Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Nha Trang-Những Khi Nào Nhớ Lại

29/09/202009:20:00(Xem: 1633)

                                                                    

Mỗi lần nhớ lại Nha Trang, tôi nhớ bài thơ của Hồ Ngạc Ngữ: 

KÝ ỨC NHA TRANG 

"Những khi nào nhớ lại/ Nha Trang vẫn đẹp dịu dàng như một bài thơ tình/ Những con đường đẩm hương sứ trắng/ Sóng bạc đầu của Thức như tiếng đàn guitar của anh/ Biển của Hiền êm đềm trăng xanh/ Tiếng piano nhả những cơn sóng nhỏ Sonata 14.../ Trong cái nhìn mơ màng của Sa/ Đôi kính của Jean Paul Sartre cũng bị mờ đi trong khói sóng.../ Những khi nào nhớ lại/ Tôi sẽ nhớ nhiều đến những người bạn ở Nha Trang.../ Và tôi sẽ nhớ em như nhớ biển/ Dịu dàng nồng nàn như hương tóc rối.."(*)

Nha Trang có nhà thơ Hồ Ngạc Ngữ, có nhạc sỹ Minh Kỳ, có biển xanh, bãi cát trắng, có nắng ấm đủ hâm nóng ký ức mỗi khi ta xa và nhớ về Nha Trang. Nha Trang có những hải đảo, có đảo Hòn Yến án ngữ  từ ngoài khơi vịnh Nha Trang. Mỗi khi chiều vàng đến, những du khách chiêm ngưỡng những đỉnh núi trong vịnh Nha Trang đươc thấp sáng bằng nắng quái chiều hôm.  Có cậu hoc trò của trường Võ Tánh Nha Trang, Nguyễn Đức Sơn, đã từng qua những đêm trăng ở đây. Với một tâm hồn thi nhân lãng man, khi ra về anh còn ghi lại niềm tiếc thương cho kiếp sống vô thường của con người truóc sự vĩnh hằng của thiên nhiên bằng hai câu thơ lục bát:

                                          "Mai sau này chỗ tôi nằm-

                                       Sao rơi lạnh lẽo, âm thầm biển ru..."

Nha Trang ngày nay tự hào là thành phố của du lịch. Nhưng chính người Nha Trang đã phải ngỡ ngàng khi thấy các nhà đầu tư du lịch không biết bảo tồn cái vốn quí  của phong cảnh hữu tình của thành phố. Cái sa mạc đầy tham lam trong tâm hồn của cá nhà đầu tư đã không thương tiếc tàn phá thiên nhiên Nha Trang khi họ nhân danh phát triển.


Con đường Duy Tân doc theo bờ biển Nha Trang, đẹp như bài thơ không còn nữa. Có ai biết thương tiếc khi tên con đường này đổi thành đường Trần Phú, tràn ngâp những Restaurants, những Hotels thời thượng cao ngất 30-40 tầng lầu, đan xen với những trung tâm- VIP-LUXURIOUS FOOT MASSAGE- những chỉ dẫn cho thấy kiếp sống lầm than của thời chiến tranh vẫn lén lút tồn tại đâu đó. Khuông mặt trữ tình của đường phố  Nha Trang đã không còn nữa.  Chỉ còn những quán ăn, những quán Cà phê vỉa hè, vụ lợi,  mưu sinh...

Dưới lớp trầm tích của lich sử, ngày nay người Nha Trang vẫn còn niềm kiêu hãnh về cổ thành Diên Khánh, một kiến trúc quân sự kiên cường tuy cổ kính đã đứng vững trước thời gian qua  gần 225 năm lịch sử. Thành được chúa Nguyễn xây dựng năm Quí Sửu-1793- nhằm để phòng thủ án ngữ và bảo vệ  vùng đất Nam Trung Bộ. Thành Diên Khánh cách thị xã Nha Trang chừng 10 cây số, bây giờ còn lại cửa Đông và cửa Tây. Trên cửa thành đều có lầu. Sau 225 năm một phần thành vẫn còn nguyên vẹn măc dầu trong quá khứ, tướng của Tây Sơn, Trần Quang Diệu, nhiều lúc đánh phá thành này nhưng đều thất bại. Ngày nay người dân Diên Khánh vẫn còn những đêm nghe tiếng vó ngựa của quân chúa Nguyễn và tiếng chân của đàn voi của tướng Trần Quang Diệu, đi  rầm rập.   

