Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Khâu Vàng Của Mẹ Tôi

10/05/202018:53:00(Xem: 2646)

Tặng chị hai và anh tư

Có nhiều nhà văn, nhà thơ, khi viết về mẹ, đã thảng thốt kêu lên rằng, mẹ ơi, con đã làm bao nhiêu bài thơ cho nhiều người con gái, con đã viết bao nhiêu truyện, bao nhiêu hồi ức cho nhiều người con gái, nhưng con viết về mẹ ít quá, chỉ một, hai bài, hay, chỉ một, hai trang.


Tôi cũng vậy, những bài tôi viết về mẹ có lẽ là lúc tôi đang thất tình hay cạn đề tài… Tình yêu của tôi cũng linh tinh, lang tang lắm, có thể có người phê phán tôi là đào hoa, đa tình… Nhưng chuyện này xin hãy nói sau… Bây giờ nhân Ngày của Mẹ, tôi viết về mẹ tôi, một truyện (như thật) cho Ngày Của Mẹ. Có một điều, tôi hiểu và nói ra trước, là Mẹ tôi, rất bình thường, tầm thường nữa là khác. Nhưng với tôi, Mẹ thật vĩ đại, ít ra trong những ngày cơ khổ nhất đời tôi.

 

Tôi chỉ xin kể về Mẹ, ngày tôi từ trại tập trung cải tạo trở về.

Ra trại, tôi về Sài Gòn, nhưng trong cái Giấy Ra Trại ghi là, nơi đăng ký thường trú, làng An Mỹ, xã Tam An, huyện Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.

Tôi là sĩ quan chế độ cũ, nên về quê, tôi sợ. Sợ bị trả thù, sợ bị cho đi học tập lần thứ hai, sợ đủ mọi thứ. Sợ cán bộ xã, ấp, sẽ "đì", ngóc đầu không lên nổi. Thế là tôi bèn về ở Sài Gòn để lánh. "Lánh" nghĩa là sống chui, sống nhũi, sống không hộ khẩu, không tạm trú, không... không gì cả, chỉ biết hàng tháng "chi" tiền cho công an khu vực, để được sống yên mà thôi.


Tôi đã bỏ Mẹ tôi ngoài quê. Mẹ sống một mình, làm lụng một mình, ăn, ngủ một mình… suốt bao năm. Điều mơ ước nhỏ nhoi của tôi, ở trong trại cải tạo, là ngày về được sống cùng Mẹ, làm việc cùng Mẹ, để có chút đỉnh tiền, nuôi thân mình, cùng nuôi Mẹ. Ước mơ nhỏ bé đó cũng vuột khỏi tầm tay, khi tôi sống ở nơi xa mẹ, gần 900 cây số đường bộ. Sài Gòn - Quán Rường, Tam Kỳ.

Thật xa lăn lắc.

 

Thân phận của một người tù cải tạo trở về thì ai cũng biết. Thật là bi thảm. Tôi hứng chịu, phải sống chui rúc, sống không hộ khẩu, đeo theo gia đình nheo nhóc, để cố gắng, làm ăn, nuôi con. Tôi làm đủ mọi nghề, từ đi bửa củi thuê cho các sạp củi, dọc lề đường, đến vá xe đạp lề đường, bán bánh bò bánh tiêu, đạp xích lô...

Đi bán bánh tiêu, bánh bò trên khắp ngã đường, từ ngã ba ông Tạ, lên đến khu Chợ Lớn, khu cư xá Lữ Gia. Tôi theo chân một người bạn, nguyên là đại úy cùng đơn vị cũ, đó là anh Nguyễn Xuân Thao, người Đà Nẵng.

Một hôm tôi ở nhà, vô công rổi nghề. Nhà tôi thuê lúc ấy ở khu Nam Hòa, Phường 6, Tân Bình. Tôi nghe tiếng rao, bánh bò, bánh tiêu đây. Tôi nhìn ra thấy một người đàn ông gầy gò, đội chiếc nón phớt, đi trên một chiếc xe đạp, đang rao bán bánh bò, bánh tiêu.


