Hôm nay,  

Văn Học Press Trân Trọng Giới Thiệu Tập Truyện "Có Những Đêm Trăng Vỡ" của Vũ Đình Kh

17/01/202113:46:00(Xem: 2468)


 

NC_Cover_PreOrder.jpg


Trân trọng giới thiệu:
 CÓ NHỮNG ĐÊM TRĂNG VỠ

Tập truyện

VŨ ĐÌNH Kh

VĂN HỌC PRESS xuất bản, 2021


Tựa: Đoàn Nhã Văn

Tranh bìa: Đinh Trường Chinh

Thiết kế bìa: Lê Giang Trần


356 trang, ấn phí: US$20.00


Tìm mua trên BARNES & NOBLE

Keyword: co nhung dem trang vo

Hoặc bấm vào đường dẫn sau:


https://www.barnesandnoble.com/w/co-nhung-dem-trang-vo-vu-dinh-kh/1138639133?ean=9781666236989 


VHLogo_Caybut.jpg

22 Agostino, Irvine, CA 92614 USA • vmail: +1-949-981-3978

email: vanhocpress@gmail.com • Facebook: Van Hoc Press


***

CÓ NHỮNG ĐÊM TRĂNG VỠ

hay là nhịp đập của vùng đất mang tên Diên Khánh



– Đoàn Nhã Văn

 

Khi bị bứng ra khỏi quê hương, người ta thường hướng về nơi chôn nhau cắt rốn. Là nhà văn, khi phải viết bên ngoài xứ sở, không khí trong tác phẩm của họ thường ẩn hiện một vùng đất, một thổ ngơi, hay in đậm nét một nhân vật của địa phương đã ám ảnh họ suốt một thời mới lớn. Vũ Đình Kh cũng không ra ngoài thông lệ đó.


Vũ Đình Kh đã viết về quê hương thu nhỏ của mình với một giọng văn nhẹ nhàng và đượm ngọt. Cái ngọt của những đợt trái đầu mùa nơi quê hương ông: Thành. Địa danh chỉ có một chữ duy nhất, nhưng nếu ai đã đi dọc đất nước đều nhớ, đó là ngã ba Thành. Hướng bắc chạy ra Ninh Hòa. Hướng Nam về vùng Cam Ranh, Phan Rang, và hướng đông về thành phố biển Nha Trang. Cũng tại nơi đây, trước kia đã xảy ra những trận đánh long trời lở đất, dai dẳng giằng co, giữa binh lính hai bên: Nguyễn Huệ và Nguyễn Ánh. Cửa Thành Đông, Tây, bây giờ chỉ còn lại những rêu phong, mà ngay cả người dân sinh ra và lớn lên ở đây cũng hiếm khi chú ý đến một vùng đất mang đầy những dấu tích lịch sử cùng bước chân của những người đi trước giữa một thời chinh chiến điêu linh. Không xa Thành là bao, nơi con sông Cái, nhà cách mạng Trần Quý Cáp đã ngã xuống, đem máu mình nuôi dưỡng những niềm tin trong một thời loạn lạc. Rộng thêm một chút, đó là cả vùng đất Diên Khánh mà Vũ Đình Kh đã có chút tham vọng mang cái tên Diên Khánh, mang quê hương mộc mạc, đượm thắm tình người vào những trang chữ của mình. Ở đó, không chỉ cho một cái tên sống lại, mà còn mở ra những rung cảm, để thấy rằng mỗi vùng đất của quê hương luôn ẩn chứa những sức sống tiềm tàng. Ông đã thành công, vì đã tạo được nhiều xúc cảm và để lại không ít những ray rứt nơi bạn đọc, qua nhiều truyện ngắn, trong đó có “Những Mùa Ớt Trong Đời” và “Gió Sang Mùa”. Cũng có thể nói rằng: chính không khí đầy tình người của vùng đất này đã nuôi dưỡng và làm nên những trang chữ mang tên Vũ Đình Kh.


