Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
EagleBrand-Vietbao-1230x152-12042022-viet

Tại Sao Thiền Chánh Niệm Có Nhiều Lợi Lạc Về Sức Khỏe Tinh Thần

06/03/202000:00:00(Xem: 3876)

THIEN CHANH NIEM 01
Một buổi dạy của José Ramon Yela về Thiền Chánh Niệm.(nguồn: www.medicalxpress.com )

 

Trong vài thập niên qua, thiền chánh niệm đã trở nên ngày càng phổ biến, đặc biệt như là phương thức để giảm căng thẳng hay lo lắng và có được cảm nhận cuộc sống hạnh phúc lớn hơn, theo Ingrid Fadelli, trong bài viết “Exploring why mindfulness meditation has positive mental health outcomes” [Khám phá tại sao thiền chánh niệm có nhiều kết quả sức khỏe tinh thần tích cực] được đăng trên trang mạng Medical Xpress, hôm 17 tháng 2 năm 2020.

Trong khi nhiều nghiên cứu dựa trên kinh nghiệm khẳng định rằng thiền thông thường, đặc biệt thiền chánh niệm, có thể có nhiều lợi ích lên sức khỏe tâm thần con người, cho đến nay có rất ít người biết về các cơ chế củng cố những hiệu quả này.

Các nhà nghiên cứu tại Đại Học Pontifical University of Salamanca ở Tây Ban Nha gần đây đã thực hiện một nghiên cứu nhằm mục đích khám phá một số lý do tại sao thiền chánh niệm có thể cải thiện sức khỏe tâm lý và cuộc sống hạnh phúc của con người. Tác phẩm của họ, được đăng trong Tạp Chí Clinical Psychology, thừa nhận 3 yếu tố chính có thể liên kết với các lợi ích sức khỏe tâm thần của việc thực tập chánh niệm.

“Nghiên cứu của chúng tôi khởi sinh từ nhu cầu xác nhận tại sao thiền có thể tạo ra các ảnh hưởng tâm lý tích cực,” theo José Ramon Yela, lãnh đạo nhóm nghiên cứu, nói với MedicalXpress. “Sau khi xem xét một vài đóng góp của nghiên cứu trước đây về chủ đề này, chúng tôi đề xuất 3 yếu tố có thể đóng vai trò quan trọng: khả năng tự thương yêu mình; kinh nghiệm đời sống có ý nghĩa – đó là, có những điều giá trị và quan trọng trong cuộc sống và những mục tiêu giá trị để theo đuổi; và cuối cùng, giảm mức độ mà một người tránh những suy nghĩ, cảm xúc hoặc kinh nghiệm có thể gây khó chịu nhưng là một phần của cuộc sống của anh /cô ấy.”

Trong tác phẩm của họ, Yela và các đồng nghiệp của ông xây dựng các nghiên cứu trước đây bằng việc điều tra các cơ chế bên sau thiền chánh niệm, gồm việc điều tra quá khứ của chính họ và nghiên cứu được thực hiện trong vài năm qua bởi nhóm nghiên cứu tại Đại Học New Mexico. Nó cũng tạo cảm hứng từ tác phẩm của nhà tâm lý Kristin Neff và Christopher Germer, tập trung vào chương trình gọi là Mindful Self-Compassion [Tự Thương Yêu Chánh Niệm].

Thêm vào với việc xác nhận 3 yếu tố có thể làm nền tảng cho các ảnh hưởng tích cực của thiền chánh niệm, Yela và các đồng nghiệp của ông giả thuyết về sự hiện hữu của một cơ chế tuần tự cụ thể mở ra mọi lúc. Đặc biệt hơn, họ đề xuất rằng việc thực hành thiền chánh niệm trên nền tảng thông thường có thể gia tăng mức độ của sự tự thương yêu mình, dẫn tới làm cho cuộc sống cảm thấy có ý nghĩa hơn, cuối cùng thúc đẩy con người thực hành thiền trở nên dấn thân nhiều hơn vào cuộc sống, như giảm bớt sự tránh né của họ đối với các kinh nghiệm hài lòng và thách thức.

“Thương yêu chính mình là đặc biệt quan trọng khi con người trải qua giai đoạn khó khăn trong cuộc sống,” theo Yela giải thích. “Trong ý nghĩa này, thật là quan trọng để làm rõ ý nghĩa của sự yêu thương chính mình, gồm 3 thành tố.”