Nhìn kỹ, thì ra đó là anh Thao, bạn cùng chung đơn vị với tôi. Tôi mừng rỡ ra chận xe anh lại và hỏi thăm. Thao cũng mừng khi gặp lại tôi. Nghĩa là qua những câu xã giao, là chuyện công việc, đến cuối cùng thì tôi nhờ anh giúp tôi, chỉ tôi cách bán bánh bò bánh tiêu, cũng như cách lấy hàng?.

Tôi theo nghề anh, nhưng đã thất bại...Tôi đã đi qua khắp các ngã đường Sài Gòn - Chợ Lớn, từ khu cư xá Bắc Hải đến khu Chợ Lớn, đường Lý Thường Kiệt… Tôi đã đạp xe vào những con hẽm nhỏ nhất. Người dân ở đây phần nhiều là người Tàu… Tôi rao tiếng không to vì giọng tôi chỉ đến chừng đó. Sau khoảng hai tuần, thấy không có kết quả, số bánh tồn lại không bán được, quá nhiều… Đem về cho con ăn thì được, nhưng số vốn ít ỏi tôi có, càng ngày càng thu hẹp, nên tôi đành phải bỏ nghề.

Tôi đi tìm nghề khác, những nghề không vốn thì tốt hơn.

Cũng là một duyên may, tôi gặp Tự, một người bạn cùng khóa sĩ quan. Chàng ta đang làm công việc đạp xe xích lô. Nghề này là nghề không vốn, chỉ đem bán sức lao động của mình thôi, nên tôi nhờ Tự chỉ giúp tôi vào nghề. Hiện tại thì Tự đang thuê chung xe với một người bạn nữa cũng là dân cải tạo về. Tự giới thiệu giúp tôi với người chủ xe, và được người chủ chấp nhận. Tôi nhận ca sáng, tức là từ 5 giờ sáng đến 2 giờ chiều. Ca này rất căng vì nắng Sài Gòn như đổ lửa, nên đạp xe rất mệt...nhưng được cái là khách hàng khá hơn vì ban ngày ban mặt, nhiều sinh hoạt mua bán, cần vận chuyển...nên bỏ sức ra đạp xe cũng có được đồng ra đồng vào...

Sau đó, qua 2, 3 đời chủ xe nữa...Và tôi nhận thấy rằng...thuê xe xích lô chạy cũng bất lợi cho mình, là một ngày phải đóng cho chủ khoảng 10 đến 15 đồng, coi như mất một, hai kg gạo...Số tiền này có thể đủ gạo cho gia đình tôi ăn trong một ngày...Tôi loay hoay mãi và suy nghĩ...Nếu mình có chiếc xích lô riêng thì tốt biết mấy. Từ đó trong tâm tôi vẫn có ý định làm sao có đủ tiền, để mua một chiếc xích lô riêng.

Chuyến thuê xe xích lô đạp lần sau cùng là với Tý, đứa cháu. Tý là con ông anh vợ. Năm đó Tý khoảng 16 đến 18 tuổi là cùng. Ông anh đã từng một thời oanh oanh liệt liệt trên chính trường miền nam. Ông là lãnh tụ một đảng phái quốc gia, đã từng làm "ông lớn"...Nên sau miền Nam thất thủ, ông cũng như những người ngụy quân, ngụy quyền hay đảng phái phản động khác, phải đi trình diện cải tạo. Nhưng ông nặng ký hơn, nên trong thời điểm đó, ông chưa về.

Thuê xe đạp chung với Tý được khoảng đâu 6 tháng, thì một hôm Tý báo tin, chủ xe định bán xe, không cho thuê nữa, thời hạn một tháng, hai tháng thôi...Thế là tôi loay hoay, tự nghĩ, mình sẽ thất nghiệp nữa rồi. Nhưng cùng trong ý nghĩ thất nghiệp, tôi lại có ý nghĩ vươn lên, làm sao kiếm đủ tiền để mua lại chiếc xích lô này. Tôi hỏi Tý về giá chiếc xe, Tí nói khoảng chừng chỉ rưỡi.

