Hôm nay,  

Phỏng Vấn Nhạc Sĩ Trường Sa và Những Dòng Sông Xưa

22/01/202114:42:00(Xem: 6098)

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/a/ac/NS_Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Sa.jpg
Nhạc sĩ Trường Sa

 

L.G.T.- Trường Sa là tác giả của những tình ca đã một thời làm rung động không biết bao nhiêu tâm hồn của những người yêu nhau.Và Trường Sa cũng là tác giả của nhiều bản hùng ca được phổ biến rất rộng rãi trong các quân/binh chủng. Vào một dịp đặc biệt, Điệp Mỹ Linh đã tiếp xúc với Trường Sa và ghi lại cuộc đàm thoại ngắn này.

Đ.M.L.- Xin anh vui lòng cho biết anh định cư tại Canada từ năm nào? Tình trạng gia đình anh ra sao? Từ đó cho đến nay anh sáng tác được bao nhiêu nhạc phẩm mới?

 

T.S.- Tôi định cư tại Canada từ năm 1991. Vợ tôi đã qua đời cách nay vài năm. Tôi hiện sống một mình; vì các con của tôi đều lập gia đình; 3 cháu ở Toronto, một cháu đang sống tại Mỹ.

 

Từ đó đến nay tôi sáng tác những ca khúc sau đây: Xin Yêu Nhau Dù Mai Nữa (được trình bày trong Thúy Nga 70), Mùa Xuân Sao Chưa Về Hỡi Em (Thúy Nga 44), Những Mùa Thu Qua Trên Cuộc Tình Tôi và Khi Chuyện Tình Đã Cuối (Asia video), Bản Tình Ca Cho Kỷ Niệm (Thúy Nga 70), Paris Em Về (Video Asia) Đôi Mắt Em Tôi (Asia CD), Một Thoáng Mơ Phai (Thúy-Nga CD), Saigon Ơi Tôi Còn Em Đó, Thu Vẫn Qua Đây Mình Ta và Hạnh Phúc Hôm Nay. Những ca khúc này đều xuất hiện trong CD Giòng Thời Gian, của Thùy Dương.

 

Đ.M.L.- Ngược thời gian trở về thời kỳ trước năm 1975, xin anh cho biết qua xuất xứ/không gian/thời gian cũng như cảm hứng của anh vào những lúc anh sáng tác những nhạc phẩm nổi tiếng một thời.

 

T.S.- Là một sĩ quan Hải Quân Quân Lực Việt-Nam Cộng-Hòa (V.N.C.H.), trước bối cảnh lịch sử, tôi đã viết một số ca khúc đại chúng, trong thời gian 1965-1966, như Hành Trang Giã Từ, Chuyện Người Đan Áo, Một Lần Xa Bến, Trên Đường Về Thăm Em v. v. Sau năm 1966 tôi chuyển hướng, chỉ viết tình ca. Hầu hết các ca khúc đều buồn, từ chuyện tình cảm mất mát.

Từ 1967 đến 1969, những ca khúc tôi viết tại Saigon và được Lệ Thu thâu thanh đầu tiên là: Xin Còn Gọi Tên Nhau, Rồi Mai Tôi Đưa Em và Mùa Thu Trong Mưa. Nhạc phẩm Một Mai Em Đi tôi sáng tác năm 1973, khi đơn vị của tôi đóng quân ở đồn Trà Cú, cũng do Lệ Thu thâu thanh đầu tiên.

Ngoài ra nhiều nhạc phẩm khác của tôi cũng được những ca sĩ khác trình bày, như Tàn Tạ (Thái Thanh), Ru Em Một Đời (Sĩ Phú). Những ca khúc sáng tác tại Trà Cú: Một Mai Em Đi, Ru Em Một Đời, Sầu Muộn, Như Hoa Rồi Tàn, đều do Lệ Thu trình bày. Riêng Sầu Biển được phổ biến rất rộng rãi trong Hải Quân; vì bản nhạc ra đời vào thời điểm Hải Quân V.N.C.H. tham chiến trận Hoàng Sa.

Đ.M.L.- Tôi không ngạc nhiên khi được anh cho biết nhiều nhạc phẩm của anh đã được sáng tác tại Trà Cú. Tôi đã đến Trà Cú. Đường vào Trà-Cú chỉ có thể bằng hải vận/không vận mà thôi. 

