Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Cái Làn

08/06/202010:33:00(Xem: 1658)

blank


Những thuật ngữ “Đảng ta,” “Nhà nước ta,” “quân và dân ta”… chỉ là cách nói “với dụng ý đánh đồng các thành phần trong hệ thống chính trị của Đảng Cộng sản với toàn thể quốc dân và xã hội. Đây chỉ là “một phép nguỵ biện về lô-gích và một sự trâng tráo về hành xử.

La Thành  

Khi được hỏi về “đàn ông,” nhà văn Phạm Thị Hoài (cố nén một tiếng thở dài) đáp khẽ:

“Đàn ông Việt Nam thường thừa nhận đàn bà Việt Nam lắm đức hạnh, ít nhất là cái đức chịu khó chịu thương. Song họ quên rằng, phần lớn những cái đức đàn bà ấy, nhất là đức chịu khó và cả chịu thương nữa, chỉ là cái khôn của cảnh khó. Các nhân vật nữ cũa tôi bày tỏ rõ ràng khao khát được ít đức hạnh đi một chút, được chia đều đức hạnh cho đàn ông gánh bớt. Lắm đấng ông chồng vui vẻ xách làn đi chợ hộ vợ, thế là văn minh rồi, nhưng cáng cho vợ cái đức hay lam hay làm thì ít ông chịu.”

Ôi, tưởng gì chớ tật xấu của đàn ông (nói chung) và đàn ông Việt Nam (nói riêng) thì e đám đàn bà phải càm ràm cho tới… chết – hay ngược lại. Không mắc mớ gì mà tôi lại xía vô mấy chuyện lằng nhằng (và bà rằn) cỡ đó. Nhưng riêng hai chữ “cái làn” trong câu nói (“Lắm đấng ông chồng vui vẻ xách làn đi chợ…”) của Phạm Thị Hoài thì khiến tôi bần thần, cả buổi!

Năm 1954, cái làn (cùng nhiều cái khác: cái bàn là, cái bát, cái cốc, cái ô, cái môi, cái thìa…) đã theo chân mẹ tôi di cư từ Bắc vào Nam. Cuộc chung sống giữa cái bàn là với cái bàn ủi, cái bát với cái chén, cái cốc với cái ly, cái ô với cái dù, cái môi với cái vá, cái thìa với cái muỗm… tuy không toàn hảo nhưng (tương đối) thuận thảo và tốt đẹp.

1954 - 1975: thời gian, dù ngắn, đủ xoá nhoà mọi ngăn cách giữa những “cái” vừa kể. Rồi ra, ai cũng biết: cái mền là cái chăn, cái mùng còn gọi là cái màn, cái phong bì với với cái bao thư là một, cái bật lửa đã trở thành bựt lửa, cái hôn và cái hun cùng một nghĩa – như nhau.

Cái làn, tiếc thay, không có được sự hội nhập dễ dàng (và lẹ làng) tương tự. Bên cạnh cái giỏ ny lông mầu sắc, rắn chắc và tươi tắn, cái làn đan bằng mây hay bằng cói trông tội lắm: già nua, quê mùa, ọp ẹp, bẹp xẹp, xấu xí và (thường) hơi bẩn thỉu. Nó không thể sánh vai, chung bước với cuộc đời. Cái làn, do thế, rất ít khi đi ra khỏi cửa. Nó chỉ ở rịt trong nhà với mẹ tôi thôi.

Tôi thì khác. Tôi có số xa nhà.

Thiên hạ rời nhà là tắp ngay vào ngay khách sạn, hay phòng ngủ.

Tôi thì không.

Tôi hay la cà ở đầu đường xó chợ, và ngủ bờ ngủ bụi, nên thỉnh thoảng vẫn bị túm vào những nơi tập trung – có tên gọi bắt đầu bằng chữ “trại”: trại tù, trại bệnh, trại phục hồi nhân phẩm, trại cải tạo…

Đời sống ở tất cả những cái trại (thổ tả) này đều có một điểm chung bất biến là… thiếu thốn! Vì vậy, tôi đi đến đâu là mẹ già – cùng với cái làn – lại phải lẽo đẽo theo sau đến đó, để thăm nuôi. Cho đến khi thằng con lưu lạc đến những trại tị nạn xa lắc xa lơ, ngoài biên giới quốc gia, bà cụ với cái làn mới thôi xuất hiện.