Tôi loay hoay, một chỉ rưỡi thì không có rồi, đã gần 3 năm chạy xích lô, tiền thu vào ngày nào cũng "phủi lủm" ngày đó, nên đâu có tiền dư… Tôi nhìn những người thân chung quanh mình, ai cũng chạy ăn từng ngày, cũng đầu tắt mặt tối...thì biết nhờ ai đây. Có lẽ phải bó tay thôi, sẽ tiếp tục kiếm mối khác thuê xe mà chạy. Nhưng trong tâm trí tôi vẫn lởn vởn chiếc xe này, nếu mình làm chủ được chiếc xe này thì tốt quá… Có xe rồi, muốn chạy giờ nào, giấc nào cũng được, buổi chiều trời mát thì chạy thích hơn, đạp xe nhẹ nhàng hơn.

May sao đó là vào dịp cuối năm, tôi xin nghỉ trước một tuần để về quê thăm mẹ.

Một năm, dù đầu tắt mặt tối ở Sài Gòn, tôi không giờ nào, ngày nào tôi không nhớ về mẹ tôi. Mẹ tôi lúc ấy đã già, đã gần bảy mươi, một mình sống vò vỏ ở quê. Nghề nghiệp của mẹ là bán thuốc rê ngoài chợ. Cái nghề này mẹ tôi có từ lâu. Lúc còn trẻ, mẹ đã đi mua thuốc rê từ các vùng xa như Khánh Thọ, Lò Rèn, Trường Xuân, những nơi có trồng nhiều cây thuốc lá...Người chủ vườn thuốc lá lựa ra những lá thuốc kém chất lượng hơn, đem xắt nhỏ, rồi trải ra liếp phơi nắng. Sau đó quấn thành rê thuốc, bán cho bạn hàng. Mẹ tôi làm nghề này suốt ba, bốn mươi năm. Nay mẹ đã già, nên thu vén lại, làm cò con. Là mẹ vô Khương Mỹ, nơi có bán các liếp thuốc rê, đem về ra chợ Quán Rường bán lại. Chợ chiều, mẹ bán cho những người dân quê hút thuốc. Tiền lời không bao nhiêu, chắc mỗi ngày mẹ chỉ kiếm khoảng vài, ba đồng, đủ mua lon gạo, chút rau, chút cá về nuôi sống chính mình. Tôi và anh tôi đang ở phương nam, cũng xất bất xang bang kiếm ăn từng bữa, làm sao nuôi mẹ đây.

Trong chuyến về thăm mẹ năm đó, tôi cố gắng dành dụm ít tiền để mua vé xe đò, chút ít quà cho mẹ, gởi thêm tiền ăn cho mẹ, làm mâm cơm cúng cha...Chỉ thế thôi.

Nhìn mẹ già, gần bảy mươi, tuy già nhưng trông mẹ còn rắn chắc. Da mẹ có nhiều nếp nhăn chảy xệ hai bên má, má mẹ hóp nên tạo thành lằn, rảnh. Chân tay mẹ khẳng khiu thấy mà thương. Những ngày tôi về, mẹ không đi chợ bán nữa mà ở nhà với tôi, cũng có lúc mẹ chạy ra chợ, mua chút rau, chút cá, chút mắm về, còn thì hai mẹ con quấn quít bên nhau. Nhìn dáng mẹ đi lầm lủi, lúp xúp, như chạy...thương mẹ khổ suốt đời.

Trong lần này, gần mẹ, tôi đã kể mơ ước của mình, đó là tại tôi không có tiền, chứ có tiền, tôi mua chiếc xích lô chạy thì sẽ khá hơn. Tôi nói với mẹ như một tâm sự, chứ không có đòi hỏi gì, vì tôi biết mẹ  làm gì có tiền, mẹ cũng khổ, cũng chạy ăn từng bữa như tôi.