 

Từ trực thăng nhìn xuống, đồn Trà Cú đơn độc, nằm ngay một vị trí chiến lược rất hiểm hóc của bờ sông Vàm Cỏ Đông và con kinh đào nho nhỏ. Nhưng, khi chiều xuống, ngồi nơi bãi đáp trực thăng, nghe tiếng thì thầm của lau sậy nơi vùng đầm lầy từ phía sau rồi nhìn những tia nắng úa tàn lướt nhẹ trên dòng nước lặng lờ của dòng sông Vàm Cỏ và thấy từng khóm lục bình quấn quít quanh mấy chiếc khinh tốc đỉnh – PBR (River Patrol Boat) – đang bập bềnh nơi cầu tàu thì, đối với tôi, Trà Cú không còn là một địa thế quân sự mà Trà Cú chính là nơi dễ khơi động những rung cảm thầm kín của những người mang tâm hồn nghệ sĩ.

 

Những bản tình ca của anh thường mở đầu một cách rất dịu dàng, tha thiết. Nhưng, đến đoạn giữa, anh tạo những biến âm rất lạ và rất bất ngờ. Chính những biến âm đó xoáy sâu vào hồn và làm nhức tim người nghe. Từ trước 75 cũng như sau 75, tôi nghe rất nhiều ca sĩ hát nhạc của Trường Sa. Họ hát cũng hay lắm, nhưng, đối với tôi, chỉ có tiếng hát Lệ Thu mới thật sự diễn đạt được những biến âm đột ngột đó. Xin anh cho biết anh có cùng nhận xét với tôi hay không?

 

T.S.- Những biến âm mà chị đề cập không phải tự tôi cố tình tạo nên mà là do những rung động sâu kín trong tôi trào dâng. Tôi đồng ý với nhận xét của chị về tiếng hát Lệ Thu. Vào thời điểm 1964-1965 Lệ Thu hát hay nhất và tôi thích tiếng hát Lệ Thu nhất.

 

Đ.M.L.- Tại sao thời gian đó anh không phục vụ tại phòng Chiến Tranh Chính Trị mà lại chỉ huy những đơn vị tác chiến? Cảnh sắc và những dòng sông mà đơn vị của anh đã đi qua có đem đến cho anh nguồn cảm hứng nào hay không?

 

T.S.- Tôi không thích sống và làm việc gò bó tại văn phòng, mặc dù Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh đã chú ý và vài lần đề nghị tôi về Chiến Tranh Chính Trị. Cảnh sắc và những dòng sông mà đơn vị tôi đã đi qua có đem cảm hứng đến cho tôi; nhưng vì đơn vị của tôi đụng trận liên miên nên tôi không thể sáng tác được.

 

Đ.M.L.- Một lần, tại căn cứ Tiền Doanh Yểm Trợ Rạch-Sỏi, thấy mấy chiếc khinh tốc đỉnh nhận nhiên liệu xong, sắp trở lại vùng hành quân – sông Cái Lớn – tôi xin ông trung úy trưởng toán cho tôi “quá giang”. Ông trung úy bảo để ông ấy xin phép chỉ huy trưởng của ông ấy đã. Sau khi ông trung úy ấy dùng máy truyền tin trình với anh về yêu cầu của tôi, tôi nghe anh bảo ông trung úy tả hình dáng của tôi cho anh nghe xem có đúng hay không rồi anh mới quyết định. Lúc đó tôi mới biết chỉ huy trưởng của ông trung úy là anh; nhưng tôi vẫn chưa biết anh là Trường Sa. Khi vào đến vùng hành quân, gặp anh, tôi mới được biết anh là tác giả những bản nhạc mà tôi rất thích. Xin anh cho biết lúc đó anh chỉ huy giang đoàn nào? Và khi hành quân ở vùng sông Cái Lớn anh có cho ra đời nhạc phẩm nào hay không?

 

T.S.- Lúc đó tôi chỉ huy Giang đoàn 63 Tuần Thám. Đơn vị của tôi hoạt động trên sông Cái Lớn chỉ có 3 tháng. Trong thời gian này đơn vị của tôi cũng đụng trận hoài nên không sáng tác được gì cả. Sau đó Giang đoàn 63 Tuần Thám phải quay về Đồng Tháp Mười để giải tỏa áp lực địch ở kinh Đồng Tiến. Tại vùng này, vào mùa Hè năm 1972, chúng tôi đã chịu một trận đánh rất ác liệt.

