Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Thơ Đào Như: Chuyện Của 3 Người Lính

02/04/202009:44:00(Xem: 2446)


                                            blank


1- Người Chiến Binh Về Thăm Nhà

(Từ câu chuyện người bệnh nhân kể lại ‘chuyện nhà’ của anh ta) 


Cuộc chiến
 vừa tàn

Sau ba muơi năm 

Người chiến binh về thăm nhà…

 

Nói đi anh 

Sao anh đứng lặng yên như núi Cà Đú? (1)


Ngôi nhà xưa như ngôi mộ cổ 

Cột kèo xiêu vẹo, 

Mái ngói âm dương cỏ mọc rêu xanh.

Có những đêm mưa thật sâu 

Có những đêm đen vô cùng 

Đi qua căn nhà này

Đi qua cõi lòng của Mẹ…

Cha đã về nơi vĩnh hằng 

Mẹ còn ngồi đó đợi anh ba mươi năm…

Mẹ già, Mẹ lẫn…

Mẹ không còn nhìn ra anh nữa. 

Nghe tiếng anh mẹ sờ soạn… 

Mẹ khóc…


Anh ngước nhìn trời. 

Trời xanh thâm thẩm. 

Anh nhìn chung quanh cỏ cây vẫn vậy. 

PhanRang vẫn nghèo. 

Xóm Động vẫn buồn, như thuở anh đi…

Dừng chân với mẹ được vài ba ngày.

Anh tôi lại lên đường làm nghĩa vụ người lính


Cuối năm 80

Có người đến nhà cho hay

“Mẹ là Mẹ Liệt Sĩ ”

Con mẹ đã hy sinh tại chiến trường Campuchia

Mẹ kinh hãi 

Mẹ khóc

Đêm hôm đó, mẹ ngủ.

Giấc ngủ nghìn thu…


Từ đó anh tôi không còn về thăm nhà nữa,

Anh vĩnh viễn ở lại Campuchia


Anh đâu có hay, 

thằng em của anh,

vượt biên thuở ấy, 

bây giờ là

Một lão già mỏi mệt

Đang loay hoay sờ soạn 

tìm một chỗ nằm

Nơi lục địa xa xâm”../. 

(1)- Núi Cà Đú phía bắc thị xã PhanRang

2- Người Lính Vừa Đi Xa


Vô cùng thương tiếc Tướng Ngô Quang Trưởng


Đại bàng vừa gẫy cánh

22-Giêng-2007

Người lính khóa 4 Trừ bị Thủ Đức

Sau hơn ba mươi năm lưu vong ở Mỹ….

Anh từ chối mọi thứ huân chương

Anh từ chối mọi nghi lễ an táng

Ngay cả lá cờ phủ trên quan tài anh

Anh từ chối cả quá khứ

Quá khứ đau thương

Quá khứ sai lầm

Quá khứ phản bội

Anh muốn ra đi trong sự lãng quên

của lịch sử, của đất nước

Như lúc anh còn sống

Anh đã nhiều lần tự quên mình trong chén rượu…


Anh,

Người lính

Của Vùng I Chiến thuật

của núi rừng Trường Sơn bạt ngàn

của Đèo Cả- Hải vân

Sóng biển Thái Bình Dương gầm thét dưới chân anh

Hết rồi

Những tháng ngày bão tố

Bay trên vùng trời Trị Thiên

Mây trời Ai Lao…


Anh ra đi

Có tiếng sóng Phá Tam Giang tiễn đưa 

Gào thét gọi tên anh

Có người lính già ở tận quê nhà

Thắp nén hương khấn nguyện

Thầm gọi tên anh

Trong cõi âm u

Trong bóng tối của lịch sử…/.

 3-Đoản Khúc 304

Anh thăm nhà về. Anh nằm ngủ. Hai tay úp trên ngực. Giấc ngủ thanh thản. Nét mặt phong trần. Chị ngồi cạnh Anh. Chị khâu lại khuy áo- áo trận màu chàm, anh vừa mang về, sau gần 30 năm bỏ lại tại quê nhà. Chị vẫn còn ngửi thấy mùi mồ hôi của Anh. Chị cảm động áp áo vào lòng. Chị thổn thức.