Buổi sáng hôm sau, hai mẹ con cũng ngồi trên chiếc chỏng tre ở phòng ngoài, nói chuyện với nhau. Chuyện xưa, chuyện nay, chuyện mồ mả ông bà tổ tiên, chuyện đám giỗ...hàng năm, những điều mà dù kham khổ đến mấy, mẹ tôi vẫn làm, chỉ một mâm cơm nhỏ, quả trứng, đĩa cá, đĩa thịt, mẹ không bỏ sót một đám giổ nào, từ ông cố trở xuống.

Hôm đó, tự nhiên mẹ lấy từ túi áo ra một cái bị vải nhỏ, được thắt nút  kỹ càng.

Mẹ nói:

- Con, thật ra mẹ bây giờ không còn gì nữa để cho con, chiến tranh loạn lạc đã tiêu tán hết. Gần đây, dì T con, còn được chỉ vàng, dì sợ mất nên nhờ mẹ cất giữ dùm. Bây giờ thấy con cần quá để mua chiếc xe làm ăn, thì mẹ giao chỉ vàng cho con, coi như mẹ cho hai anh em con làm vốn. Còn về phần dì, thì mẹ sẽ nói với dì sau.

Mẹ tôi tay run run, mở cái bị vải nâu nhỏ, kéo dây rút, lôi trong đó một khoen vàng độ một chỉ, màu vàng nhạt, tôi nhìn thấy không phải màu vàng au, có lẽ khâu vàng này hơi thiếu tuổi, đưa cho tôi. Tôi cảm động quá mà rơi nước mắt. Thật ra, suốt đời, đến thời điểm đó, tôi chưa cầm trong tay một chỉ vàng nào. Ngày đi lính, có lương, nhưng tôi không sắm vàng, chỉ hàng tháng đưa tiền cho vợ, để  lo cho gia đình, con cái, mà thôi.

Tôi tin mẹ, là chỉ vàng này của dì T gởi nhờ mẹ cất dùm, nhưng mẹ thương 2 thằng con trai quá, nên đành rút ruột mà cho anh em tôi. Nghĩ đến chuyện đó, tôi không cầm được nước mắt. Tôi ôm mẹ mà khóc, mà hun. Mùi hương ngái ngái từ áo mẹ, từ mùi mồ hôi, mùi vôi trầu, mùi nhà bếp, sao mà thơm quá. Sau này, tôi đã có dịp quen những người con gái xức mùi nước hoa thơm lựng, như mùi nước hoa Chanel 5, nhưng sao tôi thấy vẫn không bằng mùi hương vôi, cau, trầu của mẹ tôi xưa.

Khi trở về lại Sài Gòn, tôi viết thư cho anh tôi, nói là mẹ cho anh em mình chỉ vàng, thế đó. Anh tôi cũng rất vui, và anh cũng bằng lòng cho tôi mượn 1/2 chỉ vàng này, để mua chiếc xe xích lô, coi như chiếc xe chung của hai anh em. Nếu tôi chạy xe được khá khá, thì tôi sẽ chia chút đỉnh cho anh. Anh tôi cũng đi học tập cải tạo về, đang sống ở kinh tế mới với gia đình, cũng cực khổ trăm bề.

Khoảng hai, ba tháng sau, tôi mới mua được chiếc xích lô. Kể ra thì dài dòng, nhưng nói chung là từ đây tự tôi làm chủ chiếc xe của tôi, tôi muốn chạy sáng, trưa, chiều, tối, lúc nào cũng được. Tôi vui lắm.