Đ.M.L.- Xin anh cho biết một cách khái quát về trận đánh đó để độc giả được biết thêm về một khía cạnh khá đặc biệt của anh.

 

T.S.- Tại trung tâm Đồng Tháp Mười và cũng là trung tâm kinh Đồng Tiến, Hải Quân thành lập một căn cứ tại Phước Xuyên. Căn cứ này là hậu cứ của Giang Đoàn 63 Tuần Thám. Từ căn cứ Phước Xuyên đi về hướng sông Vàm Cỏ Tây, hai bên là rừng tràm dày đặt, chạy dài tới Ấp Bắc. Từ căn cứ Phước Xuyên đi về hướng sông Cữu Long, hai bên là đồng trống, thỉnh thoảng có một khu dân cư ở ven kinh.

 

Ngày 07-04-72, đoàn khinh tốc đỉnh của Giang Đoàn 63 Tuần Thám đang tuần tiễu trong khu rừng tràm thì bị lực lượng cộng sản Bắc Việt, từ biên giới Kampuchea xâm nhập vào lãnh thổ Việt Nam, tấn công. Trong khi đó, một đoàn khinh tốc đỉnh khác – cũng thuộc Giang Đoàn 63 Tuần Thám – đang hoạt động nơi khu đồng trống thì bị đánh bằng mìn áp lực, căn cứ Phước Xuyên bị pháo kích liên tục và bị phóng hỏa tiễn. Giang Đoàn 63 Tuần Thám được tăng cường một số khinh tốc đỉnh thuộc Giang Đoàn Ngăn Chận và Giang Đoàn 59 Tuần Thám. Lúc này mọi hoạt động của lực lượng Hải Quân VNCH đều phải “co” lại, vì mặt nào cũng bị tấn công.

 

Suốt hai tháng bị bao vây tại Đồng Tháp Mười, lực lượng Hải Quân đã hai lần mở đường máu ra Ấp Bắc, với sự yểm trợ của lực lượng Bộ Binh phối hợp với Không Quân Hoa Kỳ, nhưng khi đến khu rừng tràm thì bị đánh dội ngược trở lại.

 

Các Giang Đoàn Tuần Thám đều được trang bị bằng khinh tốc đỉnh. Khinh tốc đỉnh được chế tạo bằng vật liệu nhẹ nên ưu thế là tạo được vận tốc cao nhưng yếu thế là khi bị mìn thì tàu vỡ tan! Do đó lực lượng Hải Quân bị tổn thất nặng trong trận này. Đơn vị Việt cộng chủ động trận đánh này tôi không nhớ rõ, dường như là Công Trường 5 cộng sản Bắc Việt.

 

Đ.M.L.-Sau đó anh về Trà Cú, đúng không? Vì tôi nhớ khoảng thời gian cuối 72 hoặc đầu 73, tôi gặp anh ở Trà Cú.

 

T.S.- Vâng. Sau trận đánh kinh hoàng ở căn cứ Phước Xuyên, tôi được thuyên chuyển về làm chỉ huy trưởng Giang Đoàn 53 Tuần Thám, chịu trách nhiệm vùng sông Vàm Cỏ Đông, trú quân tại căn cứ Trà Cú, thuộc tỉnh Hậu Nghĩa. Vì đơn vị của tôi hoạt động trên sông Vàm Cỏ Đông với mục đích cắt ngang thủy lộ xâm nhập của cộng sàn Bắc Việt từ mật khu Mõ Vẹt nên bị đụng độ hoài và căn cứ Trà Cú bị pháo kích liên miên, kể cả bị hỏa tiễn AT3.

ĐML.- Ngày đó, ở cương vị của một sĩ quan Hải Quân ngành chỉ huy và tiếng tăm của một nhạc sĩ được mến mộ, nếu buộc anh phải lựa chọn, anh chọn danh xưng nào?

 

T.S.- Là một thiếu tá Hải Quân, tôi rất hãnh diện đã phục vụ cho lý tưởng tự do; đó là hoài bảo của một thanh niên đầy nhiệt huyết trước nhu cầu của đất nước; đó cũng là danh dự của cả một đời người, tôi không thể không chọn lựa danh xưng này.

