Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Cuộc Chạy Trốn Cộng Sản Kinh Hoàng Trong Lịch Sử Việt Nam

08/09/202117:55:00(Xem: 1473)


        Vietinfo - Bí ẩn chiến dịch di tản của người Mỹ khỏi Sài Gòn (7) https://c2.staticflickr.com/8/7476/16274287506_a33507b6a0_b.jpg


1*. Mở bài


Tổng thống Joe Biden quyết định rút quân đội Mỹ ra khỏi Afghanistan vào ngày 11-9-2021. Tuy nhiên, trên thực tế, những quân nhân Mỹ sau cùng đã rời khỏi nước nầy vào ngày 31-8-2021.

Khi quân Taliban vào tới thủ đô Kabul, thì cuộc di tản công dân Mỹ và những người Afghanistan liên hệ được thực hiện. Không có một kế hoạch tĩ mĩ đã chuẩn bị từ trước, như thời Việt Nam Cộng Hòa. Quân đội Afghanistan cũng không có kế hoạch di tản. Có thể suy đoán là quân đội nầy không xứng đáng để được đưa sang Mỹ, vì đó là quân đội ăn tiền của Mỹ, làm việc cho Mỹ mà trong lòng không ưa Mỹ. Đó là một quân đội bệ rạc, tham nhũng, bè phái, không có tinh thần chiến đấu để bảo vệ những công trình quý báu mà Hoa Kỳ đã đổ công sức và tiền bạc ra thực hiện cho người dân Afghanistan.


Trái lại, vào năm 1975, từ nhiều tháng trước khi quân Cộng Sản Bắc Việt vào chiếm Sài Gòn, Hoa Kỳ có hai chiến dịch đã được soạn thảo kỹ lưỡng. Những phương tiện và thời gian được xác định tỉ mỉ, rõ ràng từng bước một. Mục đích di tản công dân Mỹ và những người Việt Nam được xem là sẽ bị nguy hiểm (At Risk Vietnameses) dưới chế độ Cộng Sản.


Đó là hai chiến dịch: “Gió lốc” (Operation Frequent Wind) và Chiến dịch di tản trẻ sơ sinh (Operation Babylift). Đã có 50,493 người, trong đó có 2,548 trẻ mồ côi được di tản từ phi trường Tân Sơn Nhất. 


2*. ‘Nếu cái cột điện có chân thì nó cũng chạy sang Mỹ’. 


2.1. Thuyền nhân Việt Nam


Những ngày trước 30-4-1975, người dân miền Nam đã tìm mọi cách để chạy nạn Cộng Sản.

Ở sứ quán Hoa Kỳ, hàng ngàn người hỗn loạn, tìm cách vào tòa đại sứ với hy vọng được người Mỹ cho phương tiện di tản.

Ở bến tàu Sài Gòn, chật nức cả người, họ tìm mọi cách để xuống những chiếc tàu dân sự đưa ra khỏi nước. Chiếc tàu Việt Nam Thương Tín, là tàu lớn nhất, đã đưa 650 người tỵ nạn ra khơi.

Dòng người vượt biển đã tạo ra sự kiện thuyền nhân (Boat People) làm kích động thương tâm cả thế giới, vì những việc chết trên biển, vì hải tặc Thái Lan hành hạ thân xác và giết chết. 


2.2. Ra đi bán chính thức


Người Việt và Việt gốc Hoa trà trộn vào chương trình ra đi bán chính thức, do nhà Nước Việt Cộng tổ chức, mục đích đuổi người Hoa ra khỏi Việt Nam, gọi là « nạn kiều » trong vụ tranh chấp Việt-Trung năm 1979. Cụ thể là cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc năm 1979.


2.3. Chương trình HO.


HO là Humanitarian Operation, chiến dịch của Hoa Kỳ nhằm mục đích đưa những cựu tù nhân cải tạo sang Mỹ.


2.4. Chương trình ODP


Người Việt Nam cũng không muốn sống trên quê hương của mình dưới chế độ Cộng Sản, nên Hoa Kỳ mở chương trình ODP để tiếp nhận người Việt vào nước Mỹ. ODP tiếng Anh là Orderly Departure Program.

Nói về chạy nạn Cộng Sản, thì trong lịch sử Việt Nam cũng đã có đoàn người rời Hà Nội, di cư vào miền Nam để được sống tự do.


Ngày 9-11-1989, người Đông Đức đã đập nát bức tường ô nhục Bá Linh (Berlin Wall) để chạy sang Tây Đức, tìm tự do. Đó cũng là chạy trốn Cộng Sản rất kinh hoàng.


3*. Chiến dịch “Gió lốc” (Operation Frequent Wind)




         image s7NM3Fh.jpg

         https://www.militaryimages.net/proxy.php?image=http%3A%2F%2Fi.imgur.com%2Fu8u9wYD.jpg&hash=abc63122f185b4ad4c5ace338de07242 image

  

3.1. Vài nét tổng quát về Chiến dịch Frequent Wind

Chiến dịch Gió lốc (Operation Frequent Wind) là một cuộc di tản bằng phi cơ và tàu thuyền của Hoa Kỳ, và của Việt Nam Cộng Hòa, diễn ra từ ngày 29 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Có 50,493 người, trong đó có 2,548 trẻ mồ côi được di tản từ phi trường Tân Sơn Nhất. Các phi công đã bay tổng cộng 1,054 giờ, với 682 chuyến bay trong chiến dịch. Đã có hơn 7,000 người được di tản bằng trực thăng tại nhiều địa điểm khác nhau ở Sài Gòn.


3.2. 4 phương án của chiến dịch:

1. Phương án 1. Di tản bằng phi cơ dân sự tại phi trường Tân Sơn Nhất.
2. Phương án 2. Di tản bằng phi cơ quân sự
3. Phương án 3. Di tản bằng tàu thuyền từ cảng Sài Gòn
4. Phương án 4. Di tản bằng trực thăng, bóc người đưa đến các chiến hạm ngoài khơi.