Từ những góc bể chân trời xa lạ, mỗi khi ngoảnh nhìn về quê cũ, bao giờ tôi cũng chỉ thấy trời chiều ùn lên những khối mây trắng đục. Hình ảnh quen thuộc của mẹ già – còng lưng với cái làn thức ăn, nặng trĩu trên tay – cứ nhạt nhoà dần rồi… mất hẳn, không biết tự bao giờ.

Mẹ tôi qua đời đã lâu. Người đàn bà cuối cùng ở miền Nam – vào hậu bán Thế Kỷ XX – vẫn còn (thỉnh thoảng) xách làn đã mất. Mọi thứ liên quan đến bà, tuởng chừng, cũng đều đã trở thành hư ảo. Vậy mà chiều qua (chợt) nghe có người nhắc đến… cái làn. Sao không dưng mà bàng hoàng nhớ mẹ, nhớ nhà, và nhớ chốn cũ quê xưa đến rưng rưng nước mắt!

Đợt di cư thứ hai, từ Bắc vào Nam – khởi sự vào năm 1975 – ồn ào và lào xào hơn trước. Những thứ được mang theo, đến vùng đất mới, cũng linh tinh và lỉnh kỉnh hơn xưa: nón cối, dép râu, súng đạn, bác Hồ, tem phiếu, sổ gạo, cửa hàng ăn uống quốc doanh, bản khai lý lịch, mẫu đơn xin tình nguyện đi vùng kinh tế mới, trại cải tạo, ông công an phường, bà tổ trưởng dân phố, anh công an khu vực, chị hội trưởng hội phụ nữ, nghĩa vụ lao động, chiến dịch kiểm kê tài sản, chính sách cải tạo công thương nghiệp, Chủ Nghĩa Mác Xít Lê Nin Nít Bách Chiến Bách Thắng Vô Địch Muôn Năm…

Tất cả đều rất mới lạ, và (xem chừng) đe dọa. Chỉ riêng cái Tinh Thần Làm Chủ Tập Thể, được nhắc đến thường xuyên qua loa – đài là (nghe) có vẻ hiền hoà:

Đảng ta
Nhà nước ta
Xã hội ta
Nhân dân ta
Quốc hội ta
Bộ đội ta
Sứ quán ta


Người phát ngôn của Bộ Ngoại Giao ta…

So với cái tôi nhỏ bé, bình thường (cố hữu) của những người thuộc phe bại trận, cái ta – thoạt nghe – có vẻ vị tha, bao dung, và cao cả. Nó khiến người ta nghĩ ngay đến cái chung, đến sự liên đới, tính kết đoàn. Và “kết đoàn chúng ta là sức mạnh.”

Ý nghĩ tích cực này – tiếc thay – không ai giữ được luôn, và cũng chả ai giữ được lâu. Cuối cùng, nhà văn Đào Hiếu (qua BBC) đã lên tiếng như sau:

“Nếu cái đất nước giàu tài nguyên này, cái quê hương ‘rừng vàng biển bạc’ này là của nhân dân, sao nhân dân nghèo khổ đến vậy?”

“Sao những chàng trai nông thôn chân lấm tay bùn vẫn ở nhà tranh vách đất?”

“Sao những cô gái quê phải lên thành phố bán thân?”


“Sao bác phu xích lô vẫn còng lưng đạp mỗi ngày, sao lớp trẻ con nhà lao động phải nhễ nhại mồ hôi trong các khu chế xuất, các mỏ than, các nhà máy chế biến hải sản, lâm sản, nông sản…chỉ để kiếm chưa đến một trăm đô la mỗi tháng?”

“Sao nhân dân lao động vẫn phải chui rúc trong những căn nhà tồi tàn chật hẹp?”

“Nếu rừng là vàng, biển là bạc thì vàng ở đâu, bạc đi đâu, mà mỗi lần làm đường, xây cầu lại phải vay vốn ODA, vay vốn Ngân hàng Thế giới, Quỹ tiền tệ Thế giới… để xảy ra những vụ tham nhũng nhục nhã như PMU18, như vụ cầu Văn Thánh, như vụ PCI Nhật Bản… và hàng ngàn vụ khác?”

“Nếu đất nước này là của nhân dân thì sao dầu mỏ khai thác nhiều như vậy mà dân không giàu? mà Đảng lại giàu?”

“Nếu đất nước là của nhân dân sao lại chỉ có một nhúm các tập đoan tài phiệt phất lên nhờ kinh doanh rừng, biển, đất đai và lúa gạo… trong khi nhân dân thì bị cướp đất, rừng thì bị phá, thóc lúa thì bị thương lái ép giá, đẩy nông dân vào kiếp sống bần cùng?”

