Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Tản Văn, Tùy Bút Và Ký Giống, Khác Nhau Chỗ Nào?

08/05/202000:00:00(Xem: 1607)
TAN-VAN-TUY-BUT-VA-KY-rev
Bìa sách Tùy Bút

 

Có người bạn văn email hỏi tôi: Tản văn, Tùy bút và Ký giống, khác nhau chỗ nào. Câu hỏi khá bất ngờ và, kỳ thực, tôi không biết rõ lắm, bèn tìm kế hoãn binh, bảo chị đợi tôi trả lời trong một bài viết, thay vì vài câu email sơ sài cho qua. Nhận lời xong, tôi mới biết mình dại, vì không dễ dàng trả lời cho thỏa đáng câu hỏi này chút nào. Thôi thì, đành cố tới đâu hay tới đó, có chi bất cập, sai trái, mong các bạn góp ý và chỉnh sửa lại cho đúng.
 
Giữa ba thể loại, có lẽ Ký dễ phân biệt nhất. Ký cũng là một thể loại văn học phổ biến trong văn học Tây phương, nên tôi có nhiều phương tiện tra cứu hơn. Vì thế, xin nói trước về Ký.
 
Ký là tên gọi chung cho một nhóm thể tài chữ nghĩa văn xuôi nằm ở phần giao nhau giữa văn học và ngoài văn học, như báo chí, chính luận, ghi chép… Chủ yếu của Ký là ghi chép theo dạng tự sự, miêu tả nhiều hơn là phân tích nội tâm. Ký có nhiều thể loại: Hồi ký, Bút ký, Du ký, Ký sự, Phóng sự, Nhật ký, v.v…
 
Ký nói chung khác với Truyện ở chỗ Ký không đưa ra một xung động nội tại. Phần khai triển của tác phẩm chủ yếu mang tính miêu thuật. Đề tài và chủ đề Ký trình bày cũng khác, so với Truyện. Trong khi Truyện khai triển tính cách cá nhân con người (bằng cách xây dựng nhân vật) trong tương quan với hoàn cảnh và bối cảnh, thì Ký chỉ chú trọng đến chính bản thân môi trường, mà xem nhẹ tính cách của nhân vật (nếu có) trong đó.
 
Bởi thế, Ký chủ ý miêu tả tính cách xã hội hoặc dân tộc, nghiêng nhiều về mặt báo chí, chính luận, biểu thị bởi sự quan tâm mang tính thời sự, chính trị. Đặc điểm của Ký là tính tư liệu, tái hiện tính chính xác của sự kiện, của hiện tượng có thực; (Hồi ký chiến tranh Tháng ba gãy súng của nhà văn quá cố Cao Xuân Huy là một thí dụ.) Nội dung của Ký ở đây không hẳn chỉ có những miêu thuật khách quan, mà còn bao gồm những lý giải, đánh giá chủ quan, thậm chí tâm tình riêng của tác giả. Ở đây, Ký giao thoa với Truyện, và bởi thế, có thể xem những tác phẩm như vậy là Ký Văn học.
 
Bây giờ hãy thử nói đến Tùy bút.
 