 

Mọi người sinh ra đều có những năng khiếu khác nhau. Viết một ca khúc, trước hết mình đã phần nào là một người làm thơ và mình cũng phải có một giác quan rất bén nhạy mới có thể tạo ra được những chuỗi âm thanh hài hòa để người nghe cùng rung động với tâm tư của mình. Vì vậy, trong âm nhạc, tôi cũng không thể không nhìn nhận đây là một nhu cầu vô cùng cần thiết cho đời sống tinh thần.

 

Đ.M.L.- Anh trả lời khéo léo vô cùng. Xin anh cho biết tựa đề nhạc phẩm anh sáng tác đầu tiên và ca sĩ nào trình bày? Cho đến nay tổng cộng anh sáng tác được bao nhiêu ca khúc?

 

T.S.- Bản nhạc do tôi sáng tác đầu tiên là một ca khúc Tango Habanera, tựa đề Mây Trên Đỉnh Núi, để tặng người bạn tên Hoàng, xướng ngôn viên đài phát thanh Dalat. Bản này do Thanh Lan hát. Cho đến nay, kể cả một số ca khúc chưa phổ biến, tổng cộng tôi sáng tác khoảng 50 bài.

 

Đ.M.L.- Anh nhận xét như thế nào về nền âm nhạc Việt Nam ở trong nước kể từ khi anh ra tù rồi vượt biển? Thời gian đó có bao giờ vô tình anh nghe lại được những bản nhạc của anh trong số “nhạc vàng” mà người miền Bắc rất thích hay không? Nếu có, lúc đó anh nghĩ gì và cảm nhận được gì?

 

T.S.- Suốt thời kỳ chiến tranh, người miền Bắc Việt Nam chỉ được các nhạc sĩ phổ biến những ca khúc động viên tinh thần chống Mỹ. Tuy nhiên, sau khi chiến tranh chấm dứt, khuynh hướng phổ biến “nhạc vàng” được nới rộng và quần chúng có dịp thưởng thức phần nào âm nhạc miền Nam. Chính tôi đã được nghe một chương trình nhạc êm dịu do Phạm Trọng Cầu tổ chức và một ca sĩ hát bài Rồi Mai Tôi Đưa Em. Và sau khi vượt biển, ra ngoại quốc, tôi được xem một show video , ca sĩ Lan Ngọc trình bày Xin Còn Gọi Tên Nhau và Mùa Thu Trong Mưa. Những lúc đó tôi rất xúc động.

 

Đ.M.L.- Anh so sánh như thế nào giữa nền âm nhạc Việt Nam tại hải ngoại và nền âm nhạc tại Việt Nam từ 1954 đến năm 1975?

 

T.S.- Có thể chia làm hai thành phần. Thành phần những người viết nhạc từ trước 1975. Do hoàn cảnh sinh sống trên quê hương tạm dung khác biệt với quê hương Việt Nam nên bị hạn chế và cái nhìn có khác đi. Thành phần những người trẻ viết nhạc sau 1975. Số người sáng tác đông đảo, âm nhạc có khuynh hướng trẻ, tuy nhiên, bị hạn chế về văn chương Việt Nam; vì họ không được hấp thụ như những người sinh ra/lớn lên và viết nhạc tại Việt Nam. Đa số lời ca sáo ngữ, không có chiều sâu.

 

Đ.M.L.- Anh có nhận thấy rằng, trong khi người viết nhạc tại hải ngoại thiếu hoàn cảnh để đưa âm nhạc gần với tình tự dân tộc thì nhiều nhạc sĩ và ca sĩ tại Việt Nam lại có chiều hướng muốn rời xa những gì họ sẵn có để bắt chước theo nhạc ngoại quốc hay không?

 

T.S.- Vâng. Đó là điều thật đáng tiếc.

 

Đ.M.L.- Anh có nhận thấy rằng “dòng Boléro nhàm chán” của thời trước 75 nay không xuất hiện nhiều trong nền âm nhạc Việt Nam tại ngoại quốc hay không?

 

T.S.- Vâng. Tôi nhận thấy sự giảm thiểu đó. Nhưng, theo tôi, Rhumba hay Boléro tự nó không đem đến cho người nghe chút nhàm chán nào cả mà chỉ vì nó dễ đàn, dễ hát, ai đàn, ai hát cũng được nên dễ phổ biến. Người viết nhạc thời đó thích phổ nhạc hoặc viết những ca khúc theo điệu Bolero để phổ biến rộng rãi nên người nghe nghe hoài đâm ra không cảm thấy hay nữa.

