Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Mừng 20 Năm Viện Việt Học, In 30 Bản Tuồng Kim Vân Kiều, Bản Miền Nam

17/01/202008:51:00(Xem: 2709)

 

Mừng 20 Năm Viện Việt Học, In 30 Bản

Tuồng Kim Vân Kiều, Bản Miền Nam
 

Phan Tấn Hải
 

Một di sản văn hóa độc đáo của dân tộc Việt Nam vừa được Viện Việt Học trình bày trước công chúng:  ấn hành tác phẩm “Tuồng Kim Vân Kiều: Truyện Kiều ở Nam Kỳ Lục Tỉnh” (Hồi 1/3) vừa được Giáo sư Nguyễn Văn Sâm phiên âm và giới thiệu. Dự kiến cuối năm 2020 sẽ ấn hành bản đầy đủ ba hồi.

 

 blank

GS Nguyễn Văn Sâm và phu nhân (tức nhà văn Trần Ngọc Ánh) hôm 16/1/2019 và các ấn bản đặc biệt Tuổng Kim Vân Kiều bản Miền Nam.

 

Sách này lần đầu ấn hành, với lời giải thích:
 

Bản in nhân kỷ niệm 20 năm thành lập và hoạt động của Viện Việt Học, CA, USA.

Ngày Jan. 11-2020. Sách chỉ được in 30 ấn bản dành cho người quý sách. NVS.”
 

Sách gồm 2 phần: phần thứ nhất dài 96 trang, là phần phiên âm và ghi chú; phần thứ hai là nguyên bản tuồng Kiều bằng chữ Nôm, là hình scan lại các trang cổ bản Nôm.
 

Điểm ghi nhận đầu tiên, trong khi Truyện Kiều của Nguyễn Du là thơ lục bát, bản tuồng Kim Vân Kiều viết theo thể phú, số lượng chữ biến hóa đa dạng, có câu 2 chữ, có câu 5 chữ, có câu 6 chữ, có câu 7 chữ, có khi thơ lục bát… Bởi vì Tuồng Kim Vân Kiều được soạn để trình diễn trên sân khấu tuồng.

Ngôn phong “Tuồng Kim Vân Kiều” mang nhiều hình ảnh và điển tích cổ, có vẻ như đối tượng khán giả và độc giả của vở tuồng là giới trí thức xưa (tức các cụ Nho sĩ hoặc Nho sinh). Những điển tích cổ hiện ra ngay ở trang đầu vở tuồng, với phần “Giáo đầu: Kim Trọng nghe chuyện nhà họ Vương”…

Trích những dòng đầu:
 

Giáo đầu:

Đền Nghiêu chầu thái phụng,

Sông Hạ ứng thần quy.

Chúa chắp tay gặp vận vô vi,

Dân vỗ bụng vui lòng bất thức.

Sanh gặp Minh triều ngự cực.

Mỗ nay Kim Trọng biểu danh.

Dòng Nho nối dấu trâm anh,

Đạo tháng vui nghề hàn mặc.” (ngưng trích)
 

Ghi nhận rằng trong phần “Vào Đề” nơi đầu sách, Giáo sư Nguyễn Văn Sâm ghi rằng học giới trước 1975 biết nhiều tới một vở tuồng Kim Vân Kiều có tựa là “Phong Tình Lục Thúy Kiều Thực Sự” dày 237 trang, gồm ba hồi, từ cổ bản do Thư Viện Hoàng Gia Anh Quốc tặng Phủ Quốc Vụ Khanh VNCH dưới thời cụ Mai Thọ Truyền.

Vở tuồng đó, theo GS Nguyễn Văn Sâm, có thể do Nho sĩ Miền Bắc viết vì có nhiều từ ngữ riêng của Miền Bắc mà không gặp các từ ngữ đặc biệt của Nam Bộ. Tuồng đó thuộc về tuồng văn, nhiều lời và hình như chưa bao giờ được trình diễn.
 

GS Nguyễn Văn Sâm viết về cổ bản khác, vở tuổng rất mực Nam Kỳ Lục Tỉnh được ấn hành năm 2020 do ông phiên âm và giới thiệu:

Bản mà tôi dùng để phiên chuyển đây là một bản khác, một bản Kiều Nôm Nam do nho sĩ Nam kỳ viết ra. Nguyên bản còn tồn tại đến ngày nay, và do một gia đình cố cựu ở An Giang tặng Viện Đại Học An Giang thập niên đầu thế kỷ 21. Bút tích trên trang bìa tập sách cho biết người viết bản chữ Nôm là ông Cao Đĩnh Hưng, năm 1948. Không biết đây có phải là tên tác giả hay tên người sao chép.” (hết trích)
 

Do vậy, do các nhà Nho Nam Kỳ sáng tác, ngôn phong rất mực Nam bộ, và có những đoạn cho thấy thể văn tuồng này là ông bà tổ tiên của thể loại cải lương trên sân khấu sau này.
 