3.3. Giai đoạn chuẩn bị


      Vinh danh chuyến hải hành lịch sử của tàu USS Kirk giải cứu hơn 32,000 người Việt di tản Tập tin:USS Hancock (CVA-19) in San Francisco Bay in September 1957 (2).jpg  – Wikipedia tiếng Việt


            Khu trục hạm USS Kirk     HKMH USS Hancock (CV / CVA-19)


Đây là một chiến dịch được chuẩn bị trước rất tỉ mỉ. Cả một hạm đội gồm 50 chiến hạm được huy động từ nhiều tháng trước ngày 30-4-1975.

Đầu tháng 3 năm 1975, khu trục hạm USS Kirk được lệnh nhổ neo từ căn cứ San Diego, để đi hộ tống hàng không mẫu hạm USS Hancock. Hàng không mẫu hạm Hancock được lệnh cặp bến Hawaii, để đưa những chiến đấu cơ lên bờ, dành chỗ trống cho những trực thăng vận tải của TQLC/HK, bốc người từ Sài Gòn đáp xuống hàng không mẫu hạm. Rồi hàng không mẫu hạm USS Hancock trực chỉ đến Biển Đông.

         Báo Nga: Khu trục hạm USS Donald Cook không chống đỡ nổi Su-24 USS Midway (CV-41) - Wikipedia


         USS Donald Cook (DDG-75)    HKMH USS Midway (CVA/CV-41) 

 

Chiếc USS Kirk bắt đầu vào cuộc, với Chiến dịch Eagle Pull để di tản 300 người Mỹ rời khỏi Phnom Penh. Campuchia thất thủ ngày 17-4-1975. Sau đó, chiếc USS Kirk xuôi xuống phía nam, hướng về Singapore để cùng với khu trục hạm USS Cook hộ tống hàng không mẫu hạm Midway, thả neo chờ tham gia chiến dịch Frequent Wind từ Việt Nam.


3.4. Kế hoạch bí mật, không chỉ cứu những con tàu.

Chiến dịch Frequent Wind do ông Richard L. Armitage phụ trách. Ông nguyên là một sĩ quan HQ/HK, lúc đó là đặc phái viên của Bộ QP/HK, thực hiện nhiệm vụ lập kế hoạch di tản những chiến hạm của HQ/VNCH, cụ thể là giải cứu những chiến hạm và kỹ thuật công nghệ được trang bị trên những chiến hạm đó. Nếu không giải cứu được thì phá hủy, để không bị lọt vào tay CSBV, làm chiến lợi phẩm. Nhiệm vụ chính của ông Armitage là cứu những con tàu, không để lọt vào tay VC.
Khu trục hạm USS Kirk cùng thủy thủ đoàn 200 người, được lệnh đến đảo Côn Sơn, là nơi được chọn để tập trung tàu bè và người di tản tại đó.

Một vài tuần lễ trước ngày 30-4-1975, ông Armitage đã có mặt tại văn phòng của người bạn thân là đại tá Đỗ Kiểm, Tư lệnh phó HQ/VNCH. Hai người lập kế hoạch giải cứu những chiến hạm của HQ/VNCH.

Đại tá Kiểm cho ông Armitage biết rằng, muốn đưa những con tàu rời VN, thì phải cần thủy thủ đoàn, nhưng thủy thủ VN sẽ không đi, nếu gia đình của họ không được đi theo. Kế hoạch cứu thoát những con tàu đưa đến việc di tản người lánh nạn Cộng Sản. Ông Armitage không báo cáo với thượng cấp về việc nầy, vì lo ngại chính quyền Mỹ có thể không giải cứu họ.
Cả hai ông, đại tá Kiểm và Armitage không ước lượng được con số người di tản là bao nhiêu.


Ngày 28-4-1975, phi trường Tân Sơn Nhất bị pháo kích và bị 5 phi cơ A-37 do Việt Cộng điều khiển, đã ném bom, nên di tản bằng phi cơ cánh cố định chấm dứt, và phương án Operation Frequent Wind, di tản bằng trực thăng bắt đầu.


3.5.  Chiến hạm USS Kirk bắt đầu tiếp nhận trực thăng di tản.

              Ngô Quang Trưởng và Nguyễn Cao Kỳ khi chạy ra tàu sân bay Mỹ vào ngày 29/4/1975 https://lh3.googleusercontent.com/proxy/MsKI0D-tQnlzmxr28hcdElQXj8_yPuW4YtF7KmDWKx69sO4ejWWOiGWZSAi3rlMiG9v47eY-7aw2waBI-_TSl15D3B7HLgrBel_JOHZhEPmO8DZalBk5CkS6ewrlOTQbC62AUSor04w5Id9-zdvCZ1Q7_F1dmzlmP4tuXQAJDd4kCwidFA=s0-d

Ông Nguyễn Cao Kỳ và Ngô Quang Trưởng đến chiến hạm ngày 29-4-1975* Trực thăng bị xô xuống biển, dành chỗ trống cho trực thăng đáp.

Khu trục hạm USS Kirk là mục tiêu cho trực thăng đáp xuống.
Từ sáng sớm ngày 29-4-1975, USS Kirk loan báo, có một sân đáp dành cho trực thăng trên boong, nhưng suốt buổi sáng không có trực thăng nào đến cả. Mãi đến xế chiều, một trực thăng UH-1 của KQ/VNCH dẫn theo 16 chiếc UH-1, 1 chiếc CH-47 Chinook khổng lồ có 2 chong chóng, và 1 chiếc vũ trang Cobra, cùng với 200 người di tản đã có mặt trên chiếc Kirk. Trong số UH-1, có 1 chiếc của Air America , là hãng hàng không của CIA.


3.6. Hỗn loạn ở Côn Sơn

Ngày 1-5-1975, chiếc Kirk đã có mặt ở Côn Sơn từ hừng sáng. Đã có 30 tàu HQ/VNCH, hàng chục tàu đánh cá và tàu chở hàng, đầy khẳm những người tỵ nạn ở khu tập trung nầy.
Ông Kent Chipman, một người thợ máy, lúc đó 21 tuổi, thuật lại: “Những con tàu nhồi nhét đầy người, tôi không thể xem bên dưới lòng tàu, nhưng trên boong tàu thì chật cứng, người san sát nhau”.

Một tài liệu lịch sử cho rằng có khoảng 30,000 người.

