Hương Vị Phật Giáo Tây Tạng Cảm Nghiệm Qua Một Nhà Thơ Gốc La-tinh

24/11/202016:24:00(Xem: 1766)


Logo

Description automatically generated


N
ếu quy tất cả sự việc trên đời theo tư tưởng Phật giáo là đều do một căn duyên nào đó mà ra, thì tác phẩm mà chúng tôi được hân hạnh giới thiệu sau đây đúng là khởi từ một căn duyên tốt đẹp. Thi phẩm về Phật giáo Tây Tạng này có tựa đề là “My First Five Tastes of Tibetan Buddhism” (tạm dịch: “Ngũ Vị Đầu Tiên Của Tôi Về Phật Giáo Tây Tạng”) của tác giả Manuel N. Gómez, do nhà xuất bản AuthorHouse (Bloomington, Indiana) phát hành vào tháng Chín năm 2020.

Mọi việc khởi đầu từ một cuộc hành trình kéo dài hai tuần lễ của tác giả và phu nhân đến Ấn Độ vào năm 2010. Nguyên là Viện Phó Học Vụ (Vice Chancellor Emeritus – Student Affairs) của Đại Học UC Irvine, Manuel N. Gómez được một nhóm sinh viên UCI, đứng đầu là cô Bibi Do (nhân viên Khoa Lịch Sử của trường) có nhã ý mời tháp tùng chuyến thăm viếng đặc biệt này đến Dharamsala, một quận hạt nằm ở gần cực bắc Ấn Độ, để tham dự các bài giảng thường niên của đức Đạt-lai Lạt-ma. Trong những ngày ở đó, qua những bài giảng về Phật giáo Tây Tạng và nhiều cuộc thăm viếng, đàm đạo với một số tu sĩ trong những thiền viện địa phương, tác giả đã lĩnh hội một số tư tưởng nền móng của Phật giáo, đặc biệt là khái niệm “tinh không” (śūnyatā) và “vô ngã” (anātman)

Trong lời nói đầu của cuốn sách, tác giả kể lại: “Vào một buổi sáng (...), tôi thức dậy trong khách sạn rồi mới biết ra là phòng không có lấy một giọt nước ở bồn rửa mặt hay trong buồng tắm. Tôi mở vòi nước ra và thấy không có gì hơn ngoài sự trống rỗng.” Cùng ngày hôm đó, ông kể lại cho đức Đạt-lai Lạt-ma chuyện này trong buổi thuyết giảng của ngài. Đức Đạt-lai Lạt-ma thình lình ấn tay lên trán ông và bảo: “Điều ông nói không phải là sự trống rỗng đâu, mà chính là hư vô đó!”. Sau đó, tác giả tâm sự: “Tôi cảm thấy mình có thể phần nào hiểu được “hư vô” là gì, nhưng tôi vẫn chưa thực sự thấu rõ về “sự trống rỗng”.
 

Vốn là một nhà thơ, Manuel N. Gómez đã chọn cách dàn trải lòng mình qua những vần thơ bằng tiếng Anh, cô đọng và thâm trầm, để nói lên ảnh hưởng của những giá trị tâm linh mà ông vừa được hấp thụ qua chuyến đi và cuộc gặp gỡ với đức Đạt-lai Lạt-ma. Theo ông, “Thi ca có một sức mạnh sáng tạo có thể nâng cao những niềm mong đợi của chúng ta lên, đồng thời làm tỉnh thức tâm trí của chúng ta để nhận nhìn ra thế giới một cách mới mẻ, dẫu chỉ trong một khoảnh khắc khai ngộ ngắn ngủi nào đó.” Trong tâm tình này, ông còn muốn công trình của mình tìm đến nhiều độc giả hơn là chỉ với một ngôn ngữ. Tập thơ, vì vậy, còn có sự hợp tác của sáu dịch giả qua các thứ tiếng Tây Ban Nha, Nhật ngữ, Việt ngữ, Hàn ngữ, Hoa ngữ và tiếng Tây Tạng.