Còn nhiều cái “sao” khác nữa mà Đào Hiếu không đủ thì giờ để giải bầy, một cách tường tận, bằng giấy bút (qua một bài báo ngắn) nhưng vẫn thường được dân Việt nói từ lâu – trong câu chuyện hàng ngày:


- Sao Đảng (ta) sinh hoạt cứ y như một chi bộ của Đảng Cộng sản Tầu vậy cà?

- Sao Quốc hội (ta) chỉ làm có mỗi một một việc là chuẩn phê mọi quyết định của Đảng (ta) chứ không bao giờ phản ảnh bất cứ nguyện vọng nào của nhân dân (ta) hết trơn hết trọi?

- Sao Bộ đội (ta) chả có phản ứng gì ráo trước tình trạng lãnh thổ bị xâm phạm trắng trợn như thế?

- Sao Sứ quán (ta) không có hoạt động gì khác ngoài chuyện chuyên buôn lậu, làm tiền kiều bào và làm điềm chỉ viên cho Nhà nước?

- Sao những Người Phát ngôn của Bộ Ngoại giao (ta) hễ cứ mở miệng ra là nói dối xoen xoét hay là chối ngay, chối bay, chối biến, chối phăng, chối phắt, chối nằng nặc, chối bai bải, chối đây đẩy, chối quầy quậy, chối tuốt luốt, và cực lực bác bỏ hết chuyện này đến chuyện nọ… như vậy?

Nói nóm lại là sao nhà nước ta, đảng ta, chế độ ta, nhân dân ta lúc nào cũng khốn nạn, đểu giả, bạc nhược, thối nát, nhếch nhác… đến thế? Những vấn nạn này hiện nay đã được đặt ra ở khắp mọi nơi, và đâu đâu cũng nhận được một câu trả lời (gọn lỏn) của nhà văn Hoàng Ngọc Hiến:

  • Cái nước mình nó thế!


Thế nà thế lào? Nhà thơ Hoàng Hưng lý giải trên một bài viết (“Từ Cách Thưởng Hoa Đến Nhân Cách”) đọc được trên talawas thế này đây:

“Để bù đắp lại cái quyền tự nhiên của mình bị ngăn trở, cái tôi bèn tìm mọi cách trốn tránh trách nhiệm, và ‘nhanh mắt, nhanh tay’ ăn cắp, thậm chí ăn cướp mỗi khi ‘cái ta’ sơ hở; nhưng cách hay nhất, thực tế đã chứng tỏ hiệu quả nhất, là lẩn trốn trong bóng ‘cái ta’, núp ngay dưới danh nghĩa ‘cái ta’ mà ăn cắp, ăn cướp của chính ‘cái ta’ và của những ‘cái tôi khác’ yếu hơn mình (về thủ thuật này, nêu gương một cách xuất sắc chính là những vị có chức có quyền). 


Mức độ nhẹ hơn nhưng hết sức phổ biến từ trên xuống dưới: khi không có điều kiện hoặc chưa đủ tâm địa ăn cắp/ ăn cướp, người ta chọn lối sống ‘cha chung không ai khóc’, ‘mackeno’. Và một trong những hậu quả của việc ‘cái tôi’ phải ‘sống chui’ ấy là thói đạo đức giả lan tràn trong xã hội đến mức có lần trong một hội thảo khoa học, GS Phan Đình Diệu phải cay đắng nói rằng: sự giả dối đang trở thành ‘bản sắc dân tộc’!”

Nếu quả là cố giáo sư Phan Đình Diệu có nói như thế thì tôi e rằng ông đã nói trong một lúc hơi (bị) yếu lòng! Bản sắc dân tộc Việt ta không kém cỏi (đến) như thế, và cũng không phải lúc nào cũng ở tình trạng thụ động như vậy.

Thầm lặng và từ tốn, vô thức tập thể có thể đã làm cái công việc đãi lọc và chuyển đổi từ ta qua tôi (hoặc “mình”) từ bấy lâu nay. Sở hữu đại danh tự ta  đang dần biến mất trong ngôn ngữ hàng ngày, ở Việt Nam. Nơi đây, người dân (thôi) không còn muốn nói đến nhà nước ta, đảng ta, chế độ ta, bộ đội ta, quốc hội ta… nữa. Cả nước đều… oải cái “ta” của “cách mạng” lắm rồi!

