Hôm nay,  

Torkwase Dyson Triển Lãm Tranh Về Di Sản Chế Độ Nô Lệ

13/12/201900:00:00(Xem: 2054)
Torkwase Dyson 01
Torkwase Dyson: Plantationocene, 2019, acrylic, graphite, brass, wood, and ink on canvas, 98 inch diameter; at Arthur Ross Architecture Gallery. (www.artnews.com)


Torkwase Dyson 02
Torkwase Dyson: Pilot, 2019, acrylic, graphite, string, wood, and ink on canvas, 96 by 72 inches; at Arthur Ross Architecture Gallery. (www.artnews.com )


Tác phẩm của Torkwase Dyson thường dùng hình thức trừu tượng để diễn tả các di sản của chế độ nô lệ xuyên Đại Tây Dương và cộng đồng người di cư Châu Phi. Cuộc triển lãm của cô có tên “1919: Black Water,” tại Phòng Trưng Bày Arthur Ross Architecture Gallery của Đại Học Columbia, mang những tác phẩm điêu khắc, bản vẽ và tranh hỗn hợp lại nhau phản ảnh vụ giết một thiếu niên da đen tên là Eugene Williams tại Chicago vào ngày 27 tháng 7 năm 1919, theo Nicole Miller đăng trên trang mạng www.artnews.com hôm 1 tháng 12 năm 2019.

Trong khi bơi một chiếc bè tự ráp trên hồ Lake Michigan, Williams và những người bạn vô tình vượt qua biên giới giữa khu vực da đen và da trắng của bờ hồ. Một người đàn ông da trắng đã tấn công họ với đá, và giết chết Williams. Sự kiện này đã gây ra 5 ngày biểu tình của người da đen và khủng bố da trắng khắp thành phố, một phần làn sóng bạo động chủng tộc lan rộng khắp Hoa Kỳ vào lúc đó, được biết như là Mùa Hè Đỏ.

Đối với tác phẩm này, Dyson lấy điểm xuất phát là hình thức của chiếc bè, một biểu tượng của cái mà cô gọi là “ý tưởng sáng tác màu đen”: phương cách các đối tượng màu đen đi thuyền - và làm như vậy, thay thế - không gian được định hình bởi xã hội trắng. Đối với Dyson, chiếc bè có chức năng như một nơi tự giải thoát, tượng trưng khả năng của các thiếu niên để sáng tạo những hình thức năng động và chơi ngay cả khi có mối nguy hiểm của sự phân biệt và ô nhiễm từ dòng thác công nghiệp trong hồ.

Ở trung tâm của phòng trưng bày, 3 tác phẩm điêu khắc bằng mi ca đen trong hình dạng của lăng kính hình thang được gắn vào như một chuỗi quần đảo (Black Shoreline, 2019). Những cấu trúc thì rỗng -- các ống hình học có phần trong tối khiến không gian có thể sờ thấy thông qua các phẩm chất của độ mờ, tắc và khoảng cách. Trên các bức tường xung quanh treo nhiều bức tranh lớn trong đó các ứng dụng khí quyển của acrylic gợi ra vùng nước tối.

Các phần bổ sung như hình tam giác giống như cánh buồm và các đường trắng góc cạnh xuất hiện như công cụ để điều hướng bóng tối. Dyson ám chỉ tới chân trời qua các bức tranh. Thí dụ, trong tác phẩm Pilot (2019), một thanh than chì nằm ngang cắt ngang một tấm vải ngập trong màu xanh biển. Treo từ thanh than, một khối dây đen dày được phủ lên bằng sơn đen bóng gợi lên, cùng một lúc, những lọn tóc cuốn dài và nước ô nhiễm chảy qua một đập tràn.

Bức tranh Plantationocene (2019) chuyển tải cùng một cảm giác mạnh mẽ về không gian phân biệt chủng tộc. Tới gần, các hình dạng trung tâm màu đen gợi ý một chiếc bè được nhìn ở một góc từ trên cao, trong khi các vệt trắng sáng xung quanh gợi lên làn nước lấp lánh. Tuy nhiên, từ xa, hình dạng trung tâm trở thành mũi của chiếc thuyền lờ mờ được thấy từ phía trước; và các dấu trắng, chùm đèn pha. Bức tranh có tiêu đề sau một thuật ngữ về thời đại địa chất của chúng ta rằng một số học giả, như Donna Haraway, thích sử dụng rộng rãi hơn “Anthropocene,” vì nó nhấn mạnh vai trò của lao động cưỡng bức trong các nền kinh tế khai thác ảnh hưởng đáng kể đến hệ sinh thái toàn cầu.