Xin nói thêm là thời gian này, gia đình tôi thuê một căn phòng của một gia đình người bắc di cư, theo Thiên chúa giáo, ở khu Nghĩa Hòa, Phường 6, Tân Bình. Căn phòng (chỉ là căn phòng trống trơn), gia đình tôi để một chiếc giường rộng, đủ chứa 5 người, hai vợ chồng và ba đứa con, nên rất chật. Muốn đi vào căn phòng, phải đi theo một con đường luồng dài khoảng 15-20 mét. Mỗi khi tôi đạp xích lô về, tôi phải dắt xe theo đường luồng, để xe vào sát phòng tôi. Tôi cũng ỷ y vì nghĩ, chỗ này để xe chắc an toàn, vì phải dắt vào đường luồng hơi khó khăn...Với lại tính tôi rất hời hợt và tin người, cứ nghĩ, mình là dân khố rách áo ôm, chỉ có cái xe xích lô làm cần câu cơm, chắc chẳng ai dòm ngó gì...Nên buổi tối, tôi ơ hờ, không khóa xe kỷ lưỡng gì cả. Cứ để đó mà vào phòng...suốt mấy tháng, như vậy.

Không ngờ, chung quanh tôi toàn là cạm bẫy, hầm hố, bom mìn...Nói nghĩa bóng thế thôi, chứ vợ chồng người chủ nhà, anh chị Thuận, nhìn cũng tương đối hiền lành. Anh trước 75 là lính, đơn vị anh là sư đoàn 18...Bây giờ anh về làm thợ hồ, thường đi theo công trình xây nhà. Anh chị Thuận ăn nói tử tế, hay đi lễ nhà thờ hàng tuần vào thứ bảy, chủ nhật. Anh chị có 3 đứa con còn nhỏ khoảng 5, 6, 7 tuổi, hay phá phách, chọc ghẹo, ăn hiếp mấy đứa con tôi, nhưng tôi nghĩ, đó là những đứa con nít, con nít nhà ai chẳng vậy.

Nhưng thật ra tôi không tìm hiểu, vì tìm hiểu làm gì khi suốt ngày tôi gò lưng đạp xe, mài mòn đít trên yên xe...thì trong lúc đó, có một âm mưu lấy cắp chiếc xích lô của tôi mà tôi không hay.

Đó là anh Thuận có 3 người em trai, tuổi từ hai mươi đến ba mươi, vô công rỗi nghề...có tiền án tiền sự. Trước đây, đã từng ăn cắp, ăn trộm và hút chích...đã từng bị bắt giam sáu tháng hay một năm gì đó. Nay được thả về, vẫn vô công rổi nghề, hay ngồi quán cà phê hàng buổi, tán láo hay tìm kiếm "phi vụ".

Ba đứa em này, ở gần nhà anh Thuận, thường đến nhà anh Thuận chơi, đã rình mò chiếc xích lô của tôi, chú ý xe tôi không khóa hàng đêm. Nên một buổi sáng như mọi ngày...Tôi thức dậy và bận áo quần đi chạy xe, mở cửa bước ra ngoài, thì hỡi ơi, không thấy chiếc xe đâu cả. Tôi thất sắc, hết hồn, chạy trở vào nói nhỏ với bà xã:

- Em ơi, mất chiếc xích lô rồi, ai lấy chiếc xích lô của mình rồi.


Bà xã tôi thì bình tỉnh hơn, ra hiện trường xem thì chiếc xích lô không cánh mà bay, tôi hỏi mấy người hàng xóm thì ai cũng nói không biết, không thấy ai lấy cả.


Tôi đi báo công an phường 6, công an làm biên bản, nói sẽ điều tra. Tôi nghe lời vợ tôi mua túp thuốc ba số 555, biếu công an. Nhưng rồi ngày qua ngày, tuần qua tuần, tháng qua tháng, chiếc xe vẫn biệt vô âm tín.


Trong những ngày đau thương này, có một nhà đối diện, thương cảm hoàn cảnh của tôi, có chiếc xe còn dư cho tôi thuê đạp buổi sáng. Thế là tôi chỉ làm chủ được chiếc xích lô riêng của tôi đâu được 6 tháng, một thời gian quá ngắn. Tôi còn nợ người anh 1/2 chỉ vàng, tôi phải tiện tặn để dành để bù hoàn lại. Cũng hơn một năm sau tôi mới trả xong.