Rời quê hương để đi về hướng mặt trời, lòng ai cũng đều xát muối. Riêng hoàn cảnh của Vũ Đình Kh có khác với nhiều người trong chúng ta, bởi thân phận trước khi ra đi của ông. Nhưng cũng chính ở cái đặc biệt này, chúng ta được cơ hội nhìn lại, được biết rõ thêm về cuộc sống, được bước sâu vào vùng suy nghĩ và tâm trạng của những người thanh niên vào đời sau 1975, nhất là ở giai đoạn chuyển mùa 1975-1979.  Tuổi trẻ vào đời, không có sự chọn lựa, họ phải mang màu áo lính, của chính quyền mới. Truyện ngắn Vũ Đình Kh dựng lại những mảng đời rất tiêu biểu của thanh niên trong giai đoạn này.  Sau hơn 20 năm nhìn lại, ông cho chúng ta thấy một bao dung, đầy tình người. Ở nhiều đoạn, trong nhiều truyện, ông tạo cho người đọc những cái sững sờ, như truyện ngắn “Niềm Đau” chẳng hạn.


Viết về cuộc sống trên xứ người, Vũ Đình Kh đi thật cặn kẽ vào một điều mà ông cho là quan trọng nhất trong đời người: Niềm tin. Khi mất niềm tin, con người mất tất cả. Vũ Đình Kh dựng một nhân vật Ba Lan, Ivan, vì mất niềm tin đã để cuộc đời mình rớt xuống bùn nhơ, chẳng thèm đi làm, để khỏi phải đóng thuế, khỏi phải nặng gánh cấp dưỡng vợ con, sau khi đã ly dị trong một hoàn cảnh thương tâm. Và từ đó, nhân vật này có một lối sống khá đặc biệt và có một lối “trả thù” lạ lùng. Viết về những mối tình ngang trái trong một cộng đồng mới trên xứ người, ông cho thấy đằng sau những nụ cười trìu mến là những thủ đoạn, lọc lừa. Những thủ đoạn ấy được thực hiện đối với bạn bè thân nhất, và ngay cả với người phối ngẫu tật nguyền. 


Ra đi là có một niềm hy vọng để quay về.  Mỗi người có một cách thế trở về khác nhau. Riêng Vũ Đình Kh, ông trở về và nhìn lại quê hương với những niềm đau rát buốt. Nhìn cái tụt hậu mà quặn tấc lòng. Nhìn cái dối trá chung quanh để thấy cả một xã hội quay cuồng trong cơn lốc. Ở đó, tình cảm giữa người với người, ngày càng co lại, để thay vào đó là những giành giật, những tha hóa, những tầm nhìn hạn hẹp, và nhất là những buông tuồng, sợ sống không đến ngày mai. Trước một xã hội đã tạo nên những con người như mất dần, có khi mất hẳn, nhân tính, Vũ Đình Kh đã không ngần ngại dựng lại điều đó trên trang sách của mình dù biết rằng nó là con dao hai lưỡi trong nghệ thuật. Ở đây, đôi lúc ông châm biếm, lắm khi ông nhoẻn cười, nhưng là những cái cười gượng, nát lòng, khi nhìn dâu bể tang thương.


Truyện của Vũ Đình Kh chuyên chở nhiều nét đặc thù của xã hội: một bên trong Việt Nam và một cộng đồng bên ngoài Việt Nam. Sống trên xứ người, sầu muộn bởi ngăn cách, đã đành. Bước đi trên quê hương, mà nghe những niềm đau thốn lên từ tâm can, dậy lên từ phế phủ mới là điều đáng nói. Đi giữa nơi chôn nhau cắt rún mà như đi vào một vùng đất chưa bao giờ đặt chân đến. Ông thấy mình bơ vơ giữa chốn chợ đông. Ông thấy mình lạc lõng giữa phố phường chật hẹp. Ông thấy mình lẻ loi giữa phố xá đầy người. Vì thế, khi đọc Vũ Đình Kh, ta bắt gặp những cái cô đơn: cô đơn trong suy nghĩ, cô đơn trong tiềm thức, cô đơn đến lặng người của một kẻ trở về mảnh đất xưa, nơi bắt đầu tiếng khóc vào đời, nơi nuôi dưỡng những tấm lòng quê, nơi ẩn chứa muôn vàn kỷ niệm, mà không có được một cảm thông, một chia sẻ.


