Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Đêm, Nhớ Trăng Sài Gòn

17/10/201919:27:00(Xem: 2449)


Lời người viết: Hơn một thập niên về trước, Nguyễn Ngọc Chấn, Ngọc Hoài Phương, Du Tử Lê (bạn học cùng lớp ở Chu Văn An), Lữ Quỳnh và tôi thường uống cà phê với nhau. Trong tình bạn bè với nhau tôi đã layout cho anh các tập thơ: trường khúc mẹ về biển đông - (nếu cần) hãy cho bài thơ một tên gọi!?! -  năm chữ du tử lê và, mười hai bài thơ, mới – lại chuyện văn (lần nầy, ít thôi/với bệnh ung thư – thơ du tử lê toàn tập (1975-1993)… tác phẩm: du tử lê/50 năm (1997-2007) – người nhấn gót, thả diều chưa nói hết…

Năm 2007, tôi layout tác phẩm của Nguyễn Đức Tùng: Với Du Tử Lê, đời sống trở nên thơ mộng hơn. Khi anh đến garage nhà tôi để xem trình bày, cùng phì phà thuốc lá, nghe ca khúc Đêm, Nhớ Trăng Sài Gòn… Anh kể lại thời điểm sáng tác bài thơ nầy và, đêm đó tôi viết bài nầy.

Vì thời gian đã lâu nên tôi không còn lưu giữ. Nay nhà thơ Du Tử Lê đã ra người thiên cổ, tôi vào trang web dutule.com để trích dẫn.

 VTrD (10/2019)

*

Sau ba năm lưu lạc nơi xứ người, bài thơ Đêm, Nhớ Trăng Sài Gòn của nhà thơ Du Tử Lê sáng tác năm 1978, mang nỗi buồn xót xa của kẻ mất quê hương, nhớ lại hình ảnh xa xưa với bao kỷ niệm đã in sâu trông tâm khảm. Sau giờ tan sở ca hai ở hãng Rockwell International tại Costa Mesa, lái chiếc xe cà rịch cà tàng trên đường về nhà giữa đêm trăng thanh gió mát cùng nỗi buồn thê lương nơi đất lạ quê người, thay vì buông tiếng thở dài, nhâm nhi dòng suy tưởng trong ý thơ hiện về “theo bánh xe lăn”. Và, Đêm, Nhớ Trăng Sài Gòn:blank

 “đêm về theo vết xe, lăn

tôi trăng viễn xứ hồn thanh niên, vàng

tìm tôi đèn thắp hai hàng

lạc nhau cuối phố sương quàng cổ cây

ngỡ hồn tu xứ mưa bay

tôi chiêng trống gọi mỗi ngày mỗi xa

đêm về theo bánh xe, qua

nhớ tôi Xa Lộ; nhớ nhà Hàng Xanh

nhớ em kim chỉ khíu tình

trưa ngoan lớp học chiều lành khóm tre

nhớ mưa buồn khắp Thị Nghè

nắng Trương Minh Giảng. lá hè Tự Do

nhớ nghĩa trang: quê bạn bè

nhớ pho tượng lính buồn se bụi đường

đêm về theo vết xe, lăn

tôi trăng viễn xứ, sầu em bến nào?”.


Năm 1979, nhạc sĩ Phạm Đình Chương vượt biển, năm 1981 định cư tại Hoa Kỳ. Tình cờ bắt gặp bài thơ Đêm, Nhớ Trăng Sài Gòn trên trang báo, ông biến ngôn ngữ trong thi ca vào cung bậc và ca khúc mang tựa đề bài thơ trở thành ca khúc tuyệt vời. Khởi đầu với tiếng hát Lệ Thu, trong thời điểm đó, mịt mù xa cách, ngậm ngùi với thân phận, cho hồn quyện vào giai điệu và lời ca. Và, theo dòng thời gian, nơi nắng ấm Cali, tiếng hát Thái Thanh, Quỳnh Giao, Tuấn Ngọc, Ý Lan, Vũ Khanh, Trần Thái Hòa, Lê Hồng Quang... đưa ca khúc vào tâm hồn người thưởng ngoạn trên mọi miền đất nước.