Mãi sau này, cũng bốn, năm năm sau, nhân dịp về quê, tôi mới kể chuyện này cho mẹ tôi nghe. Mẹ tôi không nói gì nhưng chắc mẹ tôi buồn lắm.

Tôi có nói với mẹ, làm sao để trả món nợ này cho dì T, mẹ nói, mẹ đã trả cho dì rồi, con đừng lo.


Tôi cũng xin nói thêm là mẹ tôi có ba chị em, là mẹ tôi, dì T và dì K. Dì T cũng vì tình duyên trắc trở nên dì sống một mình, dì làm cái nhà nhỏ gần cầu gò ông Đốc. Căn nhà trông rất hiu quạnh. Dì chỉ có một người con trai, đứa con trai đã lớn, có vợ con nên ra riêng.  Dì sống một mình. Dì vẫn hay lên nhà tôi mỗi sáng, dì đi quanh vườn, rồi vô nhà, tem miếng trầu ăn, nói chuyện với mẹ tôi đôi ba câu, rồi dì về. Thấy dì quạnh quẽ tôi  thương lắm.

Hình như khi tôi ở Sài Gòn, thì dì T mất, tôi nghe tin sau vài ba tháng, vì hồi đó đâu co` liên lạc dễ dàng như bây giờ, điện thoại không, tin nhắn không. Chỉ nghe tin qua những người cùng quê gặp ở Sài Gòn báo tin. Thế thôi.

Khi về thăm quê, tôi có ghé lại mả dì thắp hương. Mả dì chôn gần mả của cha tôi, nên mỗi lần về thăm quê, đi thắp hương mả cha, tôi đều thắp hương mả dì, như một tưởng nhớ.


Còn chú cả T, con trai dì, trước khi khi đi Mỹ, tôi về quê thăm có gặp chú, anh em nói chuyện vui vẻ, cũng có chút "chén tạc chén thù". Chú lớn tuổi hơn tôi nhưng vẫn gọi tôi bằng anh. Tính chú xả lã, vui vẻ.

Thế mà sau khi qua Mỹ, một, hai năm gì đó, tôi nghe tin chú chết. Một cái chết rất đau thương, nghĩa là một buổi sáng, chú và đứa con gái đi Đà Nẵng. Hai cha con chở nhau trên chiếc xe Honda, ra đâu đến Hương An hay Bà Rén gì đó, vì tránh một chiếc xe hàng ngược chiều, xe chú cán lên một hòn đá to, nằm bên vệ đường. Chiếc Honda lật lăn quay, chú chết ngay tại chỗ. Còn đứa con gái thì mê man bất tỉnh, coi như sống đời sống thực vật. Mãi đến mười, mười lăm ngày sau, bác sĩ cho gia đình biết không hồi tỉnh được, nên gia đình đành xin rút ống.


Nghe tin, tôi cũng thật bàng hoàng và thương cảm cho đứa em bạn dì của tôi. Tôi nghĩ, thôi, để bù đắp lại ngày xưa mẹ tôi đã lấy khâu vàng của dì T, cho tôi làm vốn, không biết mẹ tôi trả cho dì chưa, nhưng tôi cũng gởi về người con cả của chú $ 200 US, trước là để phúng điếu, hai là để xây cho chú nấm mồ bằng xi măng hay gạch ốp lát cũng tốt, như một sự trả ơn.

 

Viết đến đây tôi lại thấy thương mẹ tôi hơn lên. Điều mà tôi nghĩ hoài về chỉ vàng mà mẹ tôi nói là của dì T gởi, mẹ rứt ruột cho tôi và anh tôi trong lúc ngặt nghèo...mới thấy được tình mẹ to lớn bao la bao nhiêu. Có thể là mẹ tôi sẽ tần tảo từng đồng để dành tiền mua khâu vàng khác, trả lại cho dì, còn nếu không, thì tìm cách nói quanh, nói quất, để dì không đòi...Dù gì đi nữa, tất cả mẹ cũng vì con, nhường miếng cơm, manh áo cho con.

