Hôm nay,  

"Dẫu Lìa Ngó Ý Còn Vương Tơ Lòng"

09/02/202111:15:00(Xem: 3510)
Nguyen Le

Tôi không cần phải tìm kiếm một câu chuyện tình yêu hay nhất cho ngày Valentine ở nơi xa xôi nào cả. Câu chuyện ấy ở thật gần bên tôi và tôi đã được nhìn thấy mỗi ngày: ngay cả cái chết đã không bao giờ có thể chia cách mối thâm tình giữa Ông Nội và Bà Nội tôi. Kể từ sau khi ông mất, Bà vẫn thương nhớ Ông và đến bên bàn thờ tâm sự với Ông mỗi ngày.

Nội tôi không bao giờ biết Valentine là gì và cũng không hiểu tại sao đám trẻ ngày nay lại ăn mừng ngày này.

Chưa từng hoa, chưa từng quà, cũng không có những buổi hẹn hò, không quen những lời nói ngọt ngào, Ông Bà Nội tôi sống với nhau theo như đạo lý truyền thống của người Việt là “nghĩa keo sơn,”  “tình tấm mẳn” với lời nguyện ước quen thuộc “răng long đầu bạc.”

Nội tôi đến với nhau qua sự mai mối, sắp đặt, tức là không trải qua sự yêu đương lãng mạn của hầu hết giới trẻ bây giờ. Thế mà cuộc hôn nhân đó bền vững suốt hơn 60 năm. Một thuỷ, hai chung, Ông Bà Nội đã đồng hành với nhau suốt đoạn đường đời, cùng nhau chia ngọt sẻ bùi, đồng cam cộng khổ, cùng nhau gánh trọng trách nuôi lớn những 7 người con. 

Trong khi Ông Nội tôi bôn ba với những chuyến xe hàng khắp Nam kỳ lục tỉnh những năm bom rơi đạn lạc hoặc sau này dầm mưa dãi nắng ngoài đồng ruộng thì Bà Nội tôi một mình ở nhà vừa sớm tối chăm lo cho đàn con - chưa dứt đứa con này đã phải chăm bẵm đứa khác - lại vừa phải tảo tần hôm sớm ruộng vườn, đồng áng, lại còn buôn bán ngoài chợ đỡ dần Ông Nội tôi những năm tháng khó khăn. Tôi nhớ hồi tôi còn nhỏ Bà Nội tôi thường dậy lúc trời còn tĩnh mịch đổ trấu, nhúm lò, đổ bánh để sáng sớm mai kịp đem ra chợ bán.

Rồi cả hai đều già yếu cũng là lúc con cháu tung cánh bay xa khỏi ngôi nhà cũ. Cả ngôi nhà chỉ còn lại Ông Bà Nội tôi hủ hỉ với nhau sớm tối. 
Gần hai năm trước, Ông Nội tôi sau một cơn bạo bệnh thập tử nhất sinh xuất viện về nhà, tròn một năm trời chính Bà tôi lại một tay chăm lo cho Ông Nội cho đến ngày ông mất. Nhìn Bà Nội tôi tóc bạc, lưng còng gần như gập xuống vì sinh nở nhiều, chân đi không vững phải lần mò từng bước mà phải lo cho Ông tôi từng miếng ăn, giấc ngủ, vệ sinh, tắm giặt không nề hà chi cực nhọc, dơ bẩn tôi thấy thương cả Ông và Bà Nội tôi nhiều lắm và hết sức ngưỡng mộ tình nghĩa thủy chung của Ông Bà tôi dù cũng có những lúc hờn mát kiểu người già.

