Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Vĩnh biệt Du Tử Lê, ngôi sao của thơ cách tân và hoà giải

12/10/201902:13:00(Xem: 4065)

Vĩnh biệt Du Tử Lê, ngôi sao của thơ cách tân và hoà giải

 

Bùi Văn Phú

 

Một sao sáng trên bầu trời thi ca Việt Nam vừa vụt tắt. Nhà thơ Du Tử Lê đã qua đời tối thứ Hai 7/10/2019 tại Quận Cam, California.

 

 

 blank

Từ phải: Giảng viên Việt ngữ Trần Hoài Bắc, Du Tử Lê cùng vợ Phan Hạnh Tuyền và Jimmy Tiến Phan tại Đại học U.C. Berkeley đầu thập niên 2000 (Ảnh: Jimmy Tiến Phan)

 

  

Nhắc đến Du Tử Lê, giới văn học nghệ thuật nhớ đến một thi sĩ có sáng tác trải dài hơn 60 năm, từ quê nhà ra đến hải ngoại. Ông bắt đầu làm thơ khi tuổi mới hơn mười và có sáng tác đầu tay được đăng trên tạp chí văn học Mai năm 1958, lúc 16 tuổi với bút danh Du Tử Lê. Năm 1973 ông đoạt giải Văn học Nghệ thuật Toàn quốc Việt Nam Cộng hoà thể loại thi ca, với tập thơ “Thơ tình Du Tử Lê 1967-1972”

 

Rời nước trong biến cố 30/4/1975, nhà thơ đến Mỹ định cư tại Quận Cam, California cho đến ngày qua đời.

 

Một trong những bài thơ đầu tiên trong đời tị nạn, ông viết từ trại Camp Pendleton:

 

“em đâu biết tôi có những giấc mơ

buổi sáng, camp Pendleton, xếp hàng, đợi bữa

có rất nhiều chuyến xe buýt miễn phí

nối liền Processing Center với Trại Một

người con gái ốm o ngồi cùng băng ghế

hỏi có phải tôi là người mới tới, vài hôm…”

 

Trước đó, năm 1969 Du Tử Lê đã đến Mỹ tu nghiệp về báo chí. Thời gian xa nhà ông có những vần thơ mang cảm giác xa lạ nơi xứ người:

 

đến đây nắng cũng lạ người
chân đi dưới phố hồn ngồi tháp cao
tôi như quái vật chốn nào
ngu ngơ lỡ lạc bước vào cõi âm
rùng rùng những bóng dã nhân
đi qua, đi lại bước chân ngoài đời
bỗng thèm khát một tiếng thôi
bỏ tiền vào máy nghe lời chào ông

[Hai bài lục bát ở quê người, San Francisco 10-69]

Khi đó quanh nhà thơ không có ai nói cùng ngôn ngữ. Mấy năm sau, nơi ông định cư ở miền Nam California, có đông đồng hương, nhưng ông đã thật sự phải sống đời lưu vong.

 

Ông tiếp tục làm thơ và làm báo. Tờ Tay Phải, tờ Nhân Chứng, tờ Quê Hương xuất bản ở Nam California trong những năm đầu của cộng đồng người Việt tị nạn đều có bàn tay đóng góp của ông.

 

Thơ của ông là những hoài niệm về một nơi chốn cũ. Nhớ bạn bè, những con đường cũ, lớp học xưa. Đêm về nhìn trăng quê người mà nhớ:

 

“…đêm về theo bánh xe qua
nhớ tôi Xa Lộ nhớ nhà Hàng Xanh
nhớ em kim chỉ khứu tình
trưa ngoan lớp học chiều lành khóm tre
nhớ mưa buồn khắp Thị Nghè
nắng Trương Minh Giảng lá hè Tự Do
nhớ nghĩa trang quê bạn bè
nhớ pho tượng lính buồn se bụi đường
đêm về theo vết xe lăn
tôi trăng viễn xứ, sầu em bến nào?

[Đêm, nhớ trăng Sài Gòn, 1978]


Văn nghệ sĩ miền Nam bỏ nước ra đi khi đó đều mang trong lòng nỗi nhớ bất tận về quê cũ. Nó càng xoáy sâu khi ít có thông tin từ bên nhà. Gần như tuyệt vọng vì sẽ không có ngày về, Du Tử Lê mường tượng ra ngày qui cố hương, là sau khi chết:

 

Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
đời lưu vong không cả một ngôi mồ
vùi đất lạ thịt xương e khó rã
hồn không đi sao trở lại quê nhà

 

Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
nước ngược dòng sẽ đẩy xác trôi đi
bên kia biển là quê hương tôi đó
rặng tre xưa muôn tuổi vẫn xanh rì

 

Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
và trên đường hãy nhớ hát quốc ca
ôi lâu quá không còn ai hát nữa
(bài hát giờ cũng như một hồn ma)

 

Khi tôi chết nỗi buồn kia cũng hết
đời lưu vong tận tuyệt với linh hồn.

[Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển, 12-1977]

 

Đó là cách ông đã mơ một ngày được trở về quê hương.

 

Nhưng phải mấy chục năm sau ước mơ đó mới thành hiện thực. Năm 2014 thi sĩ Du Tử Lê bằng xương thịt và còn sống đã về lại quê hương cùng lúc với gia sản tinh thần của ông được Nxb. Hội Nhà văn cho in trong nước. Ông đã gặp Hoàng Cầm, Nguyễn Trọng Tạo, đã có những buổi nói chuyện về thơ, giao lưu cùng bạn đọc yêu thích thơ của ông.

 

Với hoàn cảnh đất nước như hiện tại, khi chính quyền vẫn muốn định hướng suy nghĩ của người dân và kiểm soát chặt chẽ việc in ấn, xuất bản thì những giao tiếp giữa văn nghệ sĩ trong và ngoài nước còn nhiều giới hạn và những chuyến trở về của văn nghệ sĩ Việt Nam Cộng hoà luôn tạo nên dư luận. Trường hợp Du Tử Lê cũng không là ngoại lệ vì ông từng là một đại úy tâm lý chiến, từng là phóng viên chiến trường, là thư ký nguyệt san Tiền Phong của Quân lực Việt Nam Cộng hoà. Trước những chỉ trích, kể cả việc sửa thơ để có cớ tấn công, ông chọn sự im lặng.

 

Du Tử Lê đã có ý tưởng hoà giải hoà hợp với văn nghệ sĩ quê nhà từ khi ông đưa thơ của mình vào tập “Two Rivers: new Vietnamese writing from America and Vietnam” [Uni. Of Hawaii Press, 2002] do Frank Stewart là chủ biên, với sự đồng biên tập của Kevin Bowen và Nguyễn Bá Chung. Tập thơ văn này có sáng tác của Hữu Thỉnh, Lâm Thị Mỹ Dạ, Nguyễn Minh Châu từ trong nước và hải ngoại có Mai Thảo, Đỗ Kh., Phan Nhiên Hạo, Đinh Linh, Barbara Trần, Nguyễn Quí Đức v.v…

 

Thơ Du Tử Lê đã xuất hiện trong nhiều sách, tập san thơ và báo tiếng Anh ở Mỹ, như trong tác phẩm “Understanding Vietnam” của Neil J. Jamieson [Uni. of California Press, 1993], trong “World Poetry – An Anthology of Verse from Antiquity to Our Time” [Nxb. W.W. Norton, 1998] cùng với năm nhà thơ Việt khác, hay trên các báo New York Times, Los Angeles Times. Ông cũng đã có nhiều dịp đến các đại học Harvard, U.C. Berkeley, CSU Fullerton nói chuyện về thi ca và văn học Việt Nam.

 

Người đọc thơ Du Tử Lê rất dễ nhận ra cách làm thơ của ông có những khác lạ. Những vần thơ, và cả văn, của ông viết theo lối mà ông gọi là “cách tân” – không phải là thơ “tân hình thức”.

 

Những bài lục bát, một thể loại thơ phổ biến trong dân gian nước Việt, thường theo nhịp 2 đều đặn, như trong Truyện Kiều xưa với hàng nghìn câu hay những vần thơ đương đại của Phạm Thiên Thư: “Rằng xưa có gã từ quan / Lên non tìm động hoa vàng ngủ say”

 

Còn lục bát Du Tử Lê ngắt theo lối khác, có thể là 1, 3, 2 cho câu sáu và 3, 1, 4 cho câu tám, bằng dấu phẩy, chấm, hai chấm, ba chấm hay dấu cắt nghiêng nên khi đọc phải chậm lại, ngừng, nghỉ, nghĩ suy:

 

“nên, con sông không thi hành

cát suy thoái, muộn, vơi ghềnh/ thác/ cao/.

trưa chôn chân: dăm con sào

bóng toan xuống cấp. thân hồ hởi, can /.”