Định nghĩa cơ bản của Tùy bút là một thể tài văn xuôi không đề tài nhất định, theo dòng cảm hứng mà viết, tùy hứng mà phóng bút. Nói chung là gặp gì viết nấy, nghĩ sao nói vậy, tự do tuyệt đối. Tiền tố “tùy,” tiếng Hán, có nghĩa là “theo,” “thuận theo,” như trong các chữ “tùy nghi,” “tùy cơ ứng biến,” “tùy thế,” v.v… Với định nghĩa này, nếu bạn ra đường đi bộ thấy một hòn đá tầm thường, về nhà viết một bài dài năm nghìn chữ về hòn đá, thì đó là một Tùy bút. (Kỳ thực, viết về một hòn đá mà thú vị, thu hút người đọc thì bạn là thiên tài văn chương chứ chẳng chơi đâu.) Ngoài ra, bạn có thể viết về tiếng ếch nhái, mùi hoa dạ lý, cái ngon của bát phở, mái tóc cô thiếu nữ thanh xuân, cặp đùi thon dài trắng muốt của cô hàng xóm người Mỹ nằm tắm nắng một ngày đầu Xuân, tật hay nhậu nhẹt của ông bạn họa sĩ dở hơi, thậm chí, tật nói nhiều của bà vợ trong nhà, v.v… Nó tựa như nghị luận mà không phải nghị luận, bởi nó tùy hứng và đầy cảm xúc chủ quan chứ không có tính cách biện biệt, phải trái hơn thua. Lô-gích của nó là một lô-gích phi-biện-luận, không cao kỳ, mà hấp dẫn, thân mật như câu chuyện tâm tình của hai người tri kỷ.
 
Vì đề tài phóng túng, tùy cảm hứng mà viết nên Tùy bút rất thích hợp với những tâm hồn văn chương yêu chuộng tự do, không thích cái cương tỏa của hàn lâm, cái chiết tỏa của giáo điều. Ví dụ như Nguyễn Tuân trước Cách mạng Tháng Tám. Cái “ngông” của Nguyễn Tuân đã khiến ông trở thành người viết Tùy bút hay Việt Nam trước 1945.
 
Nhưng phải đợi đến sau 1954 Tùy bút mới có cơ hội bung nở thành một nghệ thuật dưới ngòi bút tuyệt luân của nhà văn Võ Phiến. Theo tôi, chính ông Võ đã đẩy thể tài Tùy bút đến một cương vực nghệ thuật mới với tài nhận xét tinh tế, miêu thuật sắc bén, dùng chữ tài tình, đúng chỗ, hợp tình. Ngoài ra, giọng văn dí dỏm, nhẹ nhàng cũng khiến Tùy bút Võ Phiến chinh phục  biết bao triệu con tim người đọc Việt Nam.
 
Viết Tùy bút tưởng dễ mà không dễ, bởi nó không phải nơi cho bạn khoe kiến thức. Nó là mối giao cảm tuyệt hảo giữa bạn với sự vật; chỉ khi nào bạn đi vào linh hồn của sự vật thì lúc đó bạn mới có thể thành công trải lòng mình trên trang viết Tùy bút.
 
Suốt thời kỳ Trung đại, văn học Việt Nam chỉ có duy nhất một tập Tùy bút đáng ghi nhận là cuốn Vũ Trung Tùy Bút (Tùy bút trong mưa) của danh sĩ Phạm Đình Hổ [1768-1839].
 
Thế còn Tản văn?
 
Ý nghĩa nguyên thủy của Tản văn là “văn xuôi không có vần,” dịch từ la prose của Pháp hay prose của Anh. Cuốn Từ điển Việt Nam của cụ Lê Ngọc Trụ ghi, “Tản văn (danh từ): Văn xuôi, văn viết không cần ăn vần, cân đối, hay theo một khuôn khổ nào cả.” “Tản” còn là cách gọi thơ không vần, tự do, gần giống văn xuôi, không theo quy tắc thi pháp chặt chẽ nào. Cụm từ Prose Poem thường được dịch là thơ xuôi, hay “tản thi.” Thời cổ ở Trung quốc có một thể loại thơ gọi là “tản hành” với tính cách không hạn vần và niêm luật, tương tự thơ Tự do hay thơ Tân Hình thức ngày nay.
 
Nhà thơ Nguyễn-Hòa Trước có một tập thơ xuôi – prose poems – tuyệt vời, nhan đề (gửi) em, mùa xuân sơ sinh, do NXB Văn Học Press xuất bản năm 2018.
 
Nhà thơ Nguyễn Thị Khánh Minh cũng có một tập thơ tuyệt vời không kém, nhan đề Tản Văn Thi – có thể dịch là prose poems, cũng do NXB Văn Học Press xuất bản năm 2019.
 