Giờ đây, Ông Nội tôi đã mất được quá 100 ngày, một mình Bà Nội tôi trong căn nhà hiu quạnh nhưng dứt khoát không chịu về ở với con cháu vì còn bàn thờ Ông Nội ở đó. Bà tôi không thể để lại bàn thờ Ông tôi lạnh lẽo không người coi sóc. Rồi mỗi bữa khi Nội ăn cơm Nội đều xới riêng ra một chén để đôi đũa lên trên để mời Ông về ăn cơm với Nội. Rồi hàng ngày Nội đều lên nhà trên lo hương khói và đốt giấy tiền cho Ông. Nhìn dáng Nội cặm cụi bên bàn thờ Ông lòng tôi không khỏi xót xa.

Nhìn thấy Ông Bà Nội tôi như vậy, tôi thường ví Ông Bà như đôi chim uyên ương mà Tây phương gọi là ‘‘lovebirds” vốn lúc nào cũng bay có nhau và khi một con ra đi con còn lại sẽ âu sầu ủ rũ cho đến chết. Tôi ráng chăm sóc cho Nội tôi sống vui vẻ những ngày Bà không còn Ông nữa nhưng trong lòng tự nhủ rằng sẽ có ngày Bà về đoàn tụ với Ông để nối tiếp tình nghĩa keo sơn giữa hai người vốn “dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng.” Con cháu sau này sẽ nhìn vào đó mà ngưỡng vọng và tưởng nhớ công ơn Ông Bà.

Tình nghĩa vợ chồng của Ông Bà chúng ta ngày xưa như thế thì liệu giới trẻ ngày nay dù có chăm chút cho ngày Valentine thế nào đi nữa có bao giờ sánh kịp?