Trong tác phẩm của họ, Yela và các đồng viện của ông định nghĩa thương yêu chính mình như là khả năng tử tế của một người dành cho chính họ hơn là sự khe khắc hay tự chỉ trích, trong khi cũng thừa nhận rằng sự đau khổ, đau đớn và khó khăn là chung cho bản tính con người của chúng ta thay vì cảm thấy xa lạ hay kỳ lạ. Thành tố quan trọng thứ ba đòi hỏi khả năng tỉnh thức một cách chánh niệm về các kinh nghiệm bên trong có khả năng gây khó chịu, như những ý tưởng phiền muộn, các cảm giác tiêu cực hay giận dữ, thay vì nhận định thái quá về những kinh nghiệm này.

Trong tác phẩm của họ, Yela và các đồng viện của ông đã kết hợp vài phương pháp nghiên cứu khác nhau. Trước hết, họ yêu cầu những người tham gia trả lời các thăm dò được đưa ra để trắc lượng 3 yếu tố mà nghiên cứu của họ tập trung vào. Sau đó, họ cố gắng khám phá mối quan hệ giữa những yếu tố này và kết hợp chúng vào một mô hình thử nghiệm bằng kinh nghiệm.



THIEN CHANH NIEM 02
Thực tập Thiền thường xuyên.



“Loại nghiên cứu này rất thú vị bởi vì chúng tôi có thể thu thập các tài liệu từ những mẫu rất lớn và phân tích vai trò mà nhiều yếu tố có thể đóng liên quan đến sức khỏe tinh thần và hạnh phúc tâm lý,” theo Yela cho biết. “Tuy nhiên, có một số hạn chế, như thực tế là rất phức tạp để đưa ra những quy kết nguyên nhân liên quan đến các mối quan hệ trong số các yếu tố. Vì lý do này, chúng tôi cũng đang thực hiện nghiên cứu dài hạn.”

Để trắc nghiệm giả thuyết của họ, các nhà nghiên cứu đã đặt câu hỏi với 414 người thực tập thiền và 414 người không thực hành thiền để trả lời những câu hỏi được đưa ra để đo lường các mức độ của họ về sức khỏe tinh thần, sự thương yêu chính mình và lẩn tránh kinh nghiệm tiêu cực, cũng như họ cảm thấy cuộc sống có ý nghĩa nhiều như thế nào. Rồi họ phân tích các tài liệu mà họ đã thu thập, so sánh những trả lời của những người hành thiền với các trả lời của những người không thực hành thiền.

“Chúng tôi tập trung vào những người đã nhận các huấn luyện chánh niệm hay chánh niệm và thương yêu chính mình và phân tích các thông số tâm lý khác nhau (thí dụ, sức khỏe tinh thần, lo lắng, trầm cảm, v.v…) và các cơ chế giải thích tiềm năng thay đổi mọi lúc như kết quả của việc huấn luyện như thế,” theo Yela giải thích.

Các phân tích được thực hiện bởi những nhà nghiên cứu mang lại nhiều kết quả thích thú. Trước hết, Yela và các đồng viện cho thấy rằng sự thương yêu chính mình, sự hiện hữu của ý nghĩa trong cuộc sống và việc lẩn tránh kinh nghiệm đã giảm có thể tất cả đều liên kết với những thành quả lợi ích của thiền chánh niệm.

Cụ thể hơn, những quan sát của họ cho thấy rằng việc thực tập thiền chánh niệm liên tục khuyến khích yêu thương chính mình, giúp con người tìm ra ý nghĩa vĩ đại trong cuộc sống, nhưng cũng giảm khuynh hướng lẩn tránh hay trốn chạy khỏi các tư tưởng buồn phiền hay các cảm giác gây đau đớn, đau khổ hay không hài lòng. Tổng hợp, 3 yếu tố này có thể dẫn tới các cải thiện trong cuộc sống hạnh phúc và sức khỏe tinh thần.

“Nói chung, chúng tôi nêu bật sự liên quan của việc đối xử tốt với chính mình, đối xử với chính mình một cách từ bi, nhận ra những gì có giá trị trong cuộc sống và tiến về phía trước dù cuộc sống không phải lúc nào cũng như nó là,” theo Yela nói như thế. “Một kết quả quan trọng khác của nghiên cứu liên quan đến sự cam kết với việc thực hành thiền.”