Khi vẽ những chiếc mặt nạ gớm ghiếc trong cõi nhân sinh; khi ném những cái nhìn ghê tởm vào những thay trắng đổi đen; khi muốn xóc tung quá khứ của một đời người; ở tập truyện ngắn này, Vũ Đình Kh muốn  bước về tương lai, muốn nhìn về phía trước với cái nhìn đẹp hơn và người hơn. Giọng văn của ông trong những truyện ngắn này như chậm lại và có khi giãn ra như một vết chùng, để kéo dài nỗi buồn man mác, lắm cảnh thương tâm, đã tấp vào những cuộc đời vốn chứa đầy những vết cắt.


Cho dù mở ra và đóng lại ra sao đi nữa, chúng ta sẽ không ngạc nhiên thấy Vũ Đình Kh nuôi dưỡng và nâng niu những trang chữ bằng nhịp đập trái tim mình. Vì thế chữ nghĩa dễ tạo được rung cảm ở người đọc cùng một góc nhìn. Nhưng ngược lại, có khi nó làm người khác dị ứng, khi đứng ở một góc độ khác. Và, như tôi đã thấy, ông chấp nhận điều này, bước thoải mái về hướng mình muốn bước.


CÓ NHỮNG ĐÊM TRĂNG VỠ không phải là tập truyện đầu tay của Vũ Đình Kh. Tuy nhiên, tập truyện này đã chứng nghiệm cái “tình” mà Vũ Đình Kh đã dành cho một vùng đất mang tên Diên Khánh. Mà Diên Khánh là một vựa trái cây của Khánh Hòa. Phải chăng, vì yêu từng hòn sỏi quê hương, yêu từng ngọn cỏ, luống rau nơi mình khôn lớn, yêu từng con dế của những buổi thiếu thời, v.v., mà ông đã viết tắt hai chữ Khánh Hòa, làm bút hiệu cho mình?


Những tấm lòng nặng tình với quê hương như thế, dù sống bất kỳ nơi đâu trên trái đất này, đều rất đáng được trân trọng. 


(2000, hiệu đính 2020)