[Biển, gương, seattle]

 

Hay một đoạn lục bát khác của ông:

 

hàng cây, hàng cây, phương tây /.
gió: khô góc trái; ngực: lầy dấu đinh /.
nàng về, nàng về, vai thuôn
vòm tâm ấn tượng trí cường điệu, khoan /.

[phác hoạ Hoa Thịnh Đốn]

 

Không phải khi ra hải ngoại thơ Du Tử Lê mới cách tân. Trong những năm đầu sáng tác ông đã có lối ngắt lục bát khác thường:

 

Xin em đôi cánh tay mềm

Một bên nắng…dắt, một bên mưa…dìu

[Trầm ca tháng Giêng, 1962]

 

Trong một lần nói chuyện trên đài truyền hình CaliToday ở miền bắc California cuối năm 2014, ông cho biết năm 1967 ông có gửi những bài lục bát cách tân cho Mai Thảo, lúc đó đang phụ trách tạp chí Văn, và Mai Thảo đã nhận xét rằng những bài thơ của ông không phải là thể thơ lục bát.

 

Cách ngắt chữ của ông còn thể hiện trong các thể thơ khác, 5 chữ hay 7, 8 chữ cũng có:

 

mưa chưa đi khuất, ngày chưa tới
đêm, treo ngược tôi: dấu chấm than!
mùa hoen đôi mắt, như vừa khóc
gọi hết tàn phai, gõ một lần.
.
trời đem mây xuống neo chân sóng
gió hú đường bay ngang ngọn cây.
tử / sinh vốn dĩ như hình / bóng.
linh hồn nào còn quẩn quanh đây?
...”
[Đêm, treo ngược tôi: dấu chấm than!]

 

Thơ Du Tử Lê cũng đã được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc: Phạm Đình Chương với “Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển”, “Đêm nhớ trăng Sài Gòn”; Phạm Duy với “Kiếp sau xin giữ lại đời cho nhau”; Từ Công Phụng với “Trên ngọn tình sầu”; Hoàng Quốc Bảo với “Người về như bụi”; Trần Duy Đức với “Chỉ nhớ người thôi đủ hết đời”.

 

Được biết đến nhiều nhất là “Khúc Thụy Du” do Anh Bằng phổ nhạc và Quang Dũng đã đưa bài hát lên đỉnh điểm. Đây cũng là ca khúc gây tranh luận, vì nội dung nguyên thủy là một bài thơ dài cả trăm câu, Du Tử Lê viết về thân phận con người trong chiến tranh, ngay sau Tổng Công kích Tết Mậu Thân. Bài thơ đầy máu và nước mắt, nhưng khi chuyển thành ca khúc, nhạc sĩ Anh Bằng chỉ dùng một phần của Đoạn 3 và đưa nó lên thành bản tình ca đầy mộng mị:


“…tôi làm ma không đầu
tôi làm ma không bụng
tôi chỉ còn đôi chân
hay chỉ còn đôi tay
sờ soạng tìm thi thể
quờ quạng tìm trái tim
lẫn tan cùng vỏ đạn
dính văng cùng mảnh bom
thụy ơi và thụy ơi

đừng bao giờ em hỏi
vì sao mình yêu nhau
vì sao môi anh nóng
vì sao tay anh lạnh
vì sao thân anh rung
vì sao chân không vững
…”
[Khúc Thụy du, 3-68]

 

Du Tử Lê tên thật Lê Cự Phách, sinh năm 1942 tại Hà Nam. Di cư vào Nam năm 1954, theo học các trường trung học Trần Lục, Chu Văn An và Đại học Văn khoa Sài Gòn.

 

Ông phục vụ trong Quân đội Việt Nam Cộng hoà với cấp bậc sau cùng là Đại úy tại Tổng cục Chiến tranh Chính trị.

 

Bà Phan Hạnh Tuyền, vợ của nhà thơ, đưa tin trên Facebook là ông ra đi nhanh và nhẹ nhàng. Chiều hôm đó ông còn ra quán ăn cơm với bạn bè, gần tám giờ ông kêu mệt và được bạn đưa về nhà. Lên giường nằm nghỉ, chỉ ít phút sau thì ông trút hơi thở cuối cùng.

 

Mấy năm trước nhà thơ đã trải qua một cuộc phẫu thuật đường ruột và khi đã qua tuổi “thất thập cổ lai hy” ông coi sống được thêm ngày nào là quà tặng (bonus) của trời cho thêm.