Thôi thì chuyện đã qua cũng gần bốn mươi năm qua rồi. Những người thân yêu nhất đời của tôi cũng lượt bỏ tôi mà đi. Cha, mẹ, dì T, dì K...Ai có thọ nhất...rồi cũng ra đi thôi, đó là luật thời gian, quy luật tạo hóa...Dì K tôi sống lâu nhất gần 100 tuổi...nhưng cũng ra đi cách đây mấy năm.


Ngày Của Mẹ, tôi lúc nào cũng thẩn thờ, nhớ hoài về những kỷ niệm ngày còn Mẹ. Nhưng nhớ chỉ thêm buồn.


Nhưng tâm hồn con người mà. Thương nhớ biết làm sao nguôi.


Trần Yên Hòa


Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Tháng bảy, 1995. Tàu vào quân cảng Sembawang, Singapore để dự một sự kiện lớn. Có đại sứ Hoa Kỳ và nhân viên tòa đại sứ đến dự, nhờ vậy mà tôi gặp được thằng Hùng, đại úy Biên Phòng (US Coast Guard), được biệt phái qua Singapore làm việc trong tòa đại sứ. Biên phòng Hoa Kỳ mà làm việc ở Singapore? Tôi có thắc mắc đó nhưng bận công việc nên không rảnh để hỏi. Không nói chuyện được nhiều nên tôi và Hùng hẹn nhau đi ăn tối - hy vọng có thời giờ nói chuyện thêm.
Sáu giờ sáng. Vừa mới thức dậy, My xem liền tin nhắn của gia đình trong cell phone. Mấy chị em vẫn thường dùng cách “text” để trò chuyện với nhau. Bên này là sáng sớm, bên Việt Nam mọi người đã ăn xong cơm tối. Em gái út nhắn: “Hôm nay chùa cho mấy ổ bánh mì, để trước nhà, mình ra lấy.” My trả lời: “Vậy sao? Tốt quá! Bữa trước em nói thèm bánh mì nhưng không đi mua được. Nay thì ước gì được nấy rồi nhé!”
Mười bảy tuổi đã làm mẹ. Cô gái ấy rụt rè như đứa trẻ. Cô đứng nhìn đứa bé sơ sinh như nhìn một vật lạ. Đứa bé có nước da vàng sậm. Người ta đặt nó trong lồng kính. Cô y tá bảo đó là cái incubator. Cái lồng ấp. Ấp đứa bé như người ta ấp trứng. Nhưng cái lồng ấp trong bệnh viện hôm nay không ấp trứng mà ấp đứa bé mới chào đời. Bác sĩ bảo cơ thể hài nhi tự nó chưa đủ khả năng biến dưỡng chất mật nên bilirubin tràn lan trong máu và đọng lại dưới da, thành ra da đứa bé màu vàng sậm. Bệnh viện đặt con của cô trong lồng ấp vài hôm dưới ánh đèn màu xanh da trời để tia sáng giúp làm tan bớt chất sắc tố mật đọng dưới da. Người mẹ đứng vẩn vơ bên cạnh cái lồng ấp. Đứa bé có miếng vải che hai con mắt để tia sáng khỏi làm hư nhãn cầu. Mười bảy tuổi. Người mẹ vừa mới qua cái tuổi dậy thì; cái tuổi (lẽ ra) bận rộn với đèn sách và (dĩ nhiên) tíu tít những hẹn hò.
Tháng bảy đối với gia đình tôi có nhiều chuyện không thể nào quên: vui buồn, đau khổ, tuyệt vọng rồi thành công…. Xin tri ân tất cả những gì đã trải qua, những ơn phúc được ban bố, những kết quả trong hiện tại. Xin tri ân cơ hội làm lại cuộc đời tại quê hương thứ hai này. Và tận trong lòng tôi, mãi mãi câu chuyện mảnh giấy nhỏ Ba tôi thả từ xe bịt bùng báo tin: Ba đã bị đưa đi trại 1 Tiên Lãnh và cậu bé Bồ Tát nhặt được đem giao tận tay anh Hai tôi luôn là câu chuyện nhiệm màu không giải thích được.