Thí dụ, trong sách “Tuổng Kim Vân Kiều ở Miền Nam” của GS Nguyễn Văn Sâm, nơi trang 54, cho thấy có vẻ như là ngôn phong sơ thời cải lương, trích lời Sai Nha (tức, cán bộ, quan chức):
 

Quân bây!

Truyền quân đem gã tới,

Cứ việc đặng mỗ tra,

Lời cung ngôn hễ có nói ra,

Thời:

Đều sao khẩu cứ mà biên lấy nghe a!

Lão kia!

Tuổi tác đà được mấy.

Con cái có bao nhiêu?

Chàng rể ít hay nhiều,

Nàng dâu nhiều hay ít?

Nhà đặng mấy thằng phục dịch?

Cửa nuôi mấy đứa a hoàn?

Ngày tháng nào trữ lấy của gian?

Đảng khỏa ấy bao nhiêu kẻ cướp?

Ta nay phụng phép,

Đâu có lẽ tây hay mần răng?

Ấy!

Nhà gã khá phân ngay,

Đừng kiếm điều nói vạy mà khốn giờ!” (hết trích)
 

Tác phẩm tuồng này hiển nhiên là một di sản văn hóa lớn. Nơi đây mở ra nhiều lĩnh vực cho các nhà nghiên cứu tìm hiểu về ngôn ngữ và thể văn tuồng trong thời đầu thế kỷ 19 và cuối thế kỷ 20 tại Nam Kỳ Lục Tỉnh. Một công trình vô giá vậy.
 

Sau đây là trích tiểu sử GS Nguyễn Văn Sâm từ trang nhà Viện Việt Học: Sanh tại Sài gòn, 1940. Từng dạy ở trường Nguyễn Đình Chiểu, Mỹ Tho, Pétrus Ký, Đại Học Văn Khoa (Sài gòn) và các trường Đại Học Vạn Hạnh, Cao Đài, Hoà Hảo, Cần Thơ.
 

Sang Mỹ từ năm 1979, vẫn sống bằng nghề dạy học. Viết cho Văn, Văn Học và các tạp chí Việt ngữ của người Việt.
 

Trước 1975 chuyên viết về biên khảo văn học. Đã in: Văn Học Nam Hà (1971, 1973), Văn Chương Tranh Đấu Miền Nam (1969), Văn Chương Nam Bộ và Cuộc Kháng Pháp (1972).
 

Qua Mỹ viết truyện ngắn vì những thôi thúc phải nói lên sự suy nghĩ của mình về quê hương và thân phận người Việt, ngay trên quê hương, hay lạc loài tha hương.
 

Đã in ở Mỹ: Câu Hò Vân Tiên (1985), Ngày Tháng Bồng Bềnh (1987), Khói Sóng Trên Sông (2000).
 

Gần đây, trở về gia tài cổ của dân tộc bằng cách phiên âm các tuồng hát bội, truyện thơ viết bằng chữ Nôm chưa từng được phiên âm mà nguyên bản hiện còn đang nằm trong các thư viện lớn ở Âu Châu: Tam Quốc Diễn Nghĩa, Lôi Phong Tháp, Sơn Hậu Diễn Truyện, Trương Ngáo v.v...
 

Thành viên Ban Biên Tập Tự Điển Chữ Nôm Trích Dẫn. Trưởng ban Văn chương, Viện Việt-Học. Hiện cư ngụ tại California, Hoa Kỳ.
 

Vì chỉ có 30 ấn bản, những người muốn tìm đọc có thể liên lạc tới

Nguyễn Văn Sâm: samnguyen20002002@yahoo.com  hay phone: 714-332-9086.

 