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Bài thơ Lời tình buồn được nhạc sĩ Vũ Thành An phổ nhạc năm 1967, khi nhạc sĩ và thi sĩ Chu Trầm Nguyên Minh cùng đang theo học lớp Sĩ quan tại quân trường Lam Sơn, Đồng Đế, đến nay đã trở thành một trong những ca khúc vượt thời gian, được thể hiện qua những giọng ca: Tuấn Ngọc, Khánh Ly, Bằng Kiều…
Trong một bối cảnh đất nước nhiễu nhương, hỗn loạn, nhà văn thường đóng một vai trò quan trọng bằng cách sử dụng ngôn từ của mình để phản ánh, phê bình, truyền cảm hứng và đôi khi thậm chí thách thức hiện trạng. Trong suốt chiều dài lịch sử, nhà văn phản ứng với những biến động khác nhau, cho dù đó là xã hội, chính trị hay văn hóa...
Tết và Xuân, Xuân và Tết, thời điểm kỳ lạ trong một năm. Vừa trông chờ vừa mong đừng đến. Vừa lưu luyến rét đông vừa háo hức xuân ấm. Vừa khép kín đoàn tụ gia đình vừa chan hoà xôn xao lễ hội. Vừa lặng lẽ hoài niệm chuyện riêng tư vừa hân hoan cùng nhau “nâng chén ta chúc nơi nơi”...
Nhà hiền triết người Ấn Độ Jiddu Krishnamurti (1895-1986) qua đời vào ngày 17 tháng 2 năm 1986 tại Ojai Valley, Quận Ventura, Nam California, Hoa Kỳ, nơi ông đã chọn làm quê hương thứ hai từ năm 1922 cho đến khi ông mất, dù ông không ở đó thường trực. Tính đến tháng 2 năm nay, 2024 đã tròn 38 năm kể từ ngày ông lìa bỏ trần gian. Krishnamurti là một trong những nhà hiền triết có sức ảnh hưởng rất lớn đối với nhân loại trong thế kỷ 20. Cuốn “The First and Last Freedom” của ông được Giáo sư Phạm Công Thiện dịch sang tiếng Việt từ trước năm 1975 ở Sài Gòn với tựa đề “Tự Do Đầu Tiên và Cuối Cùng” là một trong những cuốn sách tôi rất yêu thích đọc từ thời còn niên thiếu. Nhân tìm đọc lại một số bài giảng và bài viết của Krishnamurti, tôi tình cờ gặp được bài thơ “Song of the Beloved” (Bài Ca Về Người Yêu), nhưng không thấy ghi ông đã làm từ bao giờ. Có lẽ bài ca này ông làm vào những lúc về nghỉ ngơi tịnh dưỡng ở Ojai, vì bài đó nói lên lòng yêu thích thâm thiết của ông đối với thiên nhiên,
Ngô Thế Vinh là một tên tuổi đã thành danh ngay từ trước năm 1975 tại miền Nam Việt Nam. Ông đoạt Giải Văn Học Nghệ Thuật VNCH năm 1971 với tác phẩm Vòng Đai Xanh. Sau này ông có thêm hai giải thưởng: 1) Giải Văn Học Montréal 2002 Hội Quốc Tế Y Sĩ Việt Nam Tự Do với Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy Sóng và 2) Giải Văn Việt Đặc Biệt 2017 với Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy Sóng và Mekong Dòng Sông Nghẽn Mạch...
Người viết chơi với Phạm Thiên Thư từ những năm học trung học đệ nhất cấp khoảng 58-59. Thư đến nhà tôi ở ấp Cả Trắc, khu Ông Tạ và chúng tôi thường kéo nhau ra quán cà phê vợt ở đầu ngõ đi vào ấp. Trong những lần uống cà phê, Thư nói sôi nổi về việc lập học hội Hồ Quý Ly, để thực hiện việc nghiên cứu, viết văn, làm thơ. Mục đích là tiến tới làm một tập san văn nghệ...
Chúng tôi vẫn biết Hoàng Cầm là người cùng quê và là bạn với một ông anh họ từ thời kháng chiến chống Pháp, nhưng không ngờ nhà thơ lại theo xe ra đón chúng tôi ở phi trường Nội Bài. Hôm đó Hoàng Cầm mặc một cái màu đỏ xậm trông rất hào hoa dù Hà Nội năm đó vẫn còn rất nghèo...
Mở đầu cho sê-ri bài viết về phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm thập niên 50 tại Bắc Việt Nam, là một tư liệu hiếm quý về/của nhà thơ Phùng Quán. Việt Báo trân trọng giới thiệu.
Nước Mỹ thế kỷ XX cống hiến cho nhân loại sự phong phú và đa dạng của các trào lưu, chủ đề và tiếng nói trong văn học. Một số tác giả và tác phẩm kinh điển đã xuất hiện trong thời kỳ này, góp phần phát triển truyền thống văn học có từ những thế kỷ trước. Riêng trong lĩnh vực tiểu thuyết, văn học hiện đại, thịnh hành vào đầu thế kỷ XX ở Châu Âu với kỹ thuật “dòng ý thức” trong tiểu thuyết của James Joyce và Virginia Woolf, lan rộng sang Mỹ, tìm cách tách rời các hình thức truyền thống thế kỷ XIX để cách tân và hình thành một dòng văn học mới với phong cách độc đáo, táo bạo và mở ra những cánh cửa thú vị bất ngờ cho người đọc đi vào ngôi nhà nghệ thuật. Kỷ nguyên văn học hiện đại phương Tây bắt đầu từ hai thập kỷ đầu của thế kỷ XX và, không thể nghi ngờ, Mỹ là quốc gia có những đóng góp to tát. Các tiểu thuyết gia lớn trong thời kỳ này, ta có thể nhắc đến F. Scott Fitzgerald, Ernest Hemingway và William Faulkner.
Bước đi như vậy rõ ràng là không cần lưu dấu; nhưng chính là bước đi siêu tuyệt của bậc đại nhân, đại sĩ: không dấu tích mà lại tràn đầy công đức, lợi ích cho dân tộc, đạo pháp và nhân loại nhiều thế kỷ sau.