Ngôn ngữ có nhịp thở, và đời sống (cũng như tuổi thọ) riêng của nó. Cái cốc, cái màn, cái môi, cái thìa, cái bút, cái hôn… – sau khi vào Nam đã hội nhập và sống thuận hoà nơi vùng đất mới. Đôi dép râu, cái sổ gạo, cái cửa hàng ăn uống quốc doanh, cái Chủ Nghĩa Mác Xít Lê Nin Nít Bách Chiến Bách Thắng Vô Địch Muôn Năm thì lặng lẽ… đi vào nghĩa địa! Cái Tinh Thần Làm Chủ Tập Thể (nghe tử tế là thế) cũng cùng chung số phận. 


Những thuật ngữ “Đảng ta,” “Nhà nước ta,” “quân và dân ta”… chỉ là cách nói “với dụng ý đánh đồng các thành phần trong hệ thống chính trị của Đảng Cộng sản với toàn thể quốc dân và xã hội.” Đây chỉ là “một phép nguỵ biện về lô-gích và một sự trâng tráo về hành xử.” (La Thành. “Tính ‘Chính/ Ngụy’ Của Quyền Lực Nhà Nước” – talawas).

Sự ngụy biện, và cách hành sử trân tráo này, không còn được người Việt chấp nhận. Nước mình, dân tộc mình vẫn còn đó (và sẽ còn hoài) nhưng chế độ ta, đảng ta, quốc hội ta… thì e không còn (sống) được bao lâu nữa. Đó là qui luật của sự tiến hoá. Cũng như chuyện cái làn thì đã từ trần nhưng cái lồn thì vẫn sống vô tư, sống hồn nhiên, sống phây phây, và sống hây hây – mãi mãi.