Phạm Đình Chương là một trong những nhạc sĩ tài hoa phổ thơ, để lại cho đời nhiều tình khúc quen thuộc, bất tử.

Tuyển tập Mộng Dưới Hoa gồm 20 Bài Thơ Phổ Nhạc của Phạm Đình Chương do trưởng nam của ông, ca sĩ Phạm Thành ấn hành tại Hoa Kỳ năm 1985.

Khởi đầu với ca khúc Mộng Dưới Hoa - thơ Đinh Hùng, từ năm 1957. Và, từ đó với Màu Kỷ Niệm - thơ Nguyên Sa, Nửa Hồn Thương Đau, Dạ Tâm Khúc, Bài Ngợi Ca Tình yêu - thơ Thanh Tâm Tuyền, Người Đi Qua Đời Tôi - thơ Trần Dạ Từ, Đôi Mắt Người Sơn Tây - thơ Quang Dũng, Mưa Sài Gòn Mưa Hà Nội - lời Hoàng Anh Tuấn... Với dòng thơ của Thanh Tâm Tuyền, ca khúc Đêm Màu Hồng còn mang tên phòng trà nổi tiếng tại Sài Gòn vào năm 1967, hằng đêm, được mở đầu và kết thúc chương trình. Bóng dáng ca sĩ Hoài Bắc (Phạm Đình Chương) vừa nghệ sĩ, vừa phong trần, trong ánh đèn màu, trong men nồng, cất tiếng hát trầm ấm... thu hút người thưởng ngoạn lạc vào nơi chốn xa xăm.

Cuộc tao ngộ giữa thơ và nhạc với Du Tử Lê và Phạm Đình Chương như định mệnh. Ca khúc đầu tay khi định cư tại Cali với Đêm, Nhớ Trăng Sài Gòn và ca khúc cuối cùng với Quê Hương Là Người Đó cho đến ngày từ trần vào tháng Tám năm 1991. Bài thơ Đêm, Nhớ Trăng Sài Gòn được ấn hành trong Thơ Tình Du Tử Lê là tập thơ đầu tay ở hải ngoại trong năm 1984, và cũng là thi phẩm thứ sáu. Kể từ năm 1957 đến nay, tròn nửa thế kỷ, Du Tử Lê cho ra đời khoảng mười lăm tập thơ. Nhiều bài thơ đã được các nhạc sĩ Anh Bằng, Phạm Duy, Từ Công Phụng, Trần Duy Đức, Phan Ni Tấn, Đăng Khánh, Ngọc Trọng, Hoàng Thanh Tâm, Lê Văn Thành, Phan Nguyên Anh, Hoàng Đình Bình, Nguyên Ngọc... phổ nhạc. Và, nhiều bài viết nói về tác giả, tác phẩm của Du Tử Lê ở hải ngoại vì vậy chỉ đề cập về bài thơ qua dòng nhạc của Phạm Đình Chương.

Năm 1971, Phạm Đình Chương phổ thơ Du Tử Lê với ca khúc Khi Cuộc Tình Đã Chết và đúng 10 năm sau, nhạc sĩ bắt gặp dòng thơ mang cùng tâm trạng với nhau để dệt thành ca khúc. Du Tử Lê cho biết, là nhạc sĩ tài hoa với tài nghệ phổ thơ nhưng bài thơ Đêm, Nhớ Trăng Sài Gòn nằm trên chiếc dương cầm những sáu tháng. Bài thơ theo thể lục bát nên muốn phá thể cái âm điệu đó để chuyển sang giai điệu khác nên “dây dưa” như vậy. Nhà văn Mai Thảo thấy vậy, nói, vất mẹ nó đi, Phạm Đình Chương đáp, biết mẹ gì về âm nhạc mà nói.