Vâng, Chị đang ngồi bên cạnh anh đang ngủ. Sao Chị vẫn nhớ Anh. Chị nhớ Anh ở cuối trời xa…

Năm 64 vừa tốt nghiệp quân trường Thủ Đức, Anh được ném vào trận Bình Giã. Những ngày đó biết bao là thử thách, xót thương. Chị quay quắt nhớ thương chồng. Rủi ro người không về thì sao?

Nhưng là trai thời loạn, Anh vẫn hiên ngang, vượt muôn ngàn sóng gió. Với chiếc áo trận này, Anh lội suối băng ngàn, những năm tháng ở Đồng Tháp Mười, U Minh Thượng, U Minh Hạ, Tết Mậu Thân ở Huế, A Sầu, A Lưới, Khe Sanh, Mùa Hè Đỏ Lửa ở An Lộc, Đại Lộ Tử Thần, Cỗ Thành Quảng Trị. Trong chiến dịch Lam Sơn 719, với chiếc áo trân này Anh dẫn các toán viễn-thám vào tận Tchépone…

Những lúc ấy, Chị biết rõ nỗi lo canh cánh bên lòng anh là Chị. người vợ ở hậu phương. Những thư Anh viết cho chị từ KBC, những thư viết trên thùng đạn, những bức thư tràn đầy yêu thương, không có màu khói lửa chiến tranh, không có chết chóc hận thù. Đối với Anh đời chiến binh thắng bại là chuyện thường. Điều quan trọng là ta có thể làm gì cho lịch sử?


Sau 30-4-75 Anh trở lại vùng binh lửa Anh đã từng đi qua với thân phận người tù cãi tạo. Những địa  danh An Dưỡng, Suối Máu, Kà Tum, Bù Gia Mập, Vườn Đào, Phú Quốc, Chí Hòa, Đồng Tháp, Lý Bá Sơ, Cổng Trời, Bắc Thái, Hoàng Liên Sơn, Lào Kai….Những trại tập trung, những nhà tù cãi tạo, khi nhắc đến đau lòng cho những ai yêu nước. Hơn 10 năm trong lao tù cãi tạo, những ngộ nhận, nhầm lẫn, những hận thù phi lý…không ngừng đổ xuống trên thân phận của muôn vàn chàng trai yêu nước. 

Chị ôm chiếc áo, siết chặt vào lòng, Chị nức nở.

Anh giật mình, thức giấc:

Ồ! Em làm gì vậy? Chiếc áo ấy cũ xưa quá rồi. Em khâu lại làm gì. Thời thế đã thay đổi rồi. Không còn ai muốn mặc những cái áo nặng nề như vậy nữa đâu.


Chị vẫn cúi xuống yên lặng

Anh đến ngồi bên chị

Em khóc!

Anh ôm vai chị

Anh thều thào:

Chiến tranh mà em…

Dù sao nó cũng qua rồi…/.


Đào Như

Upgraded lần cuối July-2016 

  

