Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Đến Đi Những Mùa Xuân

11/10/201900:00:00(Xem: 1085)

  Năm ấy, sau khi pháo giao thừa tắt lịm, không gian trở laị tịch mịch vô cùng, lúc ấy trong nhà bảo sanh có một người mẹ đau bụng chuyển dạ. Lát sau gã oe oe cất tiếng khóc chào đời, thế là gã đến thế giới này! mở đầu cho những cuộc đến đi của đời mình, mà cũng là tiếp nối những cuộc đến đi bất tận của dòng sanh - tử.

  Ngày chào đời, ngày đầu năm mới của đất trời, bảo rằng đầu thì hay là đầu nhưng đầu cũng có thể là cuối. Cái vòng quay miên viễn bất tận ấy làm sao biết điểm nào điểm đầu, điểm nào là điểm cuối? Năm ấy quốc gia chìm trong khói lửa chiến tranh, cuộc chiến tàn khốc nó huỷ hoaị cả một quốc gia: nhà cháy, người chết, ruộng đồng hoang hoá, núi rừng loang lở… bom đạn khói lửa ngập trời. Cuộc chiến rồi cũng qua đi nhưng cuộc chiến trong lòng người thì vẫn tiếp diễn: sự chia cắt, hận thù, ân oán… Cuộc chiến qua đi nhưng niềm tin đã mất, tình thương không còn, lòng nhân cũng cạn. Ý thức hệ tàn phá tất cả những giá trị nhân bản nhất, tàn phá lương tri của cả một dân tộc!

  Cuộc chiến qua đi nhưng ai dám bảo rằng tương lai sẽ không có cuộc chiến khác đến? lẽ vô thường, lý sinh-trụ-dị-diệt mà! Đâu dính mắc đến ý muốn chủ quan của con người. Thói thường người ta hay né tránh, kiêng kỵ nói đến bệnh tật, máu lửa, chết chóc… nhất là những ngày tết, ngày xuân thì càng khắt khe kiêng kỵ! Dù ta có nói đến hay không nói thì sự vận hành của qui luật tự nhiên nó vẫn đến- đi không ngăn ngaị gì! cuộc chiến qua đi, liệu con người ta có học hỏi được gì để tránh hay chí ít giảm bớt những cái haị cho tương lai?

  Ngày gã đến thế gian này cũng là lúc cuộc chiến đã gần đến hồi chung cuộc cho nên những mất mát đau thương, những cảnh địa ngục trần gian… chẳng qua là những cái biết có được qua sách vở, qua trang sử… Tuy nhiên gã có cái rung cảm nhạy bén, cho nên dù không có kinh qua chiến tranh nhưng gã cảm nhận hết sức rõ ràng và sâu sắc những đớn đau như người trong cuộc vậy!

  Ngày tháng tiếp theo tuy gọi là hoà bình nhưng thật ra chẳng hoà mà laị rất bất bình. Đời sống ngột ngạt và hết sức bất an, thế là những cuộc ra đi mới laị bắt đầu. Hàng vạn người ra đi, lao vào cái chết để tìm sự sống. Những con tàu mong manh như lá tre, lá trúc lèn chặt những con người khốn khổ… Bão bùng, giông tố, đói khát, hải tặc… Một nỗi hãi hùng đến cực độ! Không biết bao nhiêu người đã vĩnh viễn nằm laị dưới lòng biển sâu, trong bụng cá, trên hoang đảo, máu và nước mắt mặn cả đaị dương! Không bút mực nào diễn tả nổi nỗi kinh hoàng khổ đau này! chết vẫn chết nhưng người ra đi vẫn cứ đi, bởi vì đâu nên nỗi này?

   Người ta vẫn thường bảo: “Trong phúc có họa, trong hoạ có phúc”. Những cuộc ra đi đầy huyết lệ năm nào giờ đã trổ quả lành. Cuộc sống ở miền đất mới thật tự do, bình an, trù phú, ấm no… Có không ít người thành công vượt bậc. Thế hệ con em sinh ra và lớn lên hưởng bao nhiêu phước lành. Cái xứ sở giàu có, hào phóng, bao dung, nhân bản và khai phóng… tiếp nhận những con người bị ruồng bỏ bởi chính quê hương xứ sở của họ! bất hạnh qua đi, máu lệ người đi trước đã tưới tẩm hạt giống lành nảy nở hoa quả ngọt. Xứ sở này chưa phải là thiên đường. Nó cũng không tự xưng thiên đường như “Những thiên đường mù” (Chữ của nhà văn Dương Thu Hương) vẫn hay vênh váo!  Cái xứ sở này tuy chưa hoàn hảo nhưng nó có thể là một trong những nơi đáng sống của thế gian này, bằng chứng là hàng triệu triệu người trên khắp thế gian vẫn ngày đêm tìm trăm phương ngàn cách để được đến sống ở cái xứ này. Kể cả những kẻ luôn mồm chưởi bới, miệt thị, kích động thù hằn… cũng tìm cách cho vợ con, quyến thuộc đến đây để sinh sống! Sau mấy mươi năm phá hủy một thiên đường ( dẫu chưa hoàn hảo) để xây dựng một thiên đường hoang tưởng, rốt cuộc laị tìm đường đến một xứ sở có nhiều yếu tố của một thiên đường để sinh sống! quả là một vở bi hài kịch của dân ta và của chính bản thân họ (có thể họ hoàn toàn vô minh không ý thức được, hoặc cũng có thể biết nhưng cố tình từ chối không dám thừa nhận).