 

Đ.M.L.- Khi sáng tác anh thường xử dụng nhạc cụ nào?

 

T.S.- Tôi thiếu may mắn. Thuở thư sinh vừa học văn hóa vừa tự nghiên cứu âm nhạc theo bộ sách giáo khoa của Traité Dubois, gồm Harmonie Consonante, Harmonie Dissonante, Contre Point, Le Fugue. Đến tuổi động viên, tôi gia nhập Hải Quân, khóa 12 sĩ quan Hải Quân Nha Trang. Nhịp độ chiến tranh và cuộc đời quân nhân không cho phép tôi thực hiện những điều tôi mong muốn như học một số nhạc cụ tôi thích, chẳng hạn như Piano. Tôi chơi Guitar từ khi tôi 14 tuổi.

 

Đ.M.L.- Anh có muốn trở lại thăm những vùng “không gian xưa quen gót lầy” (1) hay không?

 

T.S. - Muốn lắm chứ. Tôi và bạn bè của tôi đã trải dài phần đời tươi trẻ của chúng tôi trong những vùng “không gian xưa quen gót lầy” đó. Chuỗi ngày tươi trẻ ấy tuy triền miên sống trong hiểm nguy, khốn khó, lúc nào cũng cận kề với cái chết, nhưng chúng tôi rất hãnh diện là chúng tôi đã sống một phần đời đáng sống.

 

Đ.M.L.- Sau chương trình do Paris By Night thực hiện anh có dự định nào khác cho tương lai gần hay không?

 

T.S.- Tôi chỉ mong gom góp tất cả những ca khúc tôi viết từ trước đến nay để cho vô một tuyển tập, nhưng tôi vẫn chưa thực hiện được, vì lười!

 

Đ.M.L.- Anh muốn nhắn gửi điều gì đến độc giả không?

 

T.S.- Tôi xin cảm ơn độc giả và những người đã yêu thích nhạc của Trường Sa.

 

(1) Lời ca của nhạc phẩm Rồi Mai Tôi Đưa Em, của Trường-Sa. 