Như nhan đề của tập thơ, có tất cả năm bài thơ về “ngũ vị” Phật giáo, bao gồm các tiêu đề như sau: Vị thứ nhất: “Nhân Quả Nghiệp”, vị thứ nhì: “Đau Khổ”, vị thứ ba: “U Mê”, vị thứ tư: “Lòng Trắc Ẩn” và vị thứ năm: “Khai Ngộ”. Trong nguyên bản tiếng Anh, các bài thơ đều mang chung một hình thức giản dị, ngắn gọn, dựa theo tinh thần khiêm cung của Phật giáo. Các câu thơ chỉ từ ba âm tiết đến sáu âm tiết là nhiều nhất, được ngắt ra thành từng khổ gồm hai, ba hay bốn câu. Khi đọc lên thành tiếng, chúng ta có thể cảm được từng lời thơ toát lên sự cảm nghiệm sâu xa của tác giả đối với những tư tưởng đầy triết lý và tính chân thực về cốt lõi của cuộc sống.

Về hình thức, tập thơ có lối trình bày trang nhã với khổ vuông, bìa được minh hoạ với hình bánh xe luân hồi điển hình của tư tưởng Phật giáo. Ngoài các bài thơ bằng bảy thứ tiếng, tập sách còn bao gồm nhiều bức hình đẹp về một số tượng Phật khác nhau, cũng như những bức ảnh màu sắc sinh động ghi lại nhiều buổi gặp gỡ giữa tác giả với đức Đạt-lai Lạt-ma và nhiều nhân vật địa phương trong suốt cuộc hành trình tâm linh hiếm có này.

TRan C Tri 02
Tác giả Manuel N. Gómez có bằng Ph.D. về ngành Higher Education: Policy and Education của đại học USC. Ông đã xuất bản một số sách và bài nghiên cứu trong lãnh vực giáo dục, đồng thời là sáng lập viên của chương trình học bổng XIV Dalai Lama Scholars. Năm 2011, ông được trao tặng huân chương danh dự của Đại học UC Irvine. Một tập thơ khác của ông đã xuất bản có nhan đề là “Dancing With The Sun: The Artwork of Manuel Hernandez Trujillo”.


Quý độc giả muốn có thi phẩm độc đáo về Phật giáo Tây Tạng bằng bảy thứ tiếng này của tác giả, xin vui lòng theo đường dẫn dưới đây để mua sách qua Amazon.com: 