 

Thi sĩ Du Tử Lê hưởng thọ 77 tuổi và để lại cho đời 77 tác phẩm.

 

Sáng tác của ông trước năm 1975 có: “Tình khúc Tháng Mười Một” (1965), “Tay gõ cửa đời” (1967), “Thơ Du Tử Lê 1967-1972”, “Đời mãi ở Phương Đông” (1974).

 

Xuất bản ở hải ngoại: “Ở chỗ nhân gian không thể hiểu” (1985-1989) [Tủ sách Văn học Nhân Chứng, 1989], “Đi với về cũng một nghĩa như nhau” (1992), “Chấm dứt luân hồi em bước ra” (1993), “Thơ tình Du Tử Lê” (1996), “Tuyển tập Du Tử Lê 1957-2013” [Nxb. Người Việt, CA]

 

Những năm gần đây một số tác phẩm của ông đã được xuất bản trong nước: “Chỉ nhớ người thôi, đủ hết đời” [Cty Văn hoá Cổ phần Phương Nam, 2017], “Mẹ về Biển Đông” [Nxb. Hội Nhà văn Việt Nam, 2017], tập thơ “Khúc Thụy Du” [PhanBook, 2018], truyện dài “Với nhau, một ngày nào” [Saigon Books, 2018].

 

Ông còn có những tác phẩm nhận định văn học: “Sơ lược 40 năm văn học nghệ thuật Việt 1975-2015” Tập 1 và  2 [Nxb. Người Việt, CA].