Một số tàu không còn chạy được, nên họ cùng lôi kéo nhau đi, vì trên tàu có người chạy nạn Cộng Sản. Một chiếc quá khẳm nên đang chìm. Nhiều người trên tàu nhảy xuống biển. Một trung úy HQ/VNCH nổ lực giúp hành khách rời khỏi chiếc tàu đang chìm. Hành khách được chuyển sang tàu kế bên bằng một tấm ván gỗ hẹp. Cảnh hỗn loạn xảy ra.

Một người đàn ông ra tay đánh ngã một phụ nữ phía trước anh ta, cô bị rơi xuống biển, và được cứu vớt.
“Người trung úy VN không hề lưỡng lự, anh ta đến ngay sau anh chàng đó, rút súng bắn một phát vào đầu giết chết anh ta, rồi đá xác qua một bên, tiếp tục cứu người. Cú bắn thật kinh hoàng, nhưng ngăn chặn được hỗn loạn”. Ông Stephen Burwinkel, người y tá trên chiếc Kirk thuật lại như thế.


3.7. Các chiến hạm Hải quân Việt Nam Cộng Hòa tự giải giới.

Đến thứ ba, ngày 6-5-1975, toàn thể hạm đội di tản của HQ/VNCH gần đến cảng Subic ( Philippines ).
Lệnh ban ra: “Tất cả những chiến hạm phải tự giải giới hoàn toàn”. Tàu chiến Mỹ cho những Cano cặp vào những chiếc tàu nầy để hốt hết súng ống, đạn dược.

Trên đường đi, thủy thủ và y tá Mỹ cung cấp nước uống, thức ăn, thuốc men và khám bịnh cho người tỵ nạn.
Trên đại dương, ở hải phận quốc tế, chiếc tàu nào đăng ký ở quốc gia nào, mang cờ nước nào, thì được xem như là lãnh thổ của quốc gia đó. Vì thế, một đứa trẻ được sinh ra trên tàu, thì có quyền xin được mang quốc tịch của quốc gia của chiếc tàu.

Qua 6 ngày trên biển, trong 30,000 người tỵ nạn, đã có 3 người thiệt mạng và được thủy táng, vì Philippines không cho phép mang xác chết lên nước họ.
Khi đoàn tàu đến gần Philippines thì thuyền trưởng chiếc Kirk, nhận được một tin không tốt lành gì. Đó là chính phủ của Tổng thống Ferdinand Marcos e ngại rằng sự hiện diện của tàu HQ/VNCH có thể gây khó khăn về ngoại giao của họ, đối với chính quyền CSVN. Hạm trưởng Jacobs của chiếc Kirk kể lại: “Chính phủ Philippines không cho phép chúng tôi vào cảng Subic và đề nghị những con tàu nên trở về Việt Nam”.


Đại tá Đỗ Kiểm và ông Armitage đưa ra một giải pháp buộc Tổng thống Ferdinand Marcos phải chấp nhận. Đó là cờ VNCH được hạ xuống và trương cờ Mỹ lên, chứng tỏ những con tàu nầy là của Hoa Kỳ.
Mà thật, những con tàu nầy là của HK. Cơ sở lý luận là, trong chiến tranh, tàu HK được trao cho VNCH như là một khoản cho mượn để chống Cộng Sản, nhưng bây giờ chiến tranh kết thúc, HK thu hồi những chiếc tàu nầy trở lại. Thế là một cuộc tìm kiếm khó khăn, làm sao có đủ 30 lá cờ Mỹ trong lúc ở trên mặt biển.

Buổi lễ hạ cờ đầy tiếng khóc.

Hàng chục ngàn người VN trên các con tàu bắt đầu hát quốc ca. Cờ VNCH hạ xuống trong những tiếng bật khóc. Khóc. Và khóc… Chưa bao giờ có một buổi lễ hạ cờ đầy xúc động đến như thế.
Lãnh thổ VNCH cuối cùng đã mất thật sự. Cái đau gậm nhấm khôn nguôi của người Việt miền Nam là mất nước. Những người còn lương tri thì không nên quên nỗi nhục đó.

4*.  Chiến dịch di tản trẻ sơ sinh mồ côi  (Operation Babylift)

4.1. Chiến dịch

        image https://i1.wp.com/nwasianweekly.com/wp-content/uploads/2011/30_19/front_com_tisdale2.jpg?resize=500%2C375


Operation Babylift là chiến dịch nhân đạo di tản trẻ em mồ côi với quy mô lớn của Hoa Kỳ trong Chiến tranh Việt Nam, diễn ra từ ngày 3 đến ngày 26 tháng 4 năm 1975.

Ngày 2-4-1975, Tổng thống Hoa Kỳ, Gerald Ford, tuyên bố là chính phủ Hoa Kỳ sẽ bắt đầu di tản trẻ em mồ côi từ Sài Gòn bằng một số tiền 2 triệu USD, qua một quỹ ngoại quốc đặc biệt giúp đỡ trẻ em. 30 chuyến máy bay vận tải C-5A Galaxy, được dự định để thực hiện chiến dịch này.


4.2. Hoàn cảnh buộc phải di tản trẻ mồ côi.

«Các em đã bị cha mẹ bỏ một lần rồi, không thể bị bỏ lần thứ hai, cho nên việc di tản trẻ mồ côi là đầy lòng nhân đạo”. 

Những người ngoại quốc làm công tác thiện nguyện chăm sóc trẻ mồ côi quan niệm như thế.

Những trẻ mang tên là trẻ “mồ côi”, thật ra là đã có cha hoặc mẹ còn sống, nhưng vì hoàn cảnh nào đó, họ đã từ bỏ các em, đưa vào cô nhi viện, mang tên trẻ mồ côi.

Một số những người chăm sóc các em là những người ngoại quốc vào VN làm công tác thiện nguyện cho các nhà thờ, và các tổ chức từ thiện nước ngoài. Họ phải rời VN trong hoàn cảnh vô cùng hỗn độn của những ngày gần cuối tháng 4 năm 1975, hàng chục ngàn gia đình VN đang chờ di tản. Trẻ mồ côi cũng không thể bị bỏ rơi trong hoàn cảnh hỗn độn đó được. Có thể chết vì không có ai chăm sóc.

Những người thiện nguyện HK đã nổ lực vận động, đưa các em ra khỏi VN để tiếp tục được chăm sóc và nuôi dưỡng. Các em đã bị cha mẹ bỏ một lần rồi, không thể bị bỏ lần thứ hai, cho nên việc di tản trẻ mồ côi là đầy lòng nhân đạo.