Cộng thêm với việc soi sáng một số lý do tại sao thiền chánh niệm có thể rất hữu ích, các phát hiện được thu thập bởi nhóm các nhà nghiên cứu này nêu bật các lợi lạc của việc hành thiền đều đặn. Yela và các đồng nghiệp của ông cho thấy rằng đối với thiền để được liên kết với các hiệu quả tích cực thì phải thực tập đều đặn thường xuyên, là phù hợp với các kết quả thực nghiệm trước đó. Khi thiền chỉ được thực hành trên cơ bản không thường xuyên, thì ngược lại, ảnh hưởng của nó có thể quá nhỏ hoặc thực tế thậm chí có thể trở thành một hình thức lẩn tránh kinh nghiệm trong chính nó.

Hiện nay các nhà nghiên cứu đang thực hiện thêm nghiên cứu nhắm vào việc công khai các cơ chế khác mà có thể làm trung cho mối quan hệ giữa chánh niệm và sống hạnh phúc về tâm lý. Hơn nữa, họ đang đánh giá hiệu quả của một số phương pháp trị liệu và thể thức được đặt ra để khuyến khích chánh niệm và sự thương yêu chính mình, gồm các chương trình Mindfulness Self-Compassion (MSC) và Mindfulness Based Stress Reduction (MBSR).

“Chúng tôi cũng đang có kế hoạch nghiên cứu về các hiệu quả của sự thực hành thương yêu chính mình trên một số thông số tâm lý, sức khỏe và sinh học,” theo Yela cho biết. “Trong dự án này, chúng tôi sẽ theo dõi trong 3 năm những người bắt đầu thực tập thương yêu chính mình và so sánh họ với những người đã thực hành thiền lâu năm.”

