím hay vàng, hay là do tất cả màu sắc gặp gỡ mà thành? Nhưng có cuộc gặp gỡ nào kéo dài mãi mãi? Ánh dương đầu núi đâu giữ mãi màu hồng? Cái thế chênh vênh giữa hữu và vô đâu có thể đời đời tồn tại? Cái khó là nhập vào cái thế đó, không thỏa hiệp, mà vươn lên, và vượt qua. Từ cái phức tạp tìm về cái đơn thuần, tìm về cho tới các khuôn mặt của chính mình chưa sinh, chưa thành. Ánh dương hồng khi chưa nhô lên khỏi đầu núi. Cái xôn xao nhú lên trong đêm sắp tàn. Cái đó.” (trang 446)

Cũng trong bài “Như Lai Vô Sở Thuyết,” Vũ Khắc Khoan nói đến mối “thâm giao” giữa ông và cư sĩ Tịnh Liên Nghiêm Xuân Hồng vì cả hai đều “mê đọc kinh như lứa tuổi hai mươi mê đọc thư tình,” với một giọng văn rất dí dỏm, đầy thân tình và đạo vị:



“Tịnh Liên lão ông với Khoan tôi vốn là chỗ thâm giao, lại là móng vuốt trong chốn thiền môn, mê đọc kinh như lứa tuổi hai mươi mê đọc thư tình, gần đây vì thương cho sự hoang rậm của mình mà viết lời sơ giải mấy bộ Đại Thừa. Viết đến đâu hoằng bá đến đó và đều đều gửi đến Khoan tôi, với lời răn nhủ rằng: Này ông Vũ Khắc Khoan ơi, ông phải bớt đàn đúm với bọn lãng tử để dành thì giờ mà tu tỉnh đọc kinh. Rằng:

-         Này Vũ Khắc Khoan, ý ông thế nào? Giả sử có người đem bảy món báu chứa đầy cả đại thiên thế giới mà bố thí thì người đó có nhiều công đức hay không?

Tôi rằng:

-         Thì nhiều.

Ông chỉ đợi có thế, tiếp ngay:

-         Ấy thế mà còn thua một người chỉ thọ trì 4 câu kệ hay nhẩm nhẩm một đoạn kinh. Biết không?

Biết rồi… nhưng khốn một nỗi, Khoan tôi căn cơ thô lậu, tâm thức lại hay lưu luyến tiếng tơ tiếng trúc, cho nên chân tuy đĩnh đạc bước thẳng mà vẫn thấy tạt ngang nơi ca lầu tửu quán, giọng cất lên muốn bàn câu đạo lý mà vô tình vẫn họa cùng một điệu với tiếng cười hô hố của đám lãng tử sông hồ.” (tr. 455, 456)

          Hoặc, trong Lời Giới Thiệu cuốn Tư Tưởng Phật Học của Đại Đức Walpola Rahula do Ni Trưởng Trí Hải dịch, Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Minh Châu đã có lời cảnh giác về các bài viết về Phật Giáo rất ý nghĩa và Ngài cũng đưa ra lời khuyên rất xác đáng:

          “Thường chúng ta trình bày đạo Phật ngang qua sự hiểu biết của chúng ta, và điều nguy hại hơn ngang qua cảm tính và sở thích của chúng ta, vì vậy nhiều khi tư tưởng và thái độ của Đức Phật bị bóp méo rạn nứt rất nhiều. Để bớt tệ hại này, phương pháp hữu hiệu nhất là dẫn chứng trong kinh điển những lời dạy của chính Đức Phật để xác chứng quan điểm của mình trong khi trình bày, một thái độ mà tác giả tập sách này đã theo rất trung thành.” (tr. 30)

          Trong cuốn “Vằng Vặc Một Mảnh Lòng,” cũng có bài của Nguyên Tánh Nguyễn Hiền Đức, “Vài Kỷ Niệm Về Việc In Ấn Trường Bộ Kinh, Trung Bộ Kinh và Kinh Lời Vàng,” mà qua đó anh đã kể lại một số chi tiết về cuộc đời của Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Minh Châu ít được biết đến. Đặc biệt anh đã đề cập đến “ý chí, nghị lực, tài năng, trí tuệ, đạo hạnh và phương pháp” dịch Kinh mà ở đây là Trường Bộ Kinh, Trung Bộ Kinh và Kinh Lời Vàng, những bộ Kinh mà anh có cơ duyên giúp Ngài trong việc “in ấn, trình bày bìa, phát hành.” Cư Sĩ Nguyên Tánh Nguyễn Hiền Đức kể:

          “Nhiệm vụ của tôi trong thời điểm này là: cứ từ 7 giờ đến 7 giờ rưỡi mỗi sáng, tôi tự động vào phòng làm việc của Thượng Tọa Viện Trưởng nhận xấp “bản thảo” do “Ôn” Minh Châu để sẵn trong một cái khay đan bằng mây rất đẹp. Ôn viết bằng bút máy, mực màu xanh trên giấy trắng khổ 21x33cm. Số lượng ít nhất là 20 trang, nhiều nhất 35 trang. Cứ đều đặn như thế, ngày này qua ngày khác, mỗi sáng tôi đều nhận “bản thảo” của Ôn. Tôi chú ý và nhận thấy rằng, trừ những ngày nghỉ lễ, ngày chủ nhật hoặc thời gian Ôn ra Huế hoặc đi công tác nước ngoài thì việc dịch Kinh mới tạm dừng lại; còn khi Ôn làm việc tại Vạn Hạnh thì chưa bao giờ và chưa một lần nào tôi không nhận được bản dịch mỗi sáng. Tôi hết lòng kính trọng và khâm phục ý chí, nghị lực, tâm huyết và phương pháp làm việc khoa học, nghiêm túc của Ôn.” (tr. 46)

          Sở dĩ anh Nguyễn Hiền Đức có thể vào được “phòng làm việc của Thượng Tọa Viện Trưởng” bởi vì anh là “Trưởng Phòng Tu Thư của Viện Đại Học Vạn Hạnh, chuyên lo in ấn, phát hành Kinh sách Phật học, sách giáo khoa, sách tham khảo thuộc về nhiều lãnh vực cho các Phân khoa thuộc Viện và nhiều Kinh, sách khác do Tu Thư Đại Học Vạn Hạnh xuất bản và phát hành,” và anh cũng là Thư Ký của Tạp Chí Tư Tưởng của Đại Học Vạn Hạnh, theo Nguyễn Hiền Đức kể trong bài viết của anh nói trên.     

Còn rất nhiều bài hay và giá trị của chư vị Cao Tăng Thạc Đức và các vị trí thức Phật tử viết về nhiều đề tài trong cuốn “Vằng Vặc Một Mảnh Lòng” mà anh Nguyễn Hiền Đức đã có công sưu tập để in thành sách, nhưng vì giới hạn của bài viết nên không thể giới thiệu hết đến độc giả.

          Xin cảm ơn anh Nguyên Tánh Nguyễn Hiền Đức.