Văn hào Alexander Solzhenitsyn, bên cạnh những tác phẩm tiểu thuyết nghìn trang nặng ký, cũng có một tập Prose Poems, xuất bản đầu thập niên 70.
 
Xem thế, cái gì không phải thơ nhưng cũng không phải văn thì người ta gọi là Tản văn? Người xưa xem trọng văn vần, xem thường văn xuôi, nên chữ “tản” hàm ngụ một ý nghĩa tiêu cực.
 
Tuy vậy, tôi nghĩ Tản văn, theo thời gian, ý nghĩa có biến đổi phần nào. Ngày nay người ta hiểu Tản văn như một thể tài văn xuôi nghiêng về Tùy bút nhưng phóng túng hơn, có quyền phóng bút “lạc đề” thoải mái, và có tính thơ. Yếu tính sau cùng có lẽ quan trọng hơn cả. Nói thế bởi tôi nghĩ đến hai cuốn tản văn Bóng bay gió ơiLang thang nghìn dặm của nhà thơ Nguyễn Thị Khánh Minh.
 
Trong bài “điểm sách” cuốn Bóng bay gió ơi, tôi viết như sau:
 
“Đọc cuốn tản văn Bóng bay gió ơi của Nguyễn Thị Khánh Minh, chúng ta nên đọc thật chậm. Như đọc thơ. Bởi đấy là thơ. Bởi chị viết văn như làm thơ, chữ nghĩa nuột nà tung tỏa, lôi cuốn như có bùa phép – hay bùa hương, chữ của chị – làm mê hoặc người đọc. Đọc chậm để có thể thẩm thấu tầng chữ nghĩa của văn chương và qua đó họa may chúng ta hòa nhập lên tầng cảm xúc và phần nào nhận ra tâm hồn của tác giả…”
 
Đó là câu chữ viết về một tập thơ chứ không phải văn xuôi.
 