Trong chương trình này, Dyson cho thấy các liên kết giữa các vùng nước từng tách biệt của Hồ Michigan, hiện tại các tình huống khó khăn như di cư khí hậu và hành trình trên biển được thực hiện bởi các tàu nô lệ từ Tây Phi đến Tây Ấn (Middle Passage).

Phát biểu trong một cuộc phỏng vấn được công bố trong danh mục triển lãm, cô liên kết các hình thức nhìn thấy trong các tác phẩm với vòng tròn của cổ áo sắt, hình thang được tìm thấy trên sơ đồ tàu nô lệ, và hình tam giác của một gác mái nơi một nô lệ trốn thoát từng ẩn náu. “Hình dạng tạo người da đen,” theo Dyson nói trong một cuộc nói chuyện năm ngoái, đưa ra một bản tóm tắt sâu sắc về sự thực hành dành cho việc khám phá các hình dạng ép buộc hoặc cho phép chuyển động của các đối tượng màu đen.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Vương Trùng Dương, tên khai sinh là Trần Ngọc Dưỡng, sinh đầu tháng 2 năm 1945 (âm lịch tuổi Giáp Thân) tại Quảng Nam. Gia đình của Dương, từ lâu, định cư tại Chợ Được, một ngôi chợ khang trang nằm bên bờ sông Trường. Chợ cũng là bến ghe thuyền. Đò dọc theo sông dài, đò ngang qua bên kia sông là vùng ven biển Đông. Gần biển, những đêm mùa đông, trong chiếu chăn hãy còn nghe tiếng sóng biển ầm vang.
Nhà xuất bản nổi tiếng của Hoa Kỳ Barnes and Noble vừa phát hành cuốn hồi ký 500 trang của Kiều Chinh. Giới văn chương Mỹ gọi cô là nghệ sĩ lưu vong. Tra cứu trên Internet chúng ta thấy bản văn Anh ngữ nhà Barnes khen ngợi tác giả. Bản văn Việt Ngữ khen ngợi cô Kiều Chinh do nữ đại úy Phan của quân lực Mỹ viết. Cuốn hồi ký đặc biệt này đã ghi bán 30 đồng giấy thường và sách bìa cứng giá 40 đồng. Đại úy Phan là nữ quân nhân trẻ hiếm có đọc được cuốn hồi ký tiếng Việt đã ước mong rằng sẽ có phiên bản Anh Ngữ sớm phát hành.
Khi nói đến âm nhạc, người ta thường liên tưởng đến khái niệm về “tâm hồn” hay “cảm xúc”. Khi nói đến giáo dục lại thường liên kết với “trí tuệ”. Một bên là nghệ thuật, một bên là tri thức. Một bên là những chàng nghệ sĩ, một bên là những nhà mô phạm. Thực ra hai lĩnh vực này có nhiều khi đan lẫn, kết hợp với nhau. Âm nhạc là một ngành học với học vị lên tới tiến sĩ, không thua kém gì học bác sĩ, kỹ sư. Và khoa học đã chứng minh từ lâu rằng học âm nhạc góp phần phát triển khả năng trí tuệ toàn diện cho trẻ em.
Cuốn phim Từ Sài Gòn đến Điện biên Phủ cũng được ra mắt lần đầu tiên tại Hoa Kỳ. Phim do hãng Mỹ Vân hoàn tất tại Việt Nam trước 1975. Chưa từng chiếu được giữ lại trên 50 năm qua sẽ ra mắt đồng bào rất may mắn tại San Jose. Xin mời đến để gặp Kiều Chinh và Sài Gòn sau hơn nửa thế kỷ. Vào 1 giờ chiều thứ bẩy 27 tháng 7-2024 tại hội trường Santa Clara County
Vào chiều Chủ Nhật cuối Tháng Sáu, khoảng hơn 400 khán giả đã ngồi chật khán phòng của Huntington Beach Central Library Theater để cổ vũ cho các tài năng âm nhạc trẻ gốc Việt trong chương trình nhạc Emê Concert 2, chủ đề “I Wish It So”.