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Cùng với số phận chung của Thế giới, nạn dịch Covid-19 đã phủ mây mù lên nền kinh tế của Việt Nam trong 7 tháng đầu năm 2021. Khoảng 80,000 Doanh nghiệp đóng cửa và hàng chục triệu công nhân mất việc làm. Việt Nam đã nhập siêu 2,7 Tỷ Dollars trong thời gian này, trong khi tình hình dịch Covid-19 vẫn còn nghiêm trọng.
Mười một năm trời ròng rã, mỗi lần nghĩ tới anh là tôi nghĩ tới Nelson Mandela, chỉ ra được khỏi tù sau 27 năm, vì những người khác đã tranh đấu thành công để có một cuộc thay đổi toàn diện trong xã hội. Ngay sau khi ra tù, Mandela đã được bầu làm lãnh đạo một cuộc thương nghị với nhà cầm quyền cho vấn đề hòa giải dân tộc.
‘Tổng thu nhập một tháng trên một khẩu của chúng tôi là 40.000 đồng …’ 40.000 đồng có giá trị như thế nào lúc này. Đó là giá của 2 bát phở, giá của 4 lít xăng, giá của hai xuất cơm trưa văn phòng, giá của một cuốc xe ôm trên đoạn đường 10km, giá của hơn một bao thuốc lá 555, giá của 3 ly cà phê… Tôi biết sẽ có rất nhiều người không thể tin rằng tổng thu nhập hàng tháng của một khẩu trong hầu hết những gia đình nông dân lại chỉ với một con số ‘kinh hoàng’ như thế.”
Các lãnh tụ của Đảng Cộng Hòa có thể tiếp tục than phiền về tình trạng kinh tế khó khăn và các chương trình của Biden có khuynh hướng xã hội, nhưng khi nhìn những thống kê về dư luận quần chúng thì rõ ràng quan điểm của Đảng Cộng Hòa không phản ảnh đúng với nhận thức của đa số dân Mỹ.
Nhạc Sĩ Tô Hải và Cựu Đại Tá Bùi Tín là hai nhân vật đã có dịp theo dõi và tham gia cuộc sống trong thời gian hai biến cố kể trên xảy ra, đã phục vụ chính quyền Cộng Sản trong Quân Đội Nhân Dân, trong văn nghệ và báo chí, sau đó đã đổi thái độ. Ngày 11/8/ 2018, hơn một tuần lễ trước ngày có thể coi là mở đầu cho định mệnh của hai ông, hai ông cùng qua đời, cùng ở tuổi 91. Câu hỏi được đặt ra là hai ông đã nhận định ra sao về ngày 19/8/1945 này? Người viết xin vắn tắt ghi lại sau đây để người đọc tiện theo dõi và hiểu rõ hơn quan điểm của hai ông, đồng thời cũng xin ghi thêm một vai chi tiết liên quan tới ngày 19/8/1945 ít được mọi người biết tới hay chỉ biết mơ hồ, trong đó có chuyện tấm ảnh của Tướng Cọp Bay Chennault ký tặng Hồ Chí Minh, chuyện Việt Minh lấy đồ trong cung vua đem ra chợ bán, chuyện bốn tấn bạc người Nhật trả lại cho Chính Phủ Việt Nam, chuyện Việt Minh tịch thu của cải của nhà giầu...
Tuy nhiên, khi Chính phủ áp dụng giãn cách nhà với nhà, người với người, cấm ra đường nếu “không có lý do chinh đáng”, khoanh vùng, lập chốt kiểm soát cho tới ban hành lệnh giới nghiêm tại Sài Gòn từ 6 giớ tối đến 6 giớ sáng thì tình hình kinh tế và xã hội xáo trộn rất nhanh. Đời sống người dân bị đảo lộn, gặp muôn vàn khó khăn do mất việc, giảm việc, cạn kiệt tài chính vì dù không có việc làm nhưng vẫn phải ăn để sống, vẫn phải trả tiền thuê nhà, điện nước v.v…
Tôi tha phương cầu thực đã lâu nên tiếng mẹ đẻ không khỏi có phần giới hạn. Bữa qua, đứng xếp hàng ở chợ chờ trả tiền thùng bia, chợt nghe loáng thoáng dăm câu đối thoại của mấy người đồng hương mà không khỏi có đôi chút băn khoăn: Vậy chớ chị thuộc diện gì? Nào có “thuộc diện” gì đâu. Mình chỉ là loại … ăn theo thôi mà! Về nhà, xem qua tự điển thì thấy Soha định nghĩa (“ăn theo”) thế này: Khẩu ngữ: Được hưởng hoặc có được nhờ dựa theo cái khác, người khác, không phải do tự bản thân có hoặc làm nên: “Nước lên cá đuối ăn theo, Lái buôn hết gạo bỏ neo cầm chừng.” (Cdao)
Lời người dịch: Các lý giải của Jude Blanchette và Richard McGregor về sự ra đi và kế vị của Tập Cận Bình trong tương lai là một đóng góp hữu ích cho độc giả quan tâm đến sự nghiệp chính trị của Nguyễn Phú Trọng và sự thống trị của ĐCSVN, vì không có sự khác biệt to lớn trong hệ thống chính trị của Trung Quốc và Việt Nam. Nhưng hai tác giả không nêu lên một khía cạnh thời sự đang tác động cho tình thế là dịch bịnh COVID-19. Cả hai ĐCSTQ và ĐCSVN đều luôn tự hào về các thành tích kinh tế toả sáng mà không cần cải cách tự do chính trị và tự tuyên dương là “cường quốc chống dịch bịnh” hữu hiệu hơn các nước dân chủ phương Tây. Hiện nay, biến chuyển thảm khốc về dịch bịnh tại Việt Nam cho thấy một sự thật khác hẳn và giúp cho người dân có một cơ hội để nhận định đúng đắn hơn về sự lãnh đạo của ĐCSVN.
Ở độ cao hơn 46,000 feet tức là cao hơn 14 kilomets trên vùng sa mạc khô cằn của tiểu bang New Mexico, chiếc phi thuyền không gian màu trắng và bạc đã được hỏa tiễn phóng lên hướng về bầu khí quyển của Trái Đất, cỡi lên một chòm khói khí đốt và nhiên liệu cao su cứng đang cháy rực, theo ký giả Michael Greshko của báo National Geographic. Một vài phút sau, 2 phi công và 4 hành khách của phi thuyền, gồm tỉ phú Richard Branson, đã trôi trên bề mặt của hành tinh chúng ta hơn 53 dặm, tức hơn 85 cây số là độ cao đủ để nhìn thấy độ cong của Trái Đất và trượt qua mối ràng buộc của hấp lực, trong vòng ít nhất vài phút. Chiếc phi thuyền lấp lánh đó -- Virgin Galactic’s V.S.S. Unity – được phóng vào không trung từ một chiếc máy bay lớn hơn để đạt tới độ cao hơn 53 dặm trên bầu trời. Khi nó hoàn tất đường phóng lên, nó xoay cặp đuôi của nó lại, sắp xếp lại hình dạng chiếc phi thuyền để cho phép nó rơi trở lại thượng tầng khí quyển như một trái banh vũ cầu. 15 phút sau khi tách khỏi phi thuyền mẹ,
Câu chuyện của Giannis Antetokounmpo cũng là câu chuyện của những người di dân Mỹ. Bất kể đến từ đâu, bất kể màu da, bất kể chủng tộc, giá trị của người di dân chỉ có thể được đánh giá trên sự phấn đấu và những đóng góp của họ cho quê hương mới.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.