 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Tôi mang máng nhớ đó là một câu trong bài hát nào đó của nhạc sĩ Tuấn Khanh. Trí nhớ tôi kém rồi, xin lỗi tác giả, tôi chỉ muốn vay mượn một câu đó thôi. Đúng ra là tôi chỉ muốn dùng hai cụm từ “một chiều đông” và “thuyền lênh đênh cập bến” là đủ, là vang dội trong lòng, trong tâm thức, là thuyền không đi nữa và đáo bỉ ngạn. Người đã sang bờ bên kia rồi, Người đã lên thuyền bát nhã và cập bến Như Lai...
Tác giả của bài thơ là Tamura Ryuichi (1923-1998). Ông họ Điền Thôn, tên Long Nhất. Tôi gọi ông là Thanh Tâm Tuyền của Nhật Bản vì mấy lý do khác nhau...
Ngoài trời gió nhè nhẹ thổi, những chiếc lá mùa thu đang lãng đãng rơi rơi. Cái lành lạnh của gió heo may bên ngoài như đang hòa nhịp thở với những điệu nhạc “tiền chiến” mà tôi đang thưởng thức trong phòng đọc sách, một căn phòng đầy ấm cúng thương yêu...
Vào tháng Năm vừa qua, một người đàn ông Ấn Độ đã thiệt mạng khi cố gắng chụp ảnh “tự sướng” bên cạnh một con gấu bị thương. Đây là cái chết thứ ba liên quan đến việc chụp ảnh tự sướng ở Ấn Độ kể từ tháng 12 năm ngoái. Trong hai tai nạn khác, những con voi đã đạp chết hai người trong lúc họ đang cố gắng tự chụp với chúng trong hai lần “tự sướng” riêng biệt. Vào tháng 7 năm nay, Gavin Zimmerman, một người Mỹ du lịch đến Úc, 19 tuổi, đã mất mạng vì rơi xuống vực khi anh đang tự chụp ảnh tự trên một vách đá ở New South Wales.
Chữ có hình có dạng, nhưng ý nghĩa bên trong chữ như chất lỏng. Sáng tác không chỉ đặt chữ xuống trang giấy, lên màn ảnh, trong tâm tình và ý thức nghệ thuật, mà quan trọng hơn, là làm rách chữ để chất lỏng chảy ra, thấm sâu vào giấy, vào điện tử, bốc hương lên tác giả và truyền thơm cho độc giả.Ca từ có thể không chứa chất lỏng đặc sệt như chữ trong thi ca, hoặc đậm đen trong ngôn từ triết học, nhưng chất lỏng trong ca từ rất đặc thù: có thể hát, mỹ vị hóa tứ nhạc, đồng cảm với giai điệu, và có khả năng đặc biệt nhất: đi thẳng vào lòng người. Sự phức tạp này là trở ngại lớn nhất đối với người viết ca khúc, vì nói đến ca khúc là nói đến ca từ. Một bản nhạc không thể hay, không thể đạt được giá trị, nếu có ca từ dở.
Mới đây, ở Việt Nam, mẫu giày Biti’s Hunter bloomin’ central tạo nên nhiều dư luận xoay quanh việc sử dụng vải thổ cẩm của người Chăm. Sau khi được nhiều cá nhân và tổ chức góp ý, Biti’s đã có lời xin lỗi tới công chúng và điều chỉnh nội dung truyền thông cho sản phẩm (1). Cũng gần đây, hai người mẫu Việt Nam xuất hiện trên hình ảnh với màu da nâu đậm và bị một số người đặt câu hỏi không biết có phải là “chiếm dụng văn hóa” của người Da Đen hay không (2). Từ ngữ “chiếm dụng văn hoá” hay “chiếm đoạt văn hóa” được dùng để dịch từ tiếng Anh “cultural appropriation” có vẻ đang được dùng càng ngày càng nhiều trên báo chí tại Việt Nam, và đối với tác giả bài này, đây là một điểm gây ngạc nhiên.
Trong suốt gần 4000 năm lịch sử của nước ta, bên cạnh ngày lễ Tết Nguyên Đán còn có ngày lễ hội Trung Thu dành cho các trẻ em. Lễ hội Trung Thu được cử hành hằng năm vào ngày rằm tháng Tám âm lịch. Vào ngày này, trẻ em thường nhận được quà tặng từ cha mẹ, ông bà để cử hành lễ hội Trung Thu. Phần nhiều quà tặng các em thích nhất là những lồng đèn có hình ngôi sao, cá chép, con gà trống, con thiên nga, con bướm... hay lớn hơn có hình con rồng dài, cái đầu con lân...
“Mảnh Da Vàng viết ra rồi đốt bỏ, viết đi viết lại không biết bao nhiêu lần. Viết lén lút trong trại giam Sông Măng sát biên giới Miên. Viết trong nỗi kinh hoàng ở trại tập trung Hóc Môn. Viết sau cơn sốt cuồng điên trên đồi gió hú trại tập trung Long Giao. Viết nắn nót trên những trang giấy rẻ tiền trong căn nhà tranh vách đất vùng kinh tế mới. Viết trên giường bệnh viện Bình Dương tồi tàn. Viết trong nỗi cô đơn ròng rã dưới ngọn đèn dầu le lói nơi miền quê nghèo...” (MDV, tr. 9)...
Chuyện tình Huyền Trân Công Chúa đã được nhắc tới nhiều trong dân gian Việt Nam, dưới nhiều góc độ khác nhau. Người thì ca ngợi Công Chúa đã thay mặt triều đình nhà Trần, thực hiện công tác chính trị, ngoại giao, tạo hoà bình giữa hai nước, đã thường xuyên tranh chấp lâu đời với nhau...
Vào khoảng 2 tuần lễ trước đây, ngày 30-08 dương lịch, nhằm 14 hay 15 âm lịch; ngày Vu Lan tháng 7 ta, ngày báo ân phụ mẫu, cũng là mùa xá tội vong nhân, đồng thời mùa an cư cát hạ vừa hoàn mãn, chúng tôi được đọc bài chúc thư khánh tuế của hoà thượng Thích Tuệ Sỹ đăng trên Việt Báo...
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.