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
"Không Đứng Mãi Trong Tranh" - Lê Chiều Giang, Nhân Ảnh xuất bản / Lời tựa: Nguyễn thị Thụy Vũ / Được phát hành qua Amazon, link mua sách: https://www.amazon.com/dp/1990434193 Hoặc liên lạc tác giả tranh55@gmail.com
Thơ ba dòng là một thứ “hố đen” trong vũ trụ thơ. Đó là thứ “thơ còn lại” sau khi thiêu rụi những rườm rà, những quy cách, những lối mòn của những đường lối thơ đã trở nên chán ngắt mà, trong đó, nổi bật nhất, là sự mượt mà du dương của chủ nghĩa lãng mạn. Thơ ba dòng, do đó, là thơ để nghĩ hơn là để ngân nga như những nhạc điệu êm tai và, trong tương tác với người đọc, như là một thứ thơ đã nén chặt, nó sẽ bùng nổ theo những liên tưởng và suy tưởng không ngờ.
Thanh âm một cõi Sa Bà / Ba ngàn thế giới cũng là tại tâm / Nước non chung một cung trầm / Máu sa lệ sót những lầm than đau
Mối tình đầu đã giết dì tôi / như người ta giết bông hoa / cắm lên bàn thờ / héo hon tháng ngày còn lại. / Dì tôi yêu thích và buồn theo tiếng hát / “Đồi Thông Hai Mộ” / Như thể mối tình trong ca khúc này / là tâm sự của dì tôi.
nguyên thủy là kêu gọi trở về / nơi cánh đồng của những trong lành tươi mát / chưa nảy sinh những dị biệt / chân đi trên phù sa / ướt những tấm lòng xanh ngát bao la
một ngày trôi giạt theo sóng vào bờ / một ngày quấn quýt từng bước chân trần / tuổi trẻ bềnh bồng không định hướng / một ngày câm nín xao động ôm trái tim mình / bay cao ngang ngửa trên ngọn cây mộc lan / trập trùng những nụ búp xanh tươi mơn mởn
Tập thơ thứ 11: “Đời Sống Làng Quê” ấn hành năm 2009. Được xem như một khúc quanh trong sự nghiệp thi ca của Louise Gluck. Khác hẳn với tập “Hoa Diên Vĩ Hoang Dại”, 1992, với nội dung siêu hình và siêu nhiên, đã tạo cho bà nhiều danh vọng. 1. “A Village Life” mang đến cho độc giả những cảm xúc thâm trầm về tâm sinh lý của cá nhân và xã hội. Một loại xã hội thực tế, dùng lám ẩn dụ, tuy hiện diện nhưng gần như bị lãng quên bởi đời sống phố thị rộn ràng nhốn nháo. Những mẫu chuyện ngắn thật ngắn, nhỏ thật nhỏ, đôi khi phức tạp, ly kỳ. Đa số bình thường với những nhận xét tinh tế:
Đàn ông biết được phụ nữ bao nhiêu? Tôi dùng chữ “biết”, không phải ý chữ “hiểu”. Tôi không dùng chữ “đàn bà” vì e rằng thiếu kính trọng. Tôi lấy vợ đã gần nửa thế kỷ. Đã bắt tay, chào hỏi vài ngàn phụ nữ và nhìn ngắm họ qua trăm ngàn vóc dáng khi du hành nhiều nơi trên thế giới, nếu tính luôn trên truyền hình, qua video, con số có thể lên hàng triệu. Nói như vậy, bạn đọc có thể lầm tưởng tôi là người có bản lãnh biết về phụ nữ, thực tế, như Louis de Bernières đã nói: “Đường lối phụ nữ chinh phục trái tim đàn ông là khiến cho anh ta tưởng bở đang làm cô thích thú.” (“That's how a woman wins a man heart, by making him think that he amuses her.)
điều nguyên vẹn nhất / vẫn nằm im trong tim / ngày mùa thu nhớ dòng sông / nấm đất buồn tênh bên lở bên bồi / quăng viên sỏi trắng cạnh chiếc cầu run rẩy / bàn tay nào níu giữ / bạn bè và tình nhân / ngẩn ngơ năm ba lời tiếc nuối / con chim non hót mấy tiếng cội nguồn
Thế giới giờ này người né người! / Ngồi trên xe bus gắn máy lạnh, hoặc xe bò cọc cạch lăn bánh, / người ngồi xa người, khoảng cách an toàn, một thước rưỡi. / Anh xa tôi! Tôi xa em! Ta xa nhau! Đúng 2 thước. / Giờ này đôi ta hôn nhau nụ hôn gió qua khẩu trang! / Ai đó lỡ miệng ách-xì một, hoặc hai tiếng, hoặc một tràng; / Hết rồi những ánh mắt ái ngại, / những lời nói cảm thông, “God bless,” hoặc “Trời, Phật, Chúa chữa!”