4.3. Nhân vật điển hình là bà Betty Tisdale

   

     image blank


     http://data.vietinfo.eu/News/2010/05/95111/500_thumb.jpg    https://i0.wp.com/nwasianweekly.com/wp-content/uploads/2011/30_19/front_com_tisdale3.JPG?resize=500%2C333

 Bà Betty Tisdale được vinh danh ngày Thứ Sáu 30-4-2010 tại hội trường báo Người Việt


Bà Betty Tisdale, là người Mỹ thiện nguyện chăm sóc trẻ mồ côi, đã nổ lực chạy đôn chạy đáo để hoàn thành thủ tục làm hồ sơ xuất cảnh cho 219 trẻ sơ sinh rời VN. Bà Tisdale thuật lại: “Tôi chạy đến bịnh viện Nhi đồng, xin 225 mẫu giấy khai sanh, rồi điền vào ngày giờ và nơi sanh một cách nhanh chóng. Tôi hoàn toàn không biết những em bé nầy là con của ai, sinh ra lúc nào, nơi nào. Những ngón tay của tôi cứ viết đại, để tạo ra những bản khai sanh. Tôi tức tốc đến gặp đại sứ Graham Martin xin phương tiện di tản cho các em. Đại sứ bằng lòng với điều kiện các thủ tục giấy tờ phải được chính phủ VN chấp thuận.”

Ông Edward Daly, chủ tịch World Aiways đang có mặt ở VN, trong lúc đó, thì con gái của ông là một thiện nguyện viên đang ở Colorado, đánh điện xin ông giúp đỡ cho trẻ mồ côi được ra đi.

Khi doanh nhân Hoa Kỳ Robert Macauley nghe tin, là phải cần ít nhất 1 tuần để di tản các trẻ em mồ côi còn sống sót, ông đã mướn cả chiếc Boeing 747 của hãng Pan Am, và tổ chức để cho 300 trẻ em mồ côi có thể ra khỏi nước, trả tiền cho chuyến đi này bằng cách cầm ngôi nhà của ông.

Thật là một người Mỹ có lòng nhân đạo vô cùng vĩ đại.  


Chiến dịch Babylift được thực hiện trong 3 tuần lễ, từ ngày 3-4-1975 đến ngày 26-4-1975. Tổng cộng có 26 chuyến bay, đã đưa 2,548 trẻ mồ côi đến Hoa Kỳ. Sau đó, các em được các gia đình Mỹ nhận làm con nuôi.


4.4. Bắt đầu bằng tang tóc.
  

     image image


          Trẻ mồ côi trên chiếc Lockheed Martin C-5A bị tai nạn


Chiếc Lockheed Martin C-5A Galaxy, được xem là phi cơ vận tải lớn nhất thế giới, đã từng chở xe tăng và cầu quân sự nặng 70 tấn. Từ căn cứ không quân Clark (Philippines), C-5A được phái đến Sài Gòn, trong nhiệm vụ di tản trẻ thơ, bắt đầu từ ngày 4-4-1975.


Ngày 4-4-1975, lúc 4:15 chiều, sau khi 328 trẻ em và người lớn, trong đó có nhân viên sứ quán Mỹ và nhiều nhân viên của các đơn vị Mỹ, được đưa lên máy bay. Chiếc C-5A bắt đầu rời đường băng.


Khoảng 12 phút sau, cách phi trường Tân Sơn Nhất 64km, thì một biến cố xảy ra. Cửa sau, nằm dưới bụng phi cơ, là nơi đưa hành lý lên tàu, đã bung ra và bị thổi bay mất. Hành khách bị gió mạnh xô ngã, nhiều người bị thương. Một nhân viên phi hành ngồi gần cửa bị hút bay ra khỏi phi cơ. Những người còn lại bất tĩnh do thiếu dưỡng khí. Hai phi công chính và phụ không còn điều khiển được phi cơ, nên quyết định trở lại Sài Gòn.


C-5A không phải là phi cơ chở hành khách, cho nên những mặt nạ tiếp dưỡng khí không được thiết kế cho trẻ em, vì thế, các em được bế lên cao để gắn mặt nạ dưỡng khí vào. Linda Adam, một y tá quân y kể lại như thế.

Trên đường trở về, khi còn cách Sài Gòn 5km, phi cơ mất độ cao, lao mình ầm ầm xuống cánh đồng lúa ngập nước, đụng phải con đê, gãy làm 4 khúc, và bình xăng phát cháy.

Trên cánh đồng lúa thuộc khu vực Cát Lái, cảnh tang tóc với những xác người nằm vương vãi trên bùn đất.
153 người thiệt mạng, trong đó có:
98 trẻ em. 34 nhân viên bộ QP/HK. 5 dân sự. 11 nhân viên KQ/HK. Và những y tá của nhiều quốc gia.
175 người sống sót.

Có nhiều giả thuyết về lý do xảy ra tai nạn: Cho rằng bị phá hoại do những người thân Cộng muốn phá kế hoạch di tản trẻ thơ. Do lỗi thiết kế của công ty Lockheed, và cho rằng phi cơ không được bảo trì chu đáo.

Người chị của một y tá thiệt mạng, đại diện cho các nạn nhân, đâm đơn kiện tập thể, đòi công ty Lockheed bồi thường 200 triệu USD. Việc điều tra được tiến hành, và cho mãi tới năm 1990 vẫn chưa có kết quả.


5*. Những “di sản” của chiến dịch Babylift

5.1. Không có hồ sơ về lý lịch cá nhân.

Ngày 5-4-1976, tờ Time cho biết, nhiều trẻ em hoàn toàn không có hồ sơ về lý lịch cá nhân, đó là những con người không có họ và tên, không có giấy tờ chứng minh ngày và nơi sinh, quốc tịch…cho nên không thực hiện hồ sơ con nuôi.
Cục di trú và nhập tịch cho biết, có 1,671 em hợp lệ, và 353 không hợp lệ.