Phân biệt giữa Tùy bút, Tản văn, và Ký, điều đó có lẽ không cần thiết lắm đâu, bạn ạ. Cái cần thiết cho chúng ta ngày nay là đôi lúc nên tạm quên cuộc sống bình nhật để tâm hồn lắng đọng, thả lỏng thần trí để thưởng thức nghe một khúc nhạc, ngắm nhìn một bức tranh, hay đọc một áng văn chương, bất kỳ thể tài nào, Truyện, Thơ, Ký, Tùy bút, hay Tản văn. Đó là ý nghĩa muôn đời của cuộc sống, xưa cũng như nay, đơn giản vô cùng mà sao chúng ta gần như quên lãng. 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Vậy là tác giả “Mật Đắng” của chúng ta đã trở thành góa bụa. Tôi không nghĩ trong đầu ông, trong tim ông, trong cõi lòng già nua héo úa của ông, có giây phút nào nghĩ đến rồi đây mình có thể thành “góa bụa”.
Sử truyện kể rằng ở nước Đại Việt vào thời Nhà Trần, có vị minh quân đã hai lần đánh bại đoàn quân viễn chinh hung hãn của Hốt Tất Liệt, người Mông Cổ sáng lập và cai trị nhà Nguyên ở Trung Hoa. Nhưng vị minh quân này đã không ở ngôi cửu trùng để tế thế an bang bằng con đường chính trị của bậc đế vương mà khoác áo nâu sòng xuất gia đầu Phật và sáng lập ra dòng Thiền Trúc Lâm để đem giáo pháp giác ngộ của Phật Đà giải khổ cho muôn vạn chúng sinh. Vị minh quân và tổ sư ấy chính là Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông. Ngài cũng là nhà thơ kiệt xuất để lại nhiều áng thơ văn trác tuyệt đóng góp cho nền văn học nước nhà. Hơn bảy thế kỷ sau khi Tổ Sư Trần Nhân Tông viên tịch, có một nhà thơ Việt ở gần tuổi ‘xưa nay hiếm’ (thất thập cổ lai hy) sống tha hương nơi xứ người mà tất dạ lúc nào cũng không rời cái nôi văn hóa và văn học của dòng giống Lạc Việt nên đã ngày đêm chuyên cần dịch thơ chữ Hán của Tổ Sư ra tiếng Việt để cho con cháu đời sau nhớ lấy di sản của tiền nhân.
Câu thơ cuối đối với tôi là câu thơ hay nhất "Rất hồn nhiên đụng cái mịt mù…" . Bỗng dưng làm tôi nhớ câu thơ hóm hỉnh của Mai Thảo "Đặt tay vào chỗ không thể đặt... Cười tủm còn thương chỗ đặt nào".
Hình ảnh chiếc thuyền không, ghếch mình lên cát chính là ẩn dụ “qua sông bỏ bè” được nói trong kinh Phật (2). Nhìn chiếc thuyền mà man mác hoài niệm cổ nhân một thời. Hoài niệm ở đây không phải là nỗi buồn thông thường của thế nhân. Chỉ là cảm khái về một hành trạng, một tâm thức xả ly siêu tuyệt tương ứng với sở hành sở đắc của tự thân.
Những ngày rộn ràng của Tết Tân Sửu đã qua. Nhưng dư hương của ngày Tết vẫn còn đâu đây, bởi vì theo truyền thống người Việt Nam ngày Rằm Tháng Giêng là Lễ Thượng Ngươn đi liền theo sau ngày Tết Nguyên Đán để cầu an cho mọi người và mọi nhà. Nói đến tục lệ ngày Tết của người dân Việt có liên quan đến ước nguyện cho một năm mới nhiều an lành và phúc lợi thì không thể không nói đến tục xin xăm, xin keo, bấm quẻ, xem số tử vi, v.v...Ngày đầu năm ở các chùa, các đình thờ hay tại những nơi có đông người tụ tập như các lễ hội Tết, chúng ta thường gặp hình ảnh những ông/bà thầy bói đội khăn đóng, đeo kính râm ngồi đâu đó để gieo quẻ coi bói cho thân chủ đầu năm, hoặc hình ảnh của những người thành tâm hai tay bưng ống đựng thẻ xăm lắt đều cho đến khi một thẻ xăm văng ra. Có người còn xem chữ ký, lật lá bài, hay xem tướng mặt và bàn tay để tiên đoán vận mệnh cát hung cho thân chủ hay cho người quen vào dịp đầu năm.Cũng trong dịp đầu năm, với tính cách quy củ và hàn lâm hơn, đâu đó không thiếu
Số là tôi có cái may từ nhỏ đã được nghe rất nhiều câu ca dao trong lời hát ru từ những người xung quanh từ dưới quê cho tới thị thành. Nghe riết rồi thuộc, rồi thấm hồi nào không hay, rồi lâu lâu lôi ra nghiền ngẫm: ‘sao ông bà mình hồi xưa hay vậy ta? Nói câu nào trúng câu đó!’