Và, sau đó, đứa con được chào đời. Tác giả giữ được hồn và câu thơ cho ca khúc. Chỉ có vài lời được biến đổi để phù hợp với cung bậc. Câu thơ “đêm về theo vết xe, lăn - tôi trăng viễn xứ, sầu em bến nào?” chuyển thành “Đời tan, tan nát chiêm bao...”.Câu thơ “nhớ nghĩa trang: quê bạn bè - nhớ pho tượng lính buồn se bụi đường” được chuyển thành “Nhớ nghĩa trang xưa, quê hương bạn bè...”. Với bài thơ lục bát nầy, có nhạc trong thơ, nhưng nhạc sĩ biến âm điệu thăng hoa, bay bổng theo từng cung bậc để thơ và nhạc “xe tơ kết tóc”.

Nỗi nhớ trong thơ và nhạc của Du Tử Lê và Phạm Đình Chương, có lẽ, trong giây phút nào đó nơi chốn nầy, cũng là tâm trạng của nhiều người. Nắng ấm Cali, đất lành chim đậu... nghe thật dễ thương, quyến rũ như thôi thúc con người ly hương. Hơn một nghìn năm về trước, hình ảnh mà nhà thơ Hạ Tri Chương bày tỏ khi “nắng hạ gặp mưa rào, đất khách gặp người quen” luôn luôn ám ảnh trong lòng mọi người. Với đấng mày râu, hai câu thơ của ông “Mạc mạn sầu cô tửu, nang trung tự hữu tiền” trong bài thơ thất ngôn tứ tuyệt Hồi Hương Ngẫu Hứng quá chí lý, tội gì ngồi nhâm nhi đơn chiếc, có chút đỉnh tìm bạn cùng vui, không còn gì bằng vùng đất nầy. Thế rồi, ngày qua ngày, đất lành biến thành dữ, mất tên Sài Gòn rộng lớn ở quê hương, tạo dựng tiểu Sài Gòn nơi đất khách. Và, không biết ai đặt cho hỗn danh “chốn gió tanh mưa máu” nghe mà ớn lạnh.

Ai đã quen với một thời bom đạn, ai đã từng cam chịu cảnh nghiệt ngã tang thương, quằn quại dưới ách thống trị của chế độ độc tài, đảng trị thì dưới bầu trời tự do, sá gì với cái hỗn danh đó mà ngao ngán? Nếu cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm ngày trước có mỉa mai cũng đành cam chịu vì đã “đi một đàng, học một sàng khôn” rồi thì làm người khôn luôn để “ở chốn xao xao” cho khỏi cảm thấy cô đơn trống vắng khi “lạc nhau cuối phố sương quàng cổ cây”, không làm thơ mà làm thinh thì buồn đứt ruột.

Sinh hoạt ở Sài Gòn ồn ào, xô bồ cả ngày lẫn đêm. Ở tiểu Sài Gòn nầy lại khác. Khi màn đêm buông xuống mang theo sinh khí sôi động, náo nhiệt chìm dần vào bóng đêm. Đêm rằm tháng Bảy, cùng Du Tử Lê, Hoàng Sỹ, ngồi nhâm nhi ly cà phê ở Café de Paris trên đại lộ Bolsa, tiểu Sài Gòn. Nhìn vầng trăng tròn, nghe ca khúc Đêm Nhớ Trăng Sài Gòn, bỗng nhớ lại ngày tiễn biệt nhạc sĩ Phạm Đình Chương về cõi xa xăm cách đây 16 năm.

Ban ngày oi bức, buổi tối trăng thanh gió mát, ngồi dưới mái hiên phì phà điếu thuốc, trò chuyện cùng bằng hữu, nghe nhạc, ngắm trăng, tìm lại hình ảnh xa xưa... Du Tử Lê trầm ngâm như ôn lại hình ảnh ba thập niên về trước. Anh tâm sự, lúc đó, không bao giờ nghĩ sẽ có ngày trong khung cảnh như vậy cùng bằng hữu. Bao nhiêu thay đổi, kẻ mất người còn, còn mang hơi thở, còn sống với kỷ niệm. Và, Sài Gòn hình ảnh của Sài Gòn năm xưa vẫn là Sài Gòn muôn thuở.