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Nhà thơ/ nhà văn Đỗ Hồng Ngọc (Đỗ Nghê) -- một tên tuổi không xa lạ trong giới yêu thơ văn Việt Nam, trong nước cũng như hải ngoại -- nhân đọc tập thơ mới xuất bản của nhà thơ nữ Nguyễn Thị Khánh Minh, Tháng năm là mộng đang đi, đã có vài cảm nhận ghi trong bài viết sau. Việt Báo trân trọng giới thiệu.
Bạn Thơ ơi, Với riêng tôi, Lục Bát thân thuộc như hơi thở. Cha mẹ tôi kể thường ru tôi ngủ bằng những câu thơ lục bát. Như thế thì chưa biết nói đã được nhạc Lục Bát ấp ưu trong từng hơi thở đầu đời. Cứ thế mà bén rễ, ăn sâu vào cảm thức, cho đến khi bật ra thành câu thuở chập chững làm thơ, xem như Lục Bát là miếng cơm mớm cho những câu thơ bắt đầu tập nhai tập nuốt. Rồi theo hoài. Rồi thành quen. Đến nỗi Lục Bát gần như một phản xạ của rung động tức thì. Rồi cùng mình lặn lội tháng ngày, nuôi lẫn nhau thêm cái trầm lắng của sự chiêm nghiệm có được theo thời gian.
Trong hai thập niên ở miền Nam Việt Nam, nhiều dịch giả với các tác phẩm dịch thuật về văn chương Tây Phương, nhất là Pháp, khi đoạt giải Nobel Văn Chương, các tạp chí văn học được giới thiệu tác giả, tác phẩm với độc giả được phổ biến rộng rãi...
Người Việt hải ngoại chúng ta ngay lúc mới đặt chân trên miền đất mới đã cảm thấy nhu cầu tìm hiểu về căn cước của mình. Lần đầu mình đối diện với những dân tộc khác, những nền văn hoá khác, không còn thuộc nhóm đa số của dòng chính trên đất nước mình mà trở nên một thiểu số trong một đất nước mênh mông và đa dạng như Hoa Kỳ, hay thậm chí trong một nước với dân số không lớn như Pháp, Úc, Anh , Đức.
“Hiện Tượng Luận Phật Giáo” là tác phẩm đồ sộ cả về mặt hình thức lẫn nội dung được chia làm 2 cuốn, tổng cộng dày khoảng 1,500 trang. Đây là bộ sách nghiên cứu công phu về Du-già-hành Tông hay Duy Thức Tông, về Thành Duy Thức Luận, về Trung Quán, và nhiều đề tài Phật học và sử học Phật Giáo.
Nga hăm dọa sẽ tấn công Ukraine và cả thế giới đang chờ đợi với sự lo ngại. Tôi dửng dưng vì nghĩ chắc Nga cũng chỉ hăm he như Trung Quốc đòi đánh chiếm Đài Loan. Tên Đài Loan nghe quen hơn, còn Ukraine xa lạ quá. Cái tên chỉ làm tôi nhớ đến những bài học địa lý nói về vùng Tây Bá Lợi Á vào những năm học trung học đệ nhất cấp...
Anh Cao Huy Thuần gởi tôi tập Im Lặng, như lời chia tay… dặn để đọc mấy ngày Tết. Tôi nghĩ: chắc là Im Lặng thở dài… đây rồi! “Tôi đang lắng nghe tôi đang lắng nghe im lặng đời mình” (TCS)? Nhưng không. CHT không thở dài! Anh nói về “thiêng liêng” về “chia tay mà không biệt ly của cánh hoa rơi”…
“Chỉ là nỗi đam mê” (Passion Simple, 1991) là một trong số gần 30 tác phẩm của nhà văn nữ người Pháp Annie Ernaux, người vừa được Hàn Lâm Viện Thụy Điển trao tặng giải thưởng Nobel về Văn Chương 2022...
Trong tuần qua, nhà thơ Trịnh Y Thư vừa phát hành một sách mới nhan đề “Căn Phòng Riêng,” dịch từ nguyên bản tiếng Anh, Virginia Woolf, A Room of One’s Own, nxb Harcourt, 1991. Theo lời dịch giả Trịnh Y Thư, ấn bản 2023 của bản dịch để phổ biến ở hải ngoại là bản được sửa chữa và tăng bổ từ hai ấn bản đã in trong các năm 2009 và 2016 tại Việt Nam. Tập tiểu luận văn học này của Virginia Woolf (1882-1941) như dường trải qua gần 100 tuổi, vì sách ấn hành lần đầu là năm 1929, nhưng các vấn đề nêu lên đều rất mới, như vị trí người cầm bút nữ chỉ là bóng mờ trong ngôi làng của các nhà văn, hay yêu cầu của Woolf rằng người sáng tác phải lìa hẳn “cái tôi” khi cầm bút, hay người sáng tác văn học cần có “khối óc lưỡng tính [nam/nữ]” (nghĩa là lìa cá tính, hay lìa ngã thể?) -- nghĩa là tất cả những gì rất mực táo bạo đối với người sáng tác văn học Việt Nam.
Thu hút sự chú ý của công chúng về tính quyết định của thời điểm lịch sử hiện tại, Ahmed giới thiệu một lý thuyết phê bình về giải phóng xã hội dựa trên các phong trào cách mạng hậu Xô Viết đã nổi lên bên lề trật tự xã hội toàn cầu. Sự gia tăng của các phong trào loại trừ xã hội và chính trị ở nhiều nơi trên thế giới, khủng hoảng sinh thái đang diễn ra, phân biệt chủng tộc chống người Da đen và sự cụ thể hóa của sự tuyệt vọng do đại dịch COVID-19 mang lại đòi hỏi một cách tiếp cận mới đối với cuộc cách mạng, mà Ahmed lập luận, phải được bắt nguồn từ kinh nghiệm của những người bị áp bức nhất trong xã hội.