Nguyễn Lễ

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Nhà sư, nhà thơ, nhà thư pháp Thích Nhuận Tâm cho biết sau khi thầy hoàn tất Lớp hướng dẫn thư pháp tại Huntington Beach, California cuối tuần này, Thầy sẽ bay sang Houston, Texas để sẽ hướng dẫn một lớp thư pháp dự kiến sẽ mở ra tại Tịnh Xá An Nhiên ở Houston.
Bài thơ Lời tình buồn được nhạc sĩ Vũ Thành An phổ nhạc năm 1967, khi nhạc sĩ và thi sĩ Chu Trầm Nguyên Minh cùng đang theo học lớp Sĩ quan tại quân trường Lam Sơn, Đồng Đế, đến nay đã trở thành một trong những ca khúc vượt thời gian, được thể hiện qua những giọng ca: Tuấn Ngọc, Khánh Ly, Bằng Kiều…
Trong một bối cảnh đất nước nhiễu nhương, hỗn loạn, nhà văn thường đóng một vai trò quan trọng bằng cách sử dụng ngôn từ của mình để phản ánh, phê bình, truyền cảm hứng và đôi khi thậm chí thách thức hiện trạng. Trong suốt chiều dài lịch sử, nhà văn phản ứng với những biến động khác nhau, cho dù đó là xã hội, chính trị hay văn hóa...
Tết và Xuân, Xuân và Tết, thời điểm kỳ lạ trong một năm. Vừa trông chờ vừa mong đừng đến. Vừa lưu luyến rét đông vừa háo hức xuân ấm. Vừa khép kín đoàn tụ gia đình vừa chan hoà xôn xao lễ hội. Vừa lặng lẽ hoài niệm chuyện riêng tư vừa hân hoan cùng nhau “nâng chén ta chúc nơi nơi”...
Nhà hiền triết người Ấn Độ Jiddu Krishnamurti (1895-1986) qua đời vào ngày 17 tháng 2 năm 1986 tại Ojai Valley, Quận Ventura, Nam California, Hoa Kỳ, nơi ông đã chọn làm quê hương thứ hai từ năm 1922 cho đến khi ông mất, dù ông không ở đó thường trực. Tính đến tháng 2 năm nay, 2024 đã tròn 38 năm kể từ ngày ông lìa bỏ trần gian. Krishnamurti là một trong những nhà hiền triết có sức ảnh hưởng rất lớn đối với nhân loại trong thế kỷ 20. Cuốn “The First and Last Freedom” của ông được Giáo sư Phạm Công Thiện dịch sang tiếng Việt từ trước năm 1975 ở Sài Gòn với tựa đề “Tự Do Đầu Tiên và Cuối Cùng” là một trong những cuốn sách tôi rất yêu thích đọc từ thời còn niên thiếu. Nhân tìm đọc lại một số bài giảng và bài viết của Krishnamurti, tôi tình cờ gặp được bài thơ “Song of the Beloved” (Bài Ca Về Người Yêu), nhưng không thấy ghi ông đã làm từ bao giờ. Có lẽ bài ca này ông làm vào những lúc về nghỉ ngơi tịnh dưỡng ở Ojai, vì bài đó nói lên lòng yêu thích thâm thiết của ông đối với thiên nhiên,
Ngô Thế Vinh là một tên tuổi đã thành danh ngay từ trước năm 1975 tại miền Nam Việt Nam. Ông đoạt Giải Văn Học Nghệ Thuật VNCH năm 1971 với tác phẩm Vòng Đai Xanh. Sau này ông có thêm hai giải thưởng: 1) Giải Văn Học Montréal 2002 Hội Quốc Tế Y Sĩ Việt Nam Tự Do với Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy Sóng và 2) Giải Văn Việt Đặc Biệt 2017 với Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy Sóng và Mekong Dòng Sông Nghẽn Mạch...
Người viết chơi với Phạm Thiên Thư từ những năm học trung học đệ nhất cấp khoảng 58-59. Thư đến nhà tôi ở ấp Cả Trắc, khu Ông Tạ và chúng tôi thường kéo nhau ra quán cà phê vợt ở đầu ngõ đi vào ấp. Trong những lần uống cà phê, Thư nói sôi nổi về việc lập học hội Hồ Quý Ly, để thực hiện việc nghiên cứu, viết văn, làm thơ. Mục đích là tiến tới làm một tập san văn nghệ...
Chúng tôi vẫn biết Hoàng Cầm là người cùng quê và là bạn với một ông anh họ từ thời kháng chiến chống Pháp, nhưng không ngờ nhà thơ lại theo xe ra đón chúng tôi ở phi trường Nội Bài. Hôm đó Hoàng Cầm mặc một cái màu đỏ xậm trông rất hào hoa dù Hà Nội năm đó vẫn còn rất nghèo...
Mở đầu cho sê-ri bài viết về phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm thập niên 50 tại Bắc Việt Nam, là một tư liệu hiếm quý về/của nhà thơ Phùng Quán. Việt Báo trân trọng giới thiệu.
Nước Mỹ thế kỷ XX cống hiến cho nhân loại sự phong phú và đa dạng của các trào lưu, chủ đề và tiếng nói trong văn học. Một số tác giả và tác phẩm kinh điển đã xuất hiện trong thời kỳ này, góp phần phát triển truyền thống văn học có từ những thế kỷ trước. Riêng trong lĩnh vực tiểu thuyết, văn học hiện đại, thịnh hành vào đầu thế kỷ XX ở Châu Âu với kỹ thuật “dòng ý thức” trong tiểu thuyết của James Joyce và Virginia Woolf, lan rộng sang Mỹ, tìm cách tách rời các hình thức truyền thống thế kỷ XIX để cách tân và hình thành một dòng văn học mới với phong cách độc đáo, táo bạo và mở ra những cánh cửa thú vị bất ngờ cho người đọc đi vào ngôi nhà nghệ thuật. Kỷ nguyên văn học hiện đại phương Tây bắt đầu từ hai thập kỷ đầu của thế kỷ XX và, không thể nghi ngờ, Mỹ là quốc gia có những đóng góp to tát. Các tiểu thuyết gia lớn trong thời kỳ này, ta có thể nhắc đến F. Scott Fitzgerald, Ernest Hemingway và William Faulkner.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.