Thi phẩm cuối cùng ở trong nước Đời Mãi Ở Phương Đông, hình ảnh Sài Gòn và xa lộ: 

“Sầu người kéo bước tôi lui

Ngày trên núi gởi về xuôi mắt rừng”

(Khi Ở Pleiku Nhớ Sài Gòn)


“Ở đây , người có thiên đường

Có ngôi mộ nhỏ, có hồn vấn vương

Có đau đớn khắc trên tường

Có tôi đã gởi thịt xương sang người”

(Khi ở Xa Lộ)


Chỉ vài ngày xa cách Sài Gòn, Du Tử Lê đã gởi niềm thương nhớ và ở xa lộ “có hồn vấn vương” vì vậy khi lưu lạc nên nầy bờ đại dương, mịt mù xa cách, làm sao quên được?

Sau ngày nhạc sĩ Phạm Đình Chương vĩnh viễn ra đi, tập thi phẩm “Đi Với Về, Cũng Một Nghĩa Như Nhau” của Du Tử Lê, bài “Thơ ở Phạm Đình Chương”, như lời tâm sự:

“có dễ chưa một thời đại nào

lại mang nhiều hạt mầm

hoan lạc

và khổ đau

như thời đại chúng ta...

... sách vở chẳng bao giờ tìm được

tung tích đại bàng

cất cánh về hư vô

chói lọi...

... đã thuộc về ngoại sử

sự mất tích của Hoài Bắc.

như dấu chấm hết

nơi cuối những nhạc phẩm Phạm Đình Chương

một ngày trong tháng tám”.


Với, Đêm, Nhớ Trăng Sài Gòn. Với, mối lương duyên giữa thơ và nhạc, người về cõi mây trời, người còn lại nơi dương thế, và, một ngày nào đó chỉ còn lại hồn thơ nét nhạc lưu lại trần gian. Tròn nửa thế kỷ, từ những bài thơ đầu đời như Thú Tội năm 1957 đến nay Du Tử Lê đã sáng tác trên một nghìn bài thơ, và Đêm, Nhớ Trăng Sài Gòn được in lại trong tuyển tập Thơ Du Tử Lê toàn tập 2 (1975-1993), tác phẩm 46, đánh dấu 50 năm sáng tác thi ca của anh.blank

Mười hai thế kỷ về trước, bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt Tĩnh Dạ Tư của Lý Bạch đã để lại hậu thế hai câu thơ trác tuyệt:

“Cử đầu vọng minh nguyệt,

Đê đầu tư cố hương”

Trăng và cố hương trong thơ Du Tử Lê và dòng nhạc của Phạm Đình Chương cùng nỗi niềm và tâm trạng của người xưa có lẽ gắn liền với “giai đoạn lịch sử” của đất nước.