Cách cửa Tây thành Diên Khánh chừng vài trăm mét có Nhà Thờ Hà Dừa rất đẹp, một trong những nhà thờ cổ kính còn sót lại sau chiến tranh. Nội thất của Nhà Thờ Hà Dừa theo lối kiến trúc Việt. Ghế ngồi của các Thầy Giảng là ghế bành chạm khắc hoa văn theo lối xưa của Việt Nam. Những trụ cột cao vút của Nhà Thờ bằng gỗ lim đánh bóng màu huyết dụ, tuyệt đẹp, chứng tích của một thời giao lưu văn hóa Việt Pháp. Tôi đã từng đứng bên trong ngôi giáo đường của Nhà Thờ Hà Dừa, nghe thời gian theo từng hồi chuông đổ...

Tôi trở lại Nha Trang vào năm 2012, sau hơn 40 năm tha hương, tôi không thể tìm lại con đường đất đã từng dẫn tôi đến ngọn đồi có chùa Hải Đức. Còn đâu bệ đá sau chùa mà tôi từng ngồi vào giờ cầu-kinh-chiều. Từ bệ đá ấy, tôi nhìn con sông chảy sau Chùa, với những bè rau muống trải dài đến chân cầu Hà Ra và Xóm Bóng, quê hương của " Kẻ Thừa Tự Ông Nam Hải-Le Fils De la Baleine- tác phẩm thời danh của nhà văn Nha Trang- Cung Giũ Nguyên- năm 1956, viết bằng tiếng Pháp, đươc dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới, được nhân loại ngưỡng mộ, đề cao, vào những năm 50-60 của thế kỷ trước. 

Không biết trong đám du khách đến Nha Trang hôm nay, có ai biết được và chứng kiến những sự kiện lịch sử vừa kể ở trên, trước khi họ rời khỏi Nha Trang?../. 
 