5.2. Bi kịch gia đình

Nhiều trường hợp đau lòng khó xử xảy ra.
- Bà Hà Thị Võ
Người đã từng đưa 3 đứa con đi theo chương trình Babylift, khi đến Mỹ, đưa đơn kiện, khi nhận ra đứa con út 3 tuổi tại một gia đình nhận con nuôi, bà đòi con lại. Cậu bé không nhận bà, khiến cho nhà chức trách bác bỏ yêu cầu của bà.
- Bà Doãn Thị Hoàng An
Bà An ở bang Montana, nhận mình là mẹ ruột của cậu bé Ben, 4 tuổi, được vợ chồng Johnny và Bonnie Nelson nhận làm con nuôi từ chương trình Babylift.
Khi ra toà, cậu bé Ben không nhận bà Hoàng An, không có phản ứng trước những cử chỉ triều mến và thương yêu của bà Hoàng An, dù vậy, tòa phán quyết cậu Ben thuộc về bà mẹ Việt Nam .
Thế là vợ chồng Nelson tiếp tục đưa đơn kiện lên toà thượng thẩm.


6*. Trở về cố hương

6.1. Trẻ mồ côi trở về Việt Nam trong vai trung tá Mỹ

      alt kimmitchell2011i.2


Năm 2011, Kimberly Mitchell trở về cố hương với tư cách một nữ Trung Tá Hải Quân Hoa Kỳ. Cô thăm Sài Gòn và Đà Nẵng trong chuyến đi một tuần lễ.

Chuyến thăm tại trại mồ côi Thánh Tâm, nay là một tu viện, được coi là phần xúc động nhất của chuyến đi. Tại tu viện, Mitchell gặp “Sơ” Mary Trần Thị Hưởng, là người đã từng làm việc trong thời gian tiếp nhận em bé vào cô nhi viện, trong danh sách số 899. Với cái tên là Trần Thị Ngọc Bích, nghĩa là viên ngọc quý (Precious Pearl). 

Nữ quân nhân phòng Xã Hội TQLC mang con tới đây, con mới có 4 tháng tuổi, và họ đặt tên con là Trần Thị Ngọc Bích. Họ nói mẹ con đã chết trên Đại Lộ Kinh Hoàng, con được một người lính VNCH cứu sống.

“Đây là chuyến thăm của một đời người, nghĩa là một lần duy nhất. Tôi chắc chắn sẽ không chờ 40 năm nữa để quay trở lại”, Mitchell thuật lại.

6.2. Câu chuyện của cô bé trong cái nón lá trên đại lộ Kinh hoàng, Mùa Hè đỏ lửa năm 1972.

         alt

1). Em bé trong chiếc nón lá


Hồi tháng 5 năm 1972, Thiếu úy Thủy Quân Lục Chiến Trần Khắc Báo đang hành quân trên “Đại Lộ Kinh Hoàng” trong Mùa Hè Đỏ Lửa 1972. Ông gặp người lính Quân Cụ, đang ôm chiếc nón lá, trong đó có bé gái, dáng điệu mệt mỏi, kiệt sức, đang thất thểu chạy qua cầu Mỹ Chánh trên đường di tản khi tỉnh Quảng Trị lọt vào tay CSBV.

Người lính Quân Cụ giao chiếc nón lá đựng em bé cho Thiếu úy Báo, và cho biết, ông gặp bé gái đang trường trên bụng mẹ tìm vú để bú, nhưng người mẹ đã chết rồi.

Thiếu úy Trần Khắc Báo lúc đó là sĩ quan độc thân 24 tuổi. Ông đặt tên bé gái là Trần Thị Ngọc Bích và giao lại cho Phòng Xã Hội của đơn vị.

Phòng Xã Hội đưa em bé đến Cô Nhi Viện Thánh Tâm, Đà Nẵng để các dì phước chăm sóc. 

2). Em bé mồ côi gặp may mắn

       https://www.trbimg.com/img-535d9657/turbine/lat-ahnstory-la0017155227-20140426/600 https://www.trbimg.com/img-535c2cc1/turbine/lat-ahnstory-la0017155230-20140426/600


The record books at the Sacred Heart orphanage list baby #899: Tran Thi Ngoc Bich. (Kimberly Mitchell) 22-11-1971


Em bé Trần Thị Ngọc Bích được Phòng Xã Hội Lữ đoàn TQLC đem đến Cô Nhi Viện Thánh Tâm, Đà Nẵng, giao cho các dì phước chăm sóc. Số hồ sơ của em là 899, ngày 22-11-1971.

Một hôm, ông Trung sĩ Hoa Kỳ thuộc binh chủng Không Quân, phục vụ tại phi trường Đà Nẵng, tên là James Mitchell, đến Cô Nhi Viện xin nhận một em bé làm con nuôi. Em Trần Thị Ngọc Bích may mắn lọt vào mắt xanh của ông James Mitchell, và trở thành thành viên của gia đình ông từ đó. Ông Mitchell cho biết, đất nước Việt Nam bị chiến tranh tàn phá, đổ nát. Ông muốn đưa một người ra khỏi Việt Nam để có đời sống tốt đẹp hơn. Đó là lý do ông xin con nuôi.

Sau khi rời khỏi binh chủng Không Quân, ông James Mitchell trở về Hoa Kỳ vào cuối năm 1972. Ông quyết định mang theo đứa con nuôi Trần Thị Ngọc Bích, lúc đó em mới được 6 tháng tuổi.

Hai ông bà Mitchell đặt tên Mỹ cho em là Kimberly Mitchell. Em ở tại trang trại của gia đình tại Solon Springs, bang Wisconsin. Kimberly Mitchell lớn lên tại đây và được bố mẹ nuôi rất thương yêu, coi như con ruột. Em được đi học, tham gia thể thao và vào hội thanh niên. Lớn lên em vừa đi học vừa phụ giúp cha mẹ nuôi bò sữa và làm phó mát.

Khi đã có trí khôn, Kimberly Mitchell nhận thấy mình không phải người Mỹ như bố mẹ, không phải con lai, không phải người Tàu. Cô không biết mình là người nước nào và cứ mang cái thắc mắc đó mãi. 

Một hôm, Kimberly Mitchell hỏi bố:

“Con muốn biết con người gì, nguồn gốc con ở đâu? Tại sao con lại là con bố mẹ?”


Bố nuôi James giải thích cho cô:

“Con là người Việt Nam, bố mẹ xin con từ trong viện mồ côi ở Đà Nẵng, Việt Nam. Nếu con muốn tìm nguồn cội của con, con có thể về Đà Nẵng, may ra tìm được tông tích của gia đình con.”