Little Saigon, 8-2007

Vương Trùng Dương

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Những bà mẹ Việt xưa nay rất chơn chất thật thà, rất đơn sơ giản dị cả đời lo cho chồng con quên cả thân mình. Sử Việt nghìn năm đương đầu với giặc Tàu, trăm năm chống giặc Tây. Những bà mẹ Việt bao lần âm thầm gạt lệ tiễn chồng con ra trận, người đi rất ít quay về. Những bà mẹ âm thầm ôm nỗi đau, nỗi nhớ thương da diết.
Trước công luận, Eisenhower lập luận là cuộc chiến không còn nằm trong khuôn khổ chống thực dân mà mang một hình thức chiến tranh ủy nhiệm để chống phong trào Cộng Sản đang đe doạ khắp thế giới. Dân chúng cần nhận chân ra vấn đề bản chất của Việt Minh là Cộng Sản và chỉ nhân danh đấu tranh giành độc lập cho Việt Nam; quan trọng nhất là phải xem ông Hồ chí Minh là một cánh tay nối dài của Liên Xô. Đó là lý do cộng đồng quốc tế cần phải tiếp tục hỗ trợ cho Pháp chiến đấu.
Dù vẫn còn tại thế e Trúc Phương cũng không có cơ hội để dự buổi toạ đàm (“Sự Trở Lại Của Văn Học Đô Thị Miền Nam”) vào ngày 19 tháng 4 vừa qua. Ban Tổ Chức làm sao gửi thiệp mời đến một kẻ vô gia cư, sống ở đầu đường xó chợ được chớ? Mà lỡ có được ai quen biết nhắn tin về các buổi hội thảo (tọa đàm về văn học nghệ thuật miền Nam trước 1975) chăng nữa, chưa chắc ông Nguyễn Thế Kỷ – Chủ Tịch Hội Đồng Lý Luận, Phê Bình Văn Học, Nghệ Thuật – đã đồng ý cho phép Trúc Phương đến tham dự với đôi dép nhựa dưới chân. Tâm địa thì ác độc, lòng dạ thì hẹp hòi (chắc chỉ nhỏ như sợi chỉ hoặc cỡ cây tăm là hết cỡ) mà tính chuyện hoà hợp hay hoà giải thì hoà được với ai, và huề sao được chớ!
Lời người dịch: Trong bài này, Joseph S. Nye không đưa ra một kịch bản tồi tệ nhất khi Hoa Kỳ và Trung Quốc không còn kiềm chế lý trí trong việc giải quyết các tranh chấp hiện nay: chiến tranh nguyên tử có thể xảy ra cho nhân loại. Với 8000 đầu đạn hạt nhân của Nga, khoảng 270 của Trung Quốc, với 7000 của Mỹ, việc xung đột hai nước, nếu không có giải pháp, sẽ là nghiêm trọng hơn thời Chiến tranh Lạnh.
Kính thưa mẹ, Cứ mỗi tháng 5 về, nước Mỹ dành ngày Chủ Nhật của tuần đầu tiên làm Ngày của Mẹ (Mother's Day), ngày để tôn vinh tất cả những người Mẹ, những người đã mang nặng đẻ đau, suốt đời thầm lặng chịu thương, chịu khó và chịu khổ để nuôi những đứa con lớn khôn thành người.
Khoảng 4.500 người đã được phỏng vấn, trong đó có khoảng 700 người gốc Á. 49% những người được hỏi có nguồn gốc châu Á đã từng trải qua sự phân biệt chủng tộc trong đại dịch. Trong 62 phần trăm các trường hợp, đó là các cuộc tấn công bằng lời nói. Tuy nhiên, 11% cũng bị bạo hành thể xác (koerperliche Gewalt) như khạc nhổ, xô đẩy hoặc xịt (phun) thuốc khử trùng.
Nguyệt Quỳnh: Anh còn điều gì khác muốn chia sẻ thêm? Trịnh Bá Phương: Trong cuộc đấu tranh giữ đất, nhóm chúng tôi đã tham gia các phong trào khác như bảo vệ cây xanh, bảo vệ môi trường, tham gia biểu tình đòi tự do cho các nhà yêu nước, tham gia các phiên toà xét xử người yêu nước bị nhà nước cộng sản bắt giam tuỳ tiện. Và hướng về biển đông, chống sự bành trướng của Bắc Kinh khi đã cướp Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam! Và mới đây là phản đối bè lũ bán nước đã đưa ra dự luật đặc khu và dự luật an ninh mạng.
Có một câu thần chú mới mà các nhân viên FBI đã khuyên tất cả chúng ta phải học thuộc và nên áp dụng trong thời đại này. Thời đại của cao trào xả súng đang diễn ra khắp nơi ở Hoa Kỳ. Xin giới thiệu cùng bạn đọc một bài viết hữu ích của nữ ký giả Alaa Elassar của đài CNN đang được đăng tải trên liên mạng. Cô đã nêu ra những lời khuyên rất cần thiết cho chúng ta, căn bản dựa trên những video clips huấn luyện và đào tạo nhân viên của FBI.
Since I arrived in the United States in “Black April” of 1975 (the Fall of Saigon) and had been resettled in Oklahoma City to date, I have had two opportunities to go back to schools. The first one I studied at Oklahoma City University (OCU) for 5 years and received my degree in 1981. Having to work during day time, I could only go to school in the evening.
Như vậy, từ hiện tượng đảng viên “quay lưng” lại với đảng đến chuyện dân bỏ mặc mọi việc cho nhà nước lo cho tới chuyện thanh niên, rường cột của Tổ quốc, cũng “khô đoàn” và “nhạt đảng” thì điều được gọi là “nền tảng Tư tưởng đảng” có còn gốc rễ gì không, hay trốc hết rồi?
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.