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Cơ Quan Kiểm Soát Thực Dược Phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã chuẩn thuận loại thuốc điều trị đầu tiên có khả năng trì hoãn – có thể trong nhiều năm – sự khởi phát của bệnh tiểu đường Loại 1, một căn bệnh thường xuất hiện ở thanh thiếu niên.
Nước Mỹ có vấn đề về uống rượu. Theo nghiên cứu mới của Trung tâm Kiểm soát và Phòng Ngừa Dịch Bệnh (CDC), việc tiêu thụ rượu quá mức đã góp phần gây ra ước tính một phần tám số ca tử vong, hay12.9 phần trăm trên tổng số người Mỹ từ 20 đến 64 tuổi. Uống quá nhiều rượu cũng là nguyên nhân gây ra 1/5 số ca tử vong - 20,3% - ở người Mỹ từ 20 đến 49 tuổi, theo nghiên cứu được công bố vào tuần trước trên tạp chí JAMA Network Open.
Vắn tắt, người càng lớn tuổi, số lượng tế bào thần kinh giảm và khả năng về tâm trí sẽ giảm đi. Một số triệu chứng nhẹ như hay quên, hay lẫn lộn có thể chấp nhận như là sự lão hoá bình thường. Khi các triệu chứng này gia tăng, tiến triển đến mức ảnh hưởng đến cuộc sống thường nhật, lúc đó người ta dùng từ "dementia" hay "mất trí" theo nghĩa đen, hay bịnh lẫn. Có nhiều nguyên nhân cho dementia. Bịnh Alzheimer là nguyên nhân của phần lớn người mắc dementia. Một số nguyên nhân dementia chữa được, chưa có thuốc thay đổi được bịnh Alzheimer (disease-modifying drugs), chỉ có những thuốc giúp giảm triệu chứng thôi (symptomatic treatment).
Các Telomere* đóng một vai trò thiết yếu trong việc xác định số lần một tế bào có thể phân chia. Telomere là 1 đoạn DNA có trình tự (TTAGGG) lặp lại nhiều lần ở đầu mỗi nhiễm sắc thể, có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ phân tử DNA khỏi các tác động gây hại và sự mất ổn định của hệ genome. Trong chu trình của một tế bào bình thường, quá trình phân bào sẽ khiến cho một phần của telomere bị mất đi. Khi độ dài của telomere đạt tới mức giới hạn thì tế bào sẽ tự chết theo chương trình (apotosis**). Do vậy, độ dài của telomere có thể coi như chiếc đồng hồ sinh học để xác định “tuổi thọ” của tế bào và các cơ quan.
Mùa đông đang đến rất nhanh và thời tiết lạnh hơn, điều quan trọng hơn bao giờ hết là quý vị phải tiêm vắc-xin và liều tăng cường chống lại COVID-19 cho bản thân và gia đình. Đối với những người từ 65 tuổi trở lên, việc tiêm liều tăng cường COVID-19 loại cập nhật là cực kỳ quan trọng vì nguy cơ mắc bệnh nặng do COVID-19 tăng lên theo tuổi tác.
Việc các bác sĩ có thể nhìn xuyên thấu bên trong cơ thể bệnh nhân mà không cần phải rạch một đường nào từng là một khái niệm thần kỳ. Cho đến nay, hình ảnh y tế (medical imaging) trong khoa quang tuyến đã trải qua một chặng đường dài, và các kỹ thuật mới nhất dựa vào trí tuệ nhân tạo (AI) sẽ còn tiến xa hơn nữa: chúng khai thác khả năng tính toán khổng lồ của AI và khả năng học hỏi vô giới hạn để tận dụng triệt để các phương pháp dò chụp trên cơ thể, tìm ra những điều khác thường mà mắt người có thể bỏ sót.
Hội đồng Nobel tại Viện Karolinska ngày 3/10/22 đã quyết định trao Giải Nobel Sinh lý học hoặc Y học năm 2022 cho Svante Pääbo vì những khám phá của ông liên quan đến bộ gen của những hominin (cũng thuộc giống người, tương tự như “người khôn” [homo sapiens] chúng ta hiện nay) đã tuyệt chủng và sự tiến hóa của loài người. Svante Pääbo sinh ngày 20 tháng 4 năm 1955 tại Stockholm, Thụy Điển. Mẹ của ông là nhà hóa học người Estonia Karin Pääbo (1925–2013), từng trốn thoát khỏi Estonia bị Liên Xô xâm lược vào năm 1944 và đến Thụy Điển tị nạn trong Thế chiến thứ hai. Ông là con ngoại hôn của nhà hóa sinh người Thụy Điển Sune Bergström (1916-2004), và cha ông cũng từng được giải Nobel về Sinh lý học hoặc Y học (năm 1982).
Tại văn phòng VM Clinic tọa lạc số 8251 Westminster Blvd, Westminster CA 92683 (phòng mạch BS. Chính mai và BS. Thảo Võ.), vào lúc 8 giờ sáng Chủ Nhật ngày 30 tháng 10 năm 2022, VM CLINIC COMMUNITY WALK 2022 đã tổ chức chương trình đi bộ “Sức Khỏe Cho Cả Nhà.” Chương trình đi bộ còn có sự hợp tác của một số các đơn vị y tế như Hội Ung Thư Việt Mỹ, OC Autism Foundation, Lavina Pharmacy, Excel Rehab and Wellness, SJVRC (San Jose Vietnamese Running Club), Regal Medical Group, ADOC, Lakeside, Physical Therapy, Hội Bảo Vệ Sức Khỏe Tâm Thần, v.v…
Phát hiện ung thư từ sớm, trước khi nó di căn, có thể là vấn đề sống còn. Đây là lý do tại sao các bác sĩ khuyên chúng ta nên thường xuyên truy tầm một số loại ung thư phổ biến bằng nhiều phương pháp khác nhau. Ví dụ: nội soi đại tràng để tầm soát ung thư ruột kết, hay chụp nhũ ảnh để truy tầm ung thư vú. Dù quan trọng, nhưng cũng khó để có thể làm tất cả các xét nghiệm, bởi vì chúng tốn kém và đôi khi còn khiến bệnh nhân khó chịu. Nhưng mọi chuyện sẽ khác nếu có một xét nghiệm máu duy nhất có thể truy tầm được hầu hết các loại ung thư phổ biến cùng lúc. Đây là tương lai đầy hứa hẹn của các xét nghiệm phát hiện sớm đa ung thư (multicancer early detection tests – MCED). Năm nay, Tổng thống Joe Biden đã xác định việc phát triển các xét nghiệm MCED là một ưu tiên của Cancer Moonshot, nỗ lực liên bang trị giá 1.8 tỷ đô la nhằm giảm tỷ lệ tử vong do ung thư và cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau ung thư cũng như đang sống chung với b
Ngày 14 tháng 9, 2022, Tổng Giám đốc WHO, Tedros Adhanom Ghebreyesus tuyên bố thế giới chưa bao giờ ở trong tình trạng tốt hơn để chấm dứt đại dịch COVID-19 và kêu gọi các quốc gia tiếp tục nỗ lực chống lại loại virus đã giết chết hơn sáu triệu người. Tuy nhiên, ông nói: “Chúng ta vẫn chưa đến đó”. Đây được xem là nhận xét lạc quan nhất từ cơ quan Liên Hiệp Quốc kể từ khi WHO tuyên bố COVID-19 là tình trạng khẩn cấp quốc tế và gọi virus này là đại dịch vào tháng 3 năm 2020 (VOA).
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.