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Tôi tha phương cầu thực đã lâu nên tiếng mẹ đẻ không khỏi có phần giới hạn. Bữa qua, đứng xếp hàng ở chợ chờ trả tiền thùng bia, chợt nghe loáng thoáng dăm câu đối thoại của mấy người đồng hương mà không khỏi có đôi chút băn khoăn: Vậy chớ chị thuộc diện gì? Nào có “thuộc diện” gì đâu. Mình chỉ là loại … ăn theo thôi mà! Về nhà, xem qua tự điển thì thấy Soha định nghĩa (“ăn theo”) thế này: Khẩu ngữ: Được hưởng hoặc có được nhờ dựa theo cái khác, người khác, không phải do tự bản thân có hoặc làm nên: “Nước lên cá đuối ăn theo, Lái buôn hết gạo bỏ neo cầm chừng.” (Cdao)
Lời người dịch: Các lý giải của Jude Blanchette và Richard McGregor về sự ra đi và kế vị của Tập Cận Bình trong tương lai là một đóng góp hữu ích cho độc giả quan tâm đến sự nghiệp chính trị của Nguyễn Phú Trọng và sự thống trị của ĐCSVN, vì không có sự khác biệt to lớn trong hệ thống chính trị của Trung Quốc và Việt Nam. Nhưng hai tác giả không nêu lên một khía cạnh thời sự đang tác động cho tình thế là dịch bịnh COVID-19. Cả hai ĐCSTQ và ĐCSVN đều luôn tự hào về các thành tích kinh tế toả sáng mà không cần cải cách tự do chính trị và tự tuyên dương là “cường quốc chống dịch bịnh” hữu hiệu hơn các nước dân chủ phương Tây. Hiện nay, biến chuyển thảm khốc về dịch bịnh tại Việt Nam cho thấy một sự thật khác hẳn và giúp cho người dân có một cơ hội để nhận định đúng đắn hơn về sự lãnh đạo của ĐCSVN.
Ở độ cao hơn 46,000 feet tức là cao hơn 14 kilomets trên vùng sa mạc khô cằn của tiểu bang New Mexico, chiếc phi thuyền không gian màu trắng và bạc đã được hỏa tiễn phóng lên hướng về bầu khí quyển của Trái Đất, cỡi lên một chòm khói khí đốt và nhiên liệu cao su cứng đang cháy rực, theo ký giả Michael Greshko của báo National Geographic. Một vài phút sau, 2 phi công và 4 hành khách của phi thuyền, gồm tỉ phú Richard Branson, đã trôi trên bề mặt của hành tinh chúng ta hơn 53 dặm, tức hơn 85 cây số là độ cao đủ để nhìn thấy độ cong của Trái Đất và trượt qua mối ràng buộc của hấp lực, trong vòng ít nhất vài phút. Chiếc phi thuyền lấp lánh đó -- Virgin Galactic’s V.S.S. Unity – được phóng vào không trung từ một chiếc máy bay lớn hơn để đạt tới độ cao hơn 53 dặm trên bầu trời. Khi nó hoàn tất đường phóng lên, nó xoay cặp đuôi của nó lại, sắp xếp lại hình dạng chiếc phi thuyền để cho phép nó rơi trở lại thượng tầng khí quyển như một trái banh vũ cầu. 15 phút sau khi tách khỏi phi thuyền mẹ,
Câu chuyện của Giannis Antetokounmpo cũng là câu chuyện của những người di dân Mỹ. Bất kể đến từ đâu, bất kể màu da, bất kể chủng tộc, giá trị của người di dân chỉ có thể được đánh giá trên sự phấn đấu và những đóng góp của họ cho quê hương mới.
Như vậy, thì “mạng xã hội” đã lũng đoạn thành công và làm tha hóa đảng Cộng sản chưa, hay là, nói như lời để lại ngày 15/09/2017 của Cố Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nguyên Đại sứ của CSVN tại Bắc Kinh (Trung Cộng) rằng: ”ĐCSVN nay đã hoàn toàn biến chất, trở nên quá hư hỏng, khó có thể sửa chữa được! Đảng đã đánh mất mình, không còn xứng đáng là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội nữa.”
Sóng radio, sóng ánh sáng lan tỏa trong không gian như thế nào ta đã biết. Chỉ còn một thắc mắc: Nguyên do nào khiến một vi phân tử, thí dụ như photon, “bay” nhanh đến thế – có thể nhanh nhất trong Vũ Trụ. Theo truyền thống, trước hết, thỉnh ý tiền nhân. Lên Gúc, tra cứu sách báo khoa học, không thấy các ngài – như Einstein, Newton – dạy bảo gì rõ ràng, dứt khoát về vụ này. Đành trông chờ ở các bậc cao minh của thời đại chúng ta.
Trong bóng hậu trường đàm phán có các sự thật khác mà hồi ký của Khrushchev hé lộ một phần trong chi tiết. Khrushchev kể lại nội dung trao đổi giữa Chu Ân Lai với Hồ Chí Minh. Về diễn tiến trận Điện Biên Phủ, Hồ Chí Minh cho biết tình hình chiến sự là tuyệt vọng, nếu không ngừng bắn sớm, Việt Minh không thể chống Pháp trong lâu dài. Trước nguy cơ này, Viêt Minh, khi cùng đường, có thể tháo chạy qua biên giới tìm nơi trú ẩn và xin Trung Quốc tiến quân sang Việt Nam, như đã làm ở Triều Tiên.
Với riêng những người dân Việt Nam, còn có thêm câu trả lời rằng, chính phủ Mỹ của tổng thống Joe Biden hiện nay cũng là một ân nhân khi đã viện trợ và chấp thuận các hãng chế tạo thuốc ngừa Covid của Mỹ được phép bán thuốc cho Việt Nam vì nội các tiền nhiệm của Trump đã từ chối tham gia chương trình viện trợ nhân đạo COVAX cho thế giới. Chích mũi thuốc Pfizer hay Moderna, hy vọng người dân Việt Nam sẽ nhớ đến điều này.
Đạo đức của thị trường không phải kinh doanh lương thiện mà chính ở chổ đầu tư khôn ngoan và chính chắn sẽ được thị trường tưởng thưởng, bằng ngược lại liều lỉnh hay lảng phí sẽ bị đào thải. Bàn tay vô hình thường xuyên tẩy sạch các sai lầm thì thị trường mới sinh hoạt tự do và lành mạnh. Sách báo kinh tế Hoa Kỳ lại nhắc đến “moral hazard” hay là rủi ro đạo đức. Giống như cháu hư tại bà tức có can thiệp từ bên ngoài - thường là do bàn tay hữu hình của nhà nước – dung dưỡng bao che khiến thị trường trở nên ỷ lại không cải sửa thói hư tật xấu. Thị trường không tự sửa sai sẽ có ngày vấp ngã giết chết nền kinh tế.
“Các ‘đại gia’ đó đã trở về Việt Nam từ thập niên 1990 khi đất nước bắt đầu mở cửa để đổi mới. Họ đầu tư chủ yếu vào bất động sản và xây dựng quan hệ là hai thứ tài sản có lợi nhất trong thời quá độ. Với túi tiền và kinh nghiệm tham nhũng ở Liên Xô và Đông Âu cũ, họ là những người cơ hội (như ‘carpetbaggers’) đặc trưng của thời kỳ tích tụ tư bản hoang dã.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.