Thế rồi sau đó, Kimberly Mitchell có chuyến về Việt Nam trong vai một Trung tá Hải Quân Hoa Kỳ. Tại tu viện, trước kia là Cô Nhi Viện Thánh Tâm, Sơ Mary Hưởng cho biết cô tên là Trần Thị Bích Ngọc (Precious Pearl), như đã nói trên.

3). Gặp lại cố nhân

       http://gdptchanhphap.org/images/stories/tintucthoisu/hinhmoi/41%20nam%20truoc%202.jpg Kim and Bao reunited last month.


Hồi tháng 3/1975, đơn vị TQLC của ông bị thất thủ, và ông Báo bị bắt làm tù binh. 

Mãi đến năm 1981 ông được thả về (6 năm). Dưới chế độ Cộng Sản, ông Trần Khắc Báo đạp xích lô để nuôi gia đình.

Tháng 9/1994 ông được sang Mỹ theo diện HO, định cư tại thành phố Albuquerque, bang New Mexico.


Ông Báo cho biết: “Sau khi ra tù Việt Cộng, tôi cũng cố tìm hiểu xem em bé Trần Thị Ngọc Bích nay ra sao, kể cả người lính Quân Cụ năm xưa, nhưng tất cả đều bặt vô âm tín. 

Hồi tháng 5 năm 2012, một hôm tình cờ tôi đọc được một bài viết của tác giả Trúc Giang trên tờ Việt Báo Hải Ngoại số 66 phát hành tại New Jersey, tác giả kể lại câu chuyện cô bé mồ côi trở về Việt Nam trong vai trung tá Hoa Kỳ. Cô đến thăm Cô Nhi Viện Thánh Tâm ở Đà Nẵng, và được biết tên mình là Trần Thị Ngọc Bích”. 


Sau đó, ông nhờ người bạn tên là Đào Thị Lệ làm việc trong New York Life, có chồng người Mỹ, và có em cũng ở trong Hải Quân Hoa Kỳ, liên lạc tìm kiếm Mitchell. Và chính cô Đào Thị Lệ là người đầu tiên trực tiếp nói chuyện với Trần Thị Ngọc Bích đang làm việc tại Ngũ Giác Đài.

4). Cuộc gặp gỡ đầy xúc động


        Kim Mitchell alt


Cuộc hội ngộ, theo ông Báo cho biết, hoàn toàn do cô Kimberly Mitchell quyết định, địa điểm là trụ sở Hội Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia New Mexico vào Thứ Sáu, ngày 29-8-2012. 

Mitchell quyết định tổ chức một cuộc hội ngộ trước các cơ quan truyền thông. Cô xin phép đơn vị và mời được 7 đài truyền hình cùng một số phóng viên báo chí từ Washington, D.C. cũng như nhiều nơi về tham dự.

Ông Báo ngỏ ý ra phi trường đón nhưng cô Mitchell không muốn gia đình ra phi trường cũng như không đến khách sạn tiếp đón. 

Cô muốn dành giây phút thật cảm động và ý nghĩa này trước mặt mọi người, đặc biệt là trước mặt các cơ quan truyền thông, và cô muốn ông Báo mặc bộ quân phục TQLC như khi ông tiếp nhận cô, và đưa đến Phòng Xã Hội Sư Đoàn TQLC cách nay 41 năm.

Tại phòng họp, gia đình ông Trần Khắc Báo gồm vợ và con gái cùng bà Đào Thị Lệ đều có mặt. 

Khi ông Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia hỏi cô Kimberly Mitchell:

“Cô đến đây tìm ai?”

Cô trả lời:

“Tôi muốn tìm ông Trần Khắc Báo.”

Vị Chủ Tịch quay sang ông Báo đang mặc quân phục và giới thiệu:

“Đây là ông Trần Khắc Báo.”

Lập tức, Kimberly Mitchell Trần Thị Ngọc Bích tiến lại ôm lấy ông Báo và cả hai cùng khóc nức nở.

Giây phút xúc động qua đi, cô Kimberly hỏi ông Trần Ngọc Báo:

“Ông là người đã cứu mạng tôi, tôi mới có ngày hôm nay, tôi xin cám ơn ông, và bây giờ ông muốn gì ở tôi?”

Ông Trần Khắc Báo nói :

“Thực sự bây giờ tôi chỉ muốn cô nói với tôi một lời bằng tiếng Việt, cô hãy kêu tôi là “Tía”. Vì tất cả các con tôi đều gọi tôi bằng Tía, tôi xem cô cũng như con tôi, tôi chỉ mong điều đó.”

Và Kimberly Mitchell đã gọi “Tía”.

Ông Trần Khắc Báo nói:

“Bấy giờ tôi thực sự mãn nguyện.”


Trong cuộc hội ngộ, trả lời câu hỏi của các phóng viên Hoa Kỳ, nữ Trung Tá Kimberly Mitchell cho biết, cô có ba cái may. 

Cái may thứ nhất là cô được tìm thấy và mang tới trại mồ côi. Cái may thứ hai là được ông bà James Mitchell bước vào trại mồ côi và nói với các Sơ rằng, ông muốn nhận em bé này làm con nuôi.” Và cái may thứ ba là nhờ bài báo của Trúc Giang mà cô gặp lại được ân nhân đã cứu mạng.


6.3. Phim Người con gái Đà Nẳng (The daughter from Da Nang)

          Daughter from Danang.jpg Daughter from Danang | ITVS


1). Phim tài liệu 

Phim tài liệu The daughter from Da Nang được đề nghị lãnh giải Oscar về loại phim tài liệu. Phim đã chiếm nhiều giải nhất trong các Đại Hội Điện Ảnh (Film Festival) Hoa Kỳ năm 2002: Sundane Film Festival, San Francisco International, Ojai Film Festival, Durango, Colorado, Texas, New Jersey International, Nashville, Cleveland.

2). Nội dung phim

Vào những ngày sau cùng của cuộc chiến VN, chính phủ Gerald Ford đã bỏ ra 2 triệu USD để mở chiến dịch Babylift. Gần 3,000 trẻ mồ côi từ VN sang Hoa Kỳ , Canada , Pháp và Úc để làm con nuôi.
Cuộc di tản bắt đầu bằng một tai nạn kinh hồn làm chết hàng trăm trẻ em.