Thỉnh thoảng có một ngày vui. Gặp nhau trong thân tình, được bày lộ nỗi lòng, nâng ly rượu giao hòa. Đó là buổi ra mắt tập thơ của Họa sĩ Khánh Trường. Chiều, của một ngày cuối cùng tháng Sáu, 2024. Trời Nam Cali mát dịu. Tôi và Kim đến rất đúng giờ nhưng phòng họp đã đầy chật bằng hữu. Tấm lòng yêu mến Khánh Trường quả là rõ thực. Tay này đa tài trên khắp nẻo, hội họa, văn chương, báo chí, cả ngang tàng một cõi thời trai trẻ. Bỗng đủ thứ bệnh tật đến rần rần như rủ nhau đi xem hội. Trên hai mươi năm nay ung thư thanh quản, hộc máu, tắt tiếng, đột quỵ, ngồi xe lăn, bại thận, mỗi tuần bị lụi kim, kim bự tổ chảng, vào người thay máu hai lần. Nhìn hai cổ/ cánh tay của Khánh Trường, từng đụn da thịt gồ lên thấp xuống, như cái dãy… Trường sơn thu nhỏ.
Nhà thơ Đỗ Quý Toàn nói về Khánh Trường-nhà thơ đã không quên nhắc lại “Khánh Trường là người làm được rất nhiều thứ, không những ông là họa sĩ, nhà thơ, mà ông viết văn rất hay. Tôi rất thích đọc truyện Khánh Trường. Nhưng điều tôi phục nhất là Khánh Trường của Hợp Lưu. Khánh Trường của nguyên tắc làm theo ý mình, trái ý thiên hạ. Người ta cho là anh ta phản kháng hay nổi loạn, nhưng theo tôi, KT chỉ làm cái gì mình cho là đúng, hay, phải làm. Tôi rất khâm phục.”
Ca khúc “Nỗi buồn hoa phượng” là ca khúc thứ hai của nhạc sĩ Thanh Sơn, sau ca khúc “ Tình học sinh” ra đời năm 1962, song bị... chìm lĩm, chẳng một ai chú ý? Năm 1983, trả lời phỏng vấn của chương trình Paris By Night, nhạc sĩ Thanh Sơn kể về sự ra đời của ca khúc “Nỗi buồn hoa phượng”, sau 20 năm ra đời, đã được hàng triệu người kể cả miền Bắc sau này ưa thích. Đó là vào năm 1953, ông học chung lớp với người bạn nữ tên là “Nguyễn Thị Hoa Phượng”, hè năm ấy, người bạn gái cùng gia đình chuyển về Sài Gòn, ông có hỏi cô bạn: “Nếu nhớ nhau mình sẽ làm sao?”, cô bạn mĩm cười trả lời đại ý là “ Cứ mỗi năm đến hè, nhớ đến nhau, anh cứ nhìn hoa phượng nở cho đỡ nhớ bởi tên em là Hoa Phượng...”, và đó cũng là “đề tài” mà ông ấp ủ để 10 năm sau, khi đó cô bạn gái ngày xưa chắc đã... vu qui rồi?
Không thể chối cãi, trong đầm không gì đẹp bằng sen. Đúng hơn nữa, trong đầm không gì thơm hơn sen. Nhưng vì sao sen lại mọc trong đầm bùn? Vì sao sen không mọc sánh vai cùng Cẩm Chướng, Mẫu Đơn, Hồng Nhung, Anh Đào, Thiên Điểu, Oải Hương, Hướng Dương, vân vân trong những vườn quyền quý cao sang, những nơi chưng bày lộng lẫy? Vì sao sen lại chọn ngâm mình trong nước hôi tanh? Vì sao trong tất cả loại sen, tôi lại quý sen hồng, trong khi đa số yêu sen trắng? Sen và bùn là một lý thuyết chính trị cần thiết cho Việt Nam hiện nay. Hoa sen phải mọc từ bùn, trong bùn. Không thể mọc ở những nơi không có bùn. Vì sao hoa sạch thơm phải mọc và sống từ nơi dơ thúi? Rồi sen phải vượt lên khỏi mặt nước mới nở được hoa đẹp, hoa thơm, nhưng vẫn cần có bùn để tồn tại. Một quá trình hiện thực, một ẩn dụ để tư duy.
Bộ phim Face Off 7: One Wish như đem lại một tín hiệu tốt lành rằng trong một xã hội Việt Nam ngày nay đang có quá nhiều điều nhiễu nhương, những nét đẹp truyền thống của văn hóa Việt Nam vẫn còn có chỗ để tồn tại…
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.