Có lẽ vì vậy mà một năm con chuột vừa qua có quá nhiều biến động và khủng hoảng, từ đại dịch vi khuẩn corona làm chết hơn 2 triệu người trên toàn thế giới đến vụ bầu cử tổng thống Hoa Kỳ tạo ra một thời kỳ ảo vọng và phân hóa trầm trọng trong lịch sử của Xứ Cờ Hoa. Đại dịch đã thay đổi tận gốc các phong tục tập quán và lối sống của con người. Ngày nay đi đâu cũng thấy mọi người đeo khẩu trang, đứng cách nhau hơn một mét rưỡi, ngần ngại khi đi gần người khác, tránh xa khi thấy người nào đó ho, nhảy mũi. Sinh hoạt kinh tế cũng đã có nhiều thay đổi. Các cơ sở thương mại đóng cửa quá lâu đã phải dẹp tiệm luôn. Đa phần con người chuộng mua hàng qua mạng, ít có người muốn đi mua sắm ở các thương xá như lúc trước, bằng chứng là ngày Thứ Sáu Đen (Black Friday) trong cuối tháng 11 năm 2020 số người đi mua sắm đã sút giảm đáng kể trong khi số người mua qua mạng đã tăng vọt. Sự sa sút của kinh tế đã làm cho ngày càng có nhiều người nghèo hơn, đói khổ hơn và do dó nhu cầu trợ giúp thực phẩm
Thấm thoát đã 45 mùa xuân lướt qua đời mình, từ ngày tôi bắt đầu chập chững những bước tị nạn trên xứ người. Ký ức mùa xuân của tôi như dòng sông chảy ngược về nguồn, lúc vun vút, khi chậm rãi luân lưu giữa chập chùng biển hồ dĩ vãng. Theo chân gia đình ra khỏi trại Pendleton thuộc Quận San Diego, tiểu bang California, tôi về định cư ở thành phố của Những Thiên Thần (Los Angeles)vào những ngày tháng cuối năm 1975. Mùa xuân Bính Thìn 1976 đầu tiên trên miền đất hứa Hoa Kỳ, bố tôi dẫn gia đình đến thăm ngôi chùa Việt Nam toạ lạc ở đường Berendo của thành phố này. Mẹ tôi là người hái những chiếc lá lộc non đầu năm để cầu nguyện cho gia đình và cuộc sống tương lai không biết sẽ ra sao trên vùng đất mới. Ngày ấy tôi chưa đủ trưởng thành để xao xác với niềm nhớ quê hay trằn trọc với những hoài vọng luyến thương canh cánh như bố mẹ tôi. Tôi chỉ biết dõi theo những khuôn mặt ưu tư trĩu nặng của khách dâng hương đang thành kính khấn vái trên chiếc chiếu cói trải trước Phật Đường. Từ đó Chùa Việ
Tôi không cần phải tìm kiếm một câu chuyện tình yêu hay nhất cho ngày Valentine ở nơi xa xôi nào cả. Câu chuyện ấy ở thật gần bên tôi và tôi đã được nhìn thấy mỗi ngày: ngay cả cái chết đã không bao giờ có thể chia cách mối thâm tình giữa Ông Nội và Bà Nội tôi. Kể từ sau khi ông mất, Bà vẫn thương nhớ Ông và đến bên bàn thờ tâm sự với Ông mỗi ngày.
Khi còn trẻ, ông đi về hướng tây để tới tiểu bang tự do Illinois. Vào ngày 27 tháng 1 năm 1838, bài diễn văn Lyceum của Abraham Lincoln đã đọc cho các học sinh trung học đệ nhất cấp của Springfield tại Illinois, và trong bài diễn văn ông đã nói đến chế độ nô lệ. Trước đó 7 tuần lễ, một đám đông người tại Illinois đã giết chết Ikijah Lovejoy, một mục sư giáo phái Presbyterian và là chủ bút của một tờ báo có quan điểm chống chế độ nô lệ mạnh mẽ. “Tâm trạng của người dân Illinois khi đám đông giận dữ giết chết Lovejoy là ủng hộ chế độ nô lệ, nhưng không phải chỉ có tại Illinois. Các nhà lập pháp tiểu bang của Connecticut và New York vào thập niên 1830s đã thông qua nhiều nghị quyết bắt đầu rằng chế độ nô lệ được chấp nhận trong Hiến Pháp Hoa Kỳ và rằng không có tiểu bang nào có quyền để can thiệp.” Chính Lincoln đã là một trong 6 Dân Biểu của Hạ Viện tại Illinois đã bỏ phiếu chống lại nghị quyết nói rằng “quyền sở hữu nô lệ là thiêng thiêng … (rằng) chúng tôi không đồng ý về việc