Cuốn phim xoay chung quanh cuộc đời của Heidi Bub và trong chuyến đi tìm mẹ ruột sau 22 năm.

3). Nhân vật Heidi Bub

Heidi Bub sinh năm 1968 tại Đà Nẳng, con của bà Mai Thị Kim và một quân nhân Hoa Kỳ.
Chồng bà Kim là Đỗ Hữu Vinh, từ năm 1964, đã bỏ vợ và 3 con ở lại Đà Nẳng, chui vào mật khu theo Việt Cộng chống Mỹ.
Bà Kim vào làm công nhân trong căn cứ Mỹ ở Đà Nẳng. Ở đó, bà đụng một ông lính Mỹ rồi sanh ra Mai Thị Hiệp (Heidi)
Khi VC đánh vào Đà Nẳng, vì sợ con lai Mỹ bị VC khủng bố, nên bà đưa con vào Hội Cha Mẹ Nuôi lúc Heidi 6 tuổi.

Khi sang Mỹ, Mai Thị Hiệp được bà Ann Neville, một phụ nữ độc thân, khoa trưởng ở một trường đại học, nhận làm con nuôi, tên là Heidi Bub.

Bà Ann Neville sinh sống ở bang Tennessee, thánh địa của kỳ thị chủng tộc Ku Klax Klan. Bà che giấu nguồn gốc và cố làm cho Heidi giống 101% như Mỹ để bảo vệ con.
Về vật chất, Heidi không thiếu thốn gì cả, nhưng tình cảm giữa hai mẹ con rất khô khan cằn cỗi, thiếu hẳn những bộc lộ tình thương mẹ con. Bà Ann quá nghiêm khắc. Cuối cùng, bà đuổi Heidi ra khỏi nhà mà không giải thích lý do.

Lúc 6 tuổi, Heidi tưởng rằng mình không ngoan nên bị mẹ ruột từ bỏ. Lúc 22 tuổi, cô có mặc cảm, có lẻ mình quá tệ hại nên đã bị mất mẹ hai lần.

Năm 22 tuổi, Heidi bắt đầu tìm mẹ ruột. Trong lúc đó, ở VN, bà Mai Thị Kim cũng ra sức tìm lại đứa con.
Năm 1991, mẹ con bắt liên lạc được, qua một nhân viên của sứ quán HK. Heidi bắt đầu học tiếng Việt.
Năm 1997, ký giả Trần Tương Như, người VN đầu tiên mà Heidi tiếp xúc tại Mỹ. Trần Tương Như giúp Heidi trong chuyến về VN gặp lại mẹ ruột.


4). Heidi Bub về đến Việt Nam


         image image


         Heidi gặp các anh chị cùng mẹ khác cha và hàng xóm


Tại phi trường Đà Nẳng, Heidi gặp lại mẹ ruột và các anh chị cùng mẹ khác cha. Tiếp theo là những tổ chức, như những bữa cơm đại gia đình, viếng thăm hàng xóm, đi chợ…
Chỉ vài ngày sau, Heidi cảm thấy khó chịu, bị sốc vì khác biệt văn hoá. Biên giới riêng tư của mình bị xâm phạm.
Bà Kim muốn ngủ chung giường với Heidi để tâm sự suốt đêm, không muốn rời con, nhưng đối với Heidi thì đó là một cuộc tấn công, lấn át không gian cá nhân. Heidi không có thì giờ để suy nghĩ về những sự việc quá mới, quá xa lạ đối với mình.

Heidi thật sự bị sốc khi các anh chị cho rằng cô có bổn phận phải cung cấp tiền bạc và làm đơn bảo lãnh cho gia đình sang Mỹ.

Heidi nghĩ rằng cô bị bóc lột và bị lợi dụng, nên đã đổi vé máy bay về Mỹ sớm hơn lịch trình ấn định.
Khi về đến Mỹ, cô nhận được thơ của các anh chị khác cha, chủ yếu vẫn là tiền bạc và bảo lãnh. Cô cảm thấy không sốt sắng để trả lời những bức thơ đó.


7* Kết luận


Khi nước Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ, Việt Cộng áp dụng chế độ độc tài rất tàn bạo, là cướp của giết người trong chiến dịch gọi là «Cải tạo công thương nghiệp», nôm na là đánh tư sản. Người giàu làm ăn lương thiện cũng bị cướp của, tịch thu tài sản và cho vào tù.

Người dân bị xua đuổi đến những vùng rừng núi, khỉ ho cò gáy, gọi là vùng kinh tế mới. Bị bỏ đói nên người dân phải ăn bo bo, một thức ăn của súc vật. Phải ăn độn các thứ khoai. Việt Cộng dùng chế độ kềm kẹp người dân bằng hệ thống công an trị. Ngoài công an khu vực, kiểm soát vài chục gia đình, tổ dân phố mỗi phường được thành lập để người dân dòm ngó, theo dõi lẫn nhau.

Bần cùng hóa nhân dân bằng những đợt đổi tiền. Người giàu, người nghèo gì, bất kể số tiền đem đến nạp là bao nhiêu, tất cả đều nhận một số tiền bằng nhau. Gọi là bình đẳng xã hội.

Người dân bị kềm kẹp chặt chẽ, không dám than phiền, mà chỉ trách ông trời mà thôi. Có câu:

Chung quy cũng bởi vua Hùng

Sinh ra một lũ nửa khùng nửa điên

Thằng giàu thì đã vượt biên

Thằng nghèo ở lại nửa điên nửa khùng

Cũng rất may, là người Mỹ và nước Mỹ đã mở rộng vòng tay nhân đạo, đùm bọc và cho người Việt Nam tỵ nạn Cộng Sản có quyền bình đẳng đối với người bản xứ. Cho nên các thế hệ hậu duệ của Việt Nam Cộng Hòa có cơ hội chiếm được những chức vụ quan trọng trong việc phục vụ nước Mỹ, là quê hương thứ hai yêu mến của người tỵ nạn Việt Nam.