ĐIỆP MỸ LINH

http://www.diepmylinh.com/ 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Không thể chối cãi, trong đầm không gì đẹp bằng sen. Đúng hơn nữa, trong đầm không gì thơm hơn sen. Nhưng vì sao sen lại mọc trong đầm bùn? Vì sao sen không mọc sánh vai cùng Cẩm Chướng, Mẫu Đơn, Hồng Nhung, Anh Đào, Thiên Điểu, Oải Hương, Hướng Dương, vân vân trong những vườn quyền quý cao sang, những nơi chưng bày lộng lẫy? Vì sao sen lại chọn ngâm mình trong nước hôi tanh? Vì sao trong tất cả loại sen, tôi lại quý sen hồng, trong khi đa số yêu sen trắng? Sen và bùn là một lý thuyết chính trị cần thiết cho Việt Nam hiện nay. Hoa sen phải mọc từ bùn, trong bùn. Không thể mọc ở những nơi không có bùn. Vì sao hoa sạch thơm phải mọc và sống từ nơi dơ thúi? Rồi sen phải vượt lên khỏi mặt nước mới nở được hoa đẹp, hoa thơm, nhưng vẫn cần có bùn để tồn tại. Một quá trình hiện thực, một ẩn dụ để tư duy.
Bộ phim Face Off 7: One Wish như đem lại một tín hiệu tốt lành rằng trong một xã hội Việt Nam ngày nay đang có quá nhiều điều nhiễu nhương, những nét đẹp truyền thống của văn hóa Việt Nam vẫn còn có chỗ để tồn tại…
Hồi nhỏ, tôi thường nghe cha tôi đọc hai câu ca dao này: “Còn cha gót đỏ như son, đến khi cha chết gót con đen sì.” Lúc ấy tôi chừng năm bảy tuổi, nên nghe rồi thuộc lòng mà không hiểu hết ý nghĩa, chỉ biết hời hợt là nếu cha chết thì mình sẽ khổ lắm! Nhưng ngay cả khổ ra sao thì cũng chẳng hình dung được. Câu ca dao nói trên cho thấy truyền thống ngày xưa, người cha đóng vai trò then chốt trong gia đình. Ông vừa là trụ cột kinh tế để nuôi gia đình, vừa là tấm gương đức hạnh để cho con cái noi theo. Đặc biệt là với truyền thống phụ hệ con cái mang họ cha, nên việc “nối dõi tông đường” đặt lên vai người con trai, hay người đàn ông. Đó có thể là yếu tố cấu thành quan niệm “trọng nam khinh nữ” ngày xưa tại các nước theo phụ hệ như Việt Nam, Trung Hoa, v.v…
Tháng 3/2022, Bến Bạch Đằng Saigon bị đổi tên thành “Ga Tàu Thủy Bạch Đằng”. Sự kiện này đã dẫn đến những tranh luận trong dân gian chung quanh đề tài: Ngôn ngữ Hà Nội (ngôn ngữ miền Bắc) đang làm mờ dần sắc thái đặc biệt của ngôn ngữ miền Nam Việt Nam...
Tháng Năm là tháng vinh danh những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho đất nước Hoa Kỳ mà trong đó tất nhiên có người Mỹ gốc Việt. Những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho Hoa Kỳ bao gồm rất nhiều lãnh vực, từ kinh tế, chính trị đến văn học nghệ thuật, v.v… Nhưng nơi đây chỉ xin đề cập một cách khái quát những đóng góp trong lãnh vực văn học của người Mỹ gốc Việt. Bài viết này cũng tự giới hạn phạm vi chỉ để nói đến các tác phẩm văn học viết bằng tiếng Anh của người Mỹ gốc Việt như là những đóng góp nổi bật vào dòng chính văn học của nước Mỹ. Điều này không hề là sự phủ nhận đối với những đóng góp không kém phần quan trọng trong lãnh vực văn học của Hoa Kỳ qua hàng trăm tác phẩm văn học được viết bằng tiếng Việt trong suốt gần năm mươi năm qua.
Điều tôi muốn nhắn nhủ với các thế hệ nam nữ thanh-niên trẻ là chúng ta phải sống làm sao cho đáng sống kiếp người. Nói theo ngôn ngữ của Lý Đông A, con người phải sống đủ 3 mặt là: Sống - Còn - Nối tiến hóa. Gói gọn là sống Nhân Chủ, dựa vào Nhân Bản, rồi Nhân Chính và Dân Chủ...
Đêm nhạc có sự hiện diện đặc biệt của phu nhân nhạc sĩ Cung Tiến là bà Josee Cung và con trai Raphael Cung, cùng các anh chị em của Ông và Bà. Bích Liên đã gởi lời cảm ơn gia đình cố nhạc sĩ đã cho phép và khuyến khích chị thực hiện CD Vết Chim Bay. Chị cho biết thực hiện CD trong gần hai năm trời. Trong CD này, người nghe sẽ lại được thấy một Bích Liên cầu toàn trong âm nhạc Cung Tiến, giống như chị đã từng làm với CD Tạ Ơn Đời để tưởng nhớ nhạc sĩ Phạm Duy. Từng nốt nhạc, từng lời ca, từng câu hát đều được nâng niu, trân trọng. Chị nói CD này như là một nén hương thắp lên để tưởng nhớ người nhạc sĩ. Là một người luôn hướng đến sự toàn bích của âm nhạc, ở một thế giới xa xôi nào đó, chắc hẳn nhạc sĩ Cung Tiến sẽ cảm nhận được tấm lòng tri kỷ.
VĂN HÓA được hiểu một cách đơn giản là NHỮNG GÌ CÒN LẠI. Còn lại ở đây không có nghĩa là còn lại trong phút chốc, trong một giai đoạn ngắn mà là còn lại với ý nghĩa là tồn tại qua nhiều biến động, qua nhiều giai đoạn lich sử rất lâu dài cả trăm năm, cả ngàn năm mặc cho vật đổi sao dời...
Người viết xin nêu ra một số chữ và nghĩa trong tiếng Việt mà khi dùng đã gây ra biết bao lỗi lầm:
Mấy ngày nay hình ảnh vị sư tên Minh Tuệ lan tràn trên các kênh Youtube. Vào các trang mạng gõ chữ Minh Tuệ thì hiện ra nhiều Video cho thấy đông đảo người dân cùng đi bộ trên đường với Sư; khi Sư ngồi nghỉ chân trong nghĩa trang hay gốc cây thì hàng trăm người bao quanh; có người lễ bái Sư bày tỏ lòng kính trọng đối với một vị tăng tu theo Hạnh Đầu Đà của Phật Giáo...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.