Đào Như

BS Đào Trong Thể

Chicago

Sept.29-2020

Ghi Chú

(*) Ký Ức Nha Trang-của Hồ Ngạc Ngữ,  Phổ biến trên báo VĂN số 25 ngày 12-3-1993 


Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Hai nhà thơ bị bắn chết, và chín nhà thơ bị bắt giam, trong đợt bố ráp vào tháng 3/2021 khi quân đội Miến Điện đàn áp những người biểu tình đòi tái lập chính phủ dân sự. Bản tin ngày 10/3/2021 của Reuters cũng ghi rằng Hội Văn Bút Quốc Tế PEN International cho biết một nhà thơ từng sang nghiên cứu tại đại học University of Iowa đã bị bắt, trong cùng ngày nhiều nhà văn bị kêu án một tháng tù. Hai nhà thơ MYINT MYINT ZIN và K ZA WIN bị bắn chết. Họ chỉ có chữ khi họ đứng dậy lên án cuộc đảo chánh của quân đội Miến Điện nhằm lật đổ chính phủ dân cử của bà Aung San Suu Kyi ngày 1/2/2021. Bản thông báo của PEN đưa ra, ký tên nhà văn Salil Tripathi, chủ tịch Ủy Ban Nhà Văn Trong Tù (Writers in Prison Committee), viết: “Nhà thơ có chữ; chính phủ có súng. Các nhà thơ đã làm những gì họ có thể làm với công cụ họ có – viết, bày tỏ, nói. Chính phủ đã làm một thứ duy nhất họ biết với công cụ họ có. Nổ súng.” Hàng chục nhà văn và nhà thơ bị lực lượng an ninh nhắm bố ráp
Hãy nuôi lớn ước mơ. Mọi giấc mơ tử tế đều sẽ thành sự thật. Ngay từ những bài viết đầu tiên, Nguyễn Trung Tây cho thấy niềm tin này. Không có chuyện giảng đạo. Cũng chẳng có chữ nghĩa hoa mỹ. Hình như nhà văn tu sĩ bình bát của chúng ta không viết bằng văn chương lý lẽ mà viết bằng tấm lòng và niềm tin tử tế. Từ hơn mười năm nay, mỗi lần được đọc ông tôi thấy lòng mình thư thái hơn. Kính mời cùng đọc Nguyễn Trung Tây. -- Nhã Ca
Bài này sẽ viết về một số huyền thoại liên hệ tới ngài Bồ Đề Đạt Ma, và về Tâm Kinh, bản văn được ngài chọn làm một trong 6 cửa vào đạo. Bài viết chỉ là những suy nghĩ riêng, vì tác giả không đại diện cho bất kỳ thẩm quyền nào. Những gì nơi đây nếu phù hợp với Chánh pháp, chỉ là chút cơ may trộm được ý của Đức Phật. Những gì sai sót có thể có, chỉ vì tác giả tu học chưa tới nơi khả dụng.
McMurtry sinh ngày 3 tháng 6 năm 1936 tại Thành Phố Archer, Texas, cách Wichita Falls của Texas 25 dặm, là con trai của Hazel Ruth và William Jefferson McMurtry, là một nông dân. Ông đã lớn lên tại một trang trại bên ngoài Thành Phố Archer. Thành phố này là một kiểu mẫu cho thị trấn Thalia mà được nói nhiều trong tiểu thuyết của ông. Ông tốt nghiệp Cử Nhân vào năm 1958 tại Đại Học North Texas và Cao Học vào năm 1960 tại Đại Học Rice University, theo Jeff Falk trong tác phẩm xuất bản tháng 9 năm 2015 “Rice Alum, Author Larry McMurtry Receives National Humanities Medal.” Trong hồi ký của mình, McMurtry cho biết trong khoảng thời gian năm tới sáu năm đầu tại trang trại của ông nội của ông, thì ông chưa có cuốn sách nào, nhưng đại gia đình của ông đã ngồi trước hiên nhà hàng đêm và kể nhiều chuyện. Vào năm 1942, khi người anh em họ của ông là Robert Hilburn đang trên đường nhập ngũ cho Thế Chiến Thứ II, ông này đã ghé qua trang trại và để lại một thùng chứa 19 cuốn sách.
Trong một lần đã tới thăm, điều vẫn còn lưu lại trong trí nhớ là câu trích dẫn của John Steinbeck được phóng lớn và trưng bày nơi sảnh đường của National Steinbeck Center Salinas, California. “Nhà văn phải tin tưởng rằng điều hắn đang làm là quan trọng nhất trên thế giới. Và hắn phải giữ ảo tưởng ấy cho dù khi biết được điều đó là không thực.” Dĩ nhiên đây không phải là câu văn hay nhất của Steinbeck nhưng có lẽ phản ánh đúng nhất về cuộc đời 66 năm đầy thăng trầm và cả nghịch lý của Steinbeck mà ông đã bướng bỉnh lựa chọn để đi tới vinh quang và cả đôi khi chống lại chính mình.
Giáo sư Peter Zinoman, trưởng khoa Sử của Đại học Berkeley: “Điều nổi bật về Nguyễn Huy Thiệp là hầu như mọi người đều đồng ý rằng ông đã tạo nguồn cảm hứng cho giới độc giả tinh tường nhận ra ông là một nhà văn xuất sắc mang tính khai phá của thời hậu thuộc điạ. Việt Nam vừa mất đi một bậc thầy văn học thực sự.”
Qua chữ và qua tranh, Thế Kỷ Của Những Vật Tế vẽ ra một thế giới đang sưng phồng từ những phân tranh và tan rã bởi những hoài nghi, nơi con người tìm mọi cách để trốn chạy sự nhìn nhận, để rồi lúc đứng bên bờ vực hệ lụy, khi lối thoát duy nhất là nắm lấy tay nhau, họ sẽ làm gì?
Nếu những điển tích, lời dạy của cổ nhân, thánh nhân, hiền giả Đông phương không thể mở được lòng bạn, hãy đọc thử một bài thơ của thi sĩ Tây phương hiện đại: “Bước đi với niềm bình an, bình an trở thành bạn. Nói với vẻ đẹp, vẻ đẹp bao quanh bạn. Hành động với lòng tốt, lòng tốt tìm đến bạn. Nói với tình yêu, tình yêu chuyển hóa bạn. Hành động với lòng thương, lòng thương tha thứ bạn. Sống với sự thật, sự thật sống trong bạn. Nhưng nếu chúng ta bước đi với lòng hận thù, hận thù trở thành chúng ta. Nếu chúng ta nói với sự tức giận, tức giận bao vây chúng ta. Nếu chúng ta hành động với đố kỵ, đố kỵ gặm nhấm chúng ta. Vì vậy, hãy cho đi với sự lịch thiệp, lịch thiệp tìm đến chúng ta. Chúng ta tìm kiếm sự kết nối, kết nối có thể chữa lành chúng ta. Và khi chúng ta sống với tiếng cười, tiếng cười có thể nâng chúng ta lên…” (1)
Với đại-bi-tâm không rời bỏ những chúng sanh khẩn cầu hướng vọng, Chư Bồ Tát sẽ đủ duyên thị hiện nơi vườn hoa xuân của những em bé mà người thi-sỹ-Phật-tử vừa về thăm, để ban vui thay tiếng nấc nghẹn ngào: “Vẫn chừng ấy, vẫn chừng ấy thôi! …”