MYFIRSTFIVETASTES-MANUELGOMEZ


Trần C. Trí

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Người Việt hải ngoại chúng ta ngay lúc mới đặt chân trên miền đất mới đã cảm thấy nhu cầu tìm hiểu về căn cước của mình. Lần đầu mình đối diện với những dân tộc khác, những nền văn hoá khác, không còn thuộc nhóm đa số của dòng chính trên đất nước mình mà trở nên một thiểu số trong một đất nước mênh mông và đa dạng như Hoa Kỳ, hay thậm chí trong một nước với dân số không lớn như Pháp, Úc, Anh , Đức.
“Hiện Tượng Luận Phật Giáo” là tác phẩm đồ sộ cả về mặt hình thức lẫn nội dung được chia làm 2 cuốn, tổng cộng dày khoảng 1,500 trang. Đây là bộ sách nghiên cứu công phu về Du-già-hành Tông hay Duy Thức Tông, về Thành Duy Thức Luận, về Trung Quán, và nhiều đề tài Phật học và sử học Phật Giáo.
Nga hăm dọa sẽ tấn công Ukraine và cả thế giới đang chờ đợi với sự lo ngại. Tôi dửng dưng vì nghĩ chắc Nga cũng chỉ hăm he như Trung Quốc đòi đánh chiếm Đài Loan. Tên Đài Loan nghe quen hơn, còn Ukraine xa lạ quá. Cái tên chỉ làm tôi nhớ đến những bài học địa lý nói về vùng Tây Bá Lợi Á vào những năm học trung học đệ nhất cấp...
Anh Cao Huy Thuần gởi tôi tập Im Lặng, như lời chia tay… dặn để đọc mấy ngày Tết. Tôi nghĩ: chắc là Im Lặng thở dài… đây rồi! “Tôi đang lắng nghe tôi đang lắng nghe im lặng đời mình” (TCS)? Nhưng không. CHT không thở dài! Anh nói về “thiêng liêng” về “chia tay mà không biệt ly của cánh hoa rơi”…
“Chỉ là nỗi đam mê” (Passion Simple, 1991) là một trong số gần 30 tác phẩm của nhà văn nữ người Pháp Annie Ernaux, người vừa được Hàn Lâm Viện Thụy Điển trao tặng giải thưởng Nobel về Văn Chương 2022...
Trong tuần qua, nhà thơ Trịnh Y Thư vừa phát hành một sách mới nhan đề “Căn Phòng Riêng,” dịch từ nguyên bản tiếng Anh, Virginia Woolf, A Room of One’s Own, nxb Harcourt, 1991. Theo lời dịch giả Trịnh Y Thư, ấn bản 2023 của bản dịch để phổ biến ở hải ngoại là bản được sửa chữa và tăng bổ từ hai ấn bản đã in trong các năm 2009 và 2016 tại Việt Nam. Tập tiểu luận văn học này của Virginia Woolf (1882-1941) như dường trải qua gần 100 tuổi, vì sách ấn hành lần đầu là năm 1929, nhưng các vấn đề nêu lên đều rất mới, như vị trí người cầm bút nữ chỉ là bóng mờ trong ngôi làng của các nhà văn, hay yêu cầu của Woolf rằng người sáng tác phải lìa hẳn “cái tôi” khi cầm bút, hay người sáng tác văn học cần có “khối óc lưỡng tính [nam/nữ]” (nghĩa là lìa cá tính, hay lìa ngã thể?) -- nghĩa là tất cả những gì rất mực táo bạo đối với người sáng tác văn học Việt Nam.
Thu hút sự chú ý của công chúng về tính quyết định của thời điểm lịch sử hiện tại, Ahmed giới thiệu một lý thuyết phê bình về giải phóng xã hội dựa trên các phong trào cách mạng hậu Xô Viết đã nổi lên bên lề trật tự xã hội toàn cầu. Sự gia tăng của các phong trào loại trừ xã hội và chính trị ở nhiều nơi trên thế giới, khủng hoảng sinh thái đang diễn ra, phân biệt chủng tộc chống người Da đen và sự cụ thể hóa của sự tuyệt vọng do đại dịch COVID-19 mang lại đòi hỏi một cách tiếp cận mới đối với cuộc cách mạng, mà Ahmed lập luận, phải được bắt nguồn từ kinh nghiệm của những người bị áp bức nhất trong xã hội.
Nói chung "bật khóc" vì nhiều lý do …. Trước khi đề cập chi tiết hơn về bài thơ tôi mạn phép giới thiệu sơ về Lão Thi Sĩ Trần Công. Theo internet thì tác giả người Gò Công, từng là Trung Tá Cảnh sát Quốc Gia Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và hiện định cư tại Hoa Kỳ.
Suốt thời gian gần trăm năm qua, từ ngày xuất bản năm 1929, cuốn Căn phòng riêng của Virginia Woolf vẫn được xem là tập tiểu luận văn học có tầm ảnh hưởng rất lớn bởi tính cách đặt vấn đề của nó. Nó là cuốn sách được nhật báo Le Monde của Pháp quốc xếp hạng thứ 69 trong số 100 cuốn sách hay, giá trị, đáng đọc nhất thế kỷ XX. Kỳ thực, nó là cuốn sách đặt nền móng cho Nữ quyền luận trong hai lĩnh vực tư tưởng và phê bình văn học. Cuốn sách được hình thành dựa trên loạt bài thuyết trình Woolf đọc trước cử tọa toàn phái nữ tại hai trường cao đẳng dành riêng cho phụ nữ, Newham và Girton, thuộc trường đại học danh tiếng Cambridge của Anh quốc, vào năm 1928, xoay quanh chủ đề “Phụ nữ và sáng tác văn học.”
Cuốn tiểu thuyết này mổ xẻ tình bạn mãnh liệt giữa hai cô gái mười ba tuổi, Agnès và Fabienne, ở vùng nông thôn nước Pháp thời hậu chiến. Họ tự tin mình “đủ tuổi để làm mọi thứ”, họ bão hòa sự nhàm chán bằng những kế hoạch càng ngày càng phức tạp. Fabienne bắt đầu đọc những câu chuyện kinh dị cho Agnès, và sau đó thiết kế ấn phẩm của họ dưới tên của Agnès. Agnès được tôn vinh là một đứa trẻ thần đồng và cuộc đời cô bắt đầu một quỹ đạo mới. Câu chuyện mở ra khi Agnès nhìn lại, bây giờ cô đã 27 tuổi và sống ở Pennsylvania, nghe tin Fabienne chết. Những hồi ức của cô ấy về tình bạn và sự phấn đấu của cô với sự nổi tiếng, được kể lại tự nhiên theo giọng điệu thanh tao, được nhấn mạnh bằng những mô tả sắc bén về niềm tin của tuổi vị thành niên.