  Mùa xuân đang về với cố quận. Mình gọi xuân dân tộc, người nhà Phật gọi xuân Di Lặc… dù tên nào đi nữa cũng đều in sâu trong tâm thức của người Việt! Mười thế kỷ trước Mãn Giác thiền sư bảo:

“Xuân khứ bách hoa lạc

  Xuân đáo bách hoa khai”

  Cái hay, cái đẹp, cái nghĩa lý… đã được ngợi ca, xưng tán nhiều rồi; đôi khi nhắc laị thêm thừa hay sáo rỗng nhưng bài thơ -kệ này hay quá, không thể không nhắc! Ví như con người ta cũng vậy, ngày nào cũng ăn ba bữa, tắm gội…nó nhàm thế,  nhưng không thể không ăn, không thể không tắm gội!

Muà xuân đến, muà xuân đi của thiền sư là như thế! thế còn xuân của những gã du tử thì thế nào? những gã du tử lãng đãng, mang mang đến đi trên con đường tình, ngơ ngẩn trên con đường đời, tấp tểnh con đường đạo… chẳng có gì và cũng chẳng quan tâm gì đến đường công danh, lận đận đường mưu sinh, và còn bất tận trên con đường sanh - tử!

“ Xuân đất trời bây giờ mới đến

Trong lòng tôi xuân đến đã lâu rồi”

(thơ TLTP)

Thế đấy! mùa đến mùa đi, cảnh xuân, tình xuân… chỉ là cái cớ, cái ngoại cảnh bên ngoài. Mùa xuân Yên Tử, bảy trăm năm rồi mà vẫn lung linh, vẫn thong dong giữa đất trời. Sông cạn núi mòn, chùa đổ, bia vỡ…nhưng hình bóng Yên Tử vẫn mãi mãi trong tâm hồn dân Việt. Cái không khí âm hưởng của Yên Tử vẫn phảng phất xuân và sống laị mỗi muà xuân. Nhắc đến xuân thì không thể không nói đến mùng năm. Lịch sử dân tộc mấy ngàn năm chưa bao giờ hoan hỷ và tự hào như thế! chưa bao giờ Phương Bắc nể sợ ta đến vậy! Xuân Kỷ Dậu, người anh hùng áo vải cờ đào đã đánh bất ngờ, đánh thần tốc… làm cho giặc chạy trối chết, mở ra một thời kỳ độc lập dài lâu! Muà xuân lịch sử, mùa xuân của aó vải cờ đào

“ Mà may áo vải cờ đào

Giúp dân dựng nước xiết bao công trình”

(Ai Tư Vãn- Lê Ngọc Hân)

  Mùa xuân đến rồi đi, sự việc cũng đến rồi đi và ta đã đến rồi cũng sẽ đi, đi mau thôi! Đi bất chợt không ai ngờ. Trên đời này không có gì chắc chắn cả, chỉ có cái chết là chắc chắn nhất! có thể trăm năm, bảy mươi năm, có thể hôm nay, ngày mai… rất vô thường, đã từng đi, đã từng đến, đến đi vô số lần rồi và sẽ còn vô số lần nữa! Mùa xuân gắn liền với việc lên chùa lễ phật, cầu quốc thái dân an, phong điều vũ thuận, cầu gia đạo bình an, cầu tài, cầu lợi…Cầu gì thì cầu, phải thực hành thì mới được, cầu suông thì không hiệu quả! Chẳng có Phật-Bồ Tát hay thánh thần nào có thể làm cho ta an, nước ta an, gia đình ta thạnh vượng. Phải tự thân hành, phải dấn thân làm thì mới được!

  Muà xuân đên rồi đi, mùa xuân laị về, laị một mùa xuân nữa về rồi đó bạn thân ơi!

 

Tiểu Lục Thần Phong

Ất Lăng thành, 12/2018

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Nguyệt Quỳnh: Anh còn điều gì khác muốn chia sẻ thêm? Trịnh Bá Phương: Trong cuộc đấu tranh giữ đất, nhóm chúng tôi đã tham gia các phong trào khác như bảo vệ cây xanh, bảo vệ môi trường, tham gia biểu tình đòi tự do cho các nhà yêu nước, tham gia các phiên toà xét xử người yêu nước bị nhà nước cộng sản bắt giam tuỳ tiện. Và hướng về biển đông, chống sự bành trướng của Bắc Kinh khi đã cướp