Trúc Giang

Minnesoata ngày 8-9-2021    


Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
24/09/202114:35:00
* NPR Radio: Quad chống lại sức mạnh đang trỗi dậy của Trung Quốc, chống lại yêu sách bất hợp pháp của Trung Quốc ở Biển Đông * Global Times: Trung Quốc chắc chắn sẽ trở thành tâm điểm của hội nghị thượng đỉnh này - Mục tiêu của Mỹ là trấn áp hoàn toàn Trung Quốc. * Global Times: Mỹ định biến Quad và AUKUS thành những "băng đảng nham hiểm" kiềm chế Trung Quốc. Chúng tôi kêu gọi các nước trong khu vực đừng để bị Washington lừa- đừng làm bia đỡ đạn cho Washington.
23/09/202111:25:00
Trước ngày 30-4-1975, Dinh Độc Lập (DĐL) là nơi cư ngụ và làm việc của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa. DĐL có hai kiến trúc, kiến trúc cũ được xây dựng ngày 23-2-1868, có tên là Dinh Norodom, sau đổi thành Dinh Độc Lập. Kiến trúc mới do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ thiết kế và thực hiện xây dựng dưới thời Tổng thống Ngô Đình Diệm. Kiến trúc cũ bị hai phi công Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc đánh sập bằng bom vào năm 1962.
21/09/202109:19:00
* Bộ Trg Quốc Phòng Úc: mướn tàu ngầm của Mỹ hoặc Anh để chống Trung Quốc. * Thủ Tướng Úc: không hối hận về quyết định hủy bỏ hợp đồng... * Bộ Trg quốc phòng Pháp: hủy bỏ cuộc họp với Bộ Trưởng quốc phòng Anh * Radio RFI Pháp: Báo chí Pháp đổ thừa cho phía Đức và Trung Quốc về vụ Úc hủy hợp đồng...
19/09/202110:11:00
Ngay cả những thay đổi nhỏ nhất ở Quận Cam cũng được theo dõi chặt chẽ ở Washington. Dân Biểu Sean Patrick Maloney, đảng viên Dân Chủ của New York và là chủ tịch Ủy Ban Dân Chủ Vận Động Tranh Cử Quốc Hội, cho biết ông cảm thấy lạc quan sau khi nghiên cứu kết quả bãi nhiệm ở Quận Cam - không chỉ vì những chiếc ghế cụ thể để giành lấy vào năm 2022 mà vì ông thấy khu vực là một dấu hiệu về những gì sắp xảy ra.
19/09/202109:13:00
* Thủ Tướng Úc: AUKUS cung cấp một hạm đội tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân cho Australia. * Thủ tướng Anh: AUKUS sẽ tạo ra hàng trăm công việc có tay nghề cao trên khắp Vương quốc Anh. * Tổng Thống Hoa Kỳ: AUKUS nâng cao khả năng chung để đối phó với các mối đe dọa của thế kỷ 21. * Bộ Trg Ngoại Giao Pháp: Cáo buộc Úc "đâm sau lưng"... * HCTB Trung Quốc: Nếu Úc dám khiêu khích, Trung Quốc chắc chắn sẽ trừng phạt không khoan nhượng. * Bộ Trg Quốc Phòng Úc: Sẽ không xin lỗi Pháp trong vụ hủy hợp đồng đóng tàu ngầm.
17/09/202109:31:00
Thế Chiến III không phải nổ ra ở Âu Châu hay Trung Đông mà sẽ nổ ra ở Á Châu mà máu lửa sẽ là Biển Đông. Các quốc gia Đông Nam Á nhất là Việt Nam và Phi Luật Tân ngay bây giờ nên cầu nguyện đi là vừa. Là người Việt Nam và Phi Luật Tân, tôi sẽ nói với các đại cường rằng, “Em lạy các bác. Muốn tỷ thí võ công, xin các bác đem ra Thái Bình Dương hay Sa Mạc Sahara mà tỷ thí. Xin đừng đem chiến tranh tới nhà chúng em! Nhà chúng em đã quá nhiều chiến tranh, chết chóc rồi!”
17/09/202109:08:00
Elder là một luật sư và chính trị gia bảo thủ. Ông từng viết sách. Hiện ông là người điều khiển chương trình phát thanh “Larry Elder Show.” Ông chưa bao giờ nắm giữ một chức vụ công quyền nào trước khi tranh cử chức thống đốc California để thay thế Newsom.
15/09/202109:45:00
* Trung Tâm CSIS Washington: 60% thương mại hàng hải đi qua châu Á. * Viện SWP nước Đức: Chính sách xoay trục của Mỹ sang Châu Á 2011 gây lo lắng cho châu Âu * Cơ quan ORF Ấn Độ: Từ chính sách "Xoay trục sang Châu Á" đến Trump’s ARIA. * Taipei Times Đài Loan: Bắc Kinh, tạo ra “quả bom hẹn giờ” gây ra xung đột ở Biển Đông. * Dept. of Defense FY2022: Duy trì điều khoản PDI đối đầu với Trung Quốc, tăng ngân sách quốc phòng lên 11%
12/09/202109:36:00
Căn cứ vào những tin tức thâu lượm qua báo chí và những bài bình luận của một số học giả, người ta có thể tiên đoán được rằng đương kim thống đốc sẽ được tái nhiệm trong cuộc bầu cử kết thúc vào thứ Ba tuần tới, 14-9-2021. Báo San Francisco Gate vào ngày 2-9-2021 đã đưa ra tựa đề lớn cuộc bầu cử bãi nhiệm Gavin Newsom đang chuyển thành một thắng lợi long trời lở đất theo thăm dò dư luận (Gavin Newsom Recall Election Is Turning Into Landslide, Poll Show). Càng đến ngày chấm dứt bầu cử điểm thắng lợi của Newsom càng tăng.
09/09/202119:07:00
* E-International Relations: Chính phủ Afghanistan bất bình vì họ bị loại ra khỏi các cuộc thảo luận về tương lai của đất nước mình * E-IR: Mục tiêu của Mỹ đã đạt được trước cuộc bầu cử 03.11.2020 * Liberation: Hội Nghị Moscow về Afghanistan 18.2.2021, thành lập chính phủ lâm thời. * Foreign Policy: Việc Mỹ rút khỏi Afghanistan cho phép Washington tham gia sâu hơn vào Ấn Độ - Thái Bình Dương * BBC-TT Afghan: Đây không phải là Việt Nam, Chính phủ không sụp đổ
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.