Trong tiếng hò reo của các ủng hộ viên Ý và hạnh phúc vỡ òa của đội Ý, từ một góc khán đài danh dự của sân vận động Wembley ở Luân Đôn, "hoàng tử bé" George buồn muốn khóc. Bên cạnh vua tương lai của nước Anh là cha mẹ của em -Hoàng tử William và Công nương Catherine- cũng không giấu nỗi thất vọng khi đội tuyển Anh để vuột mất cúp vô địch Châu Âu nằm trong tầm tay với.
Đám tang vỏn vẹn chỉ có hơn chục người đến viếng, những người tới đây đều chép miệng xót thương cho hai chị em còn nhỏ mà đã mồ côi cả bố lẫn mẹ. Nhìn đứa em nhỏ dại ngồi nghịch những gói đường, hộp sữa người tới viếng mang cho mà Thương không cầm được nước mắt.
Thế là một ngày đẹp trời y bỗng nảy ra ý nghĩ: "Sao mình không thử làm văn sĩ?”, nói là làm ngay. Y vội lấy giấy bút và ngồi vào bàn hẳn hoi. Y lại nghĩ: "Phàm làm việc gì cũng phải có lễ, khai trương bá cáo cho thiên hạ biết, huống chi đây là việc quan trọng của đời người và còn ảnh hưởng đến đời sau”, nghĩ thế bèn đứng lên chỉnh sửa y phục thẳng thớm trang nghiêm, chải tóc, rửa mặt cho trông dễ coi một tí,
Cái thằng trông như một xác chết. Hay nó chính là xác chết vừa đội mồ sống dậy. Nhìn nó không khác gì một con zombie thường thấy trên ti vi. Cái mặt đờ đẫn, chân tay lỏng khỏng, áo quần rộng thùng thình. Vậy mà nó lại quàng được vai một đứa con gái. Một đứa con gái thấp hơn nó một nửa cái đầu. Rõ ràng là một đứa con gái. Một đứa con gái Á Châu. Tóc ngắn tua tủa trộn ba màu đen, đỏ, vàng. Mắt to kẻ viền đen. Cặp vai trần trắng muốt, hai vòm ngực đội cao nếp áo thun đen. Hai đứa nhùng nhằng bước vào tiệm. Vào hẳn trong tiệm rồi, chẳng thèm chào hỏi ai, thằng thanh niên ôm con nhỏ, cúi xuống, dán môi nó lên môi con nhỏ, mút và kéo môi dưới đứa con gái dài ra, để tuột ra cái âm thanh chùn chụt.
Tôi được phái đi công tác trong chiến dịch OIR, Operation Inherent Resolve, ở Tây Bắc Iraq, đúng vào những tháng Hè nóng oi bức như đổ lửa. Những cơn mưa ở đây không bao giờ xảy ra vào mùa Hè, chỉ vài cơn mưa rào vào mùa Đông, nên không khí như đặc quánh lại, nóng nung người và bụi tung trời.
Trong khi Quỳnh thả hồn theo tình ca Bóng Chiều Xưa của Dương-Thiệu-Tước, Đằng tần ngần nhìn theo nàng. Khi chiếc SUV của Quỳnh lăn bánh, Đằng thở dài, chợt nhớ một câu rất ý nghĩa để tự xoa dịu tự ái của chàng: “If you love something, set it free. If it comes back, it is yours. If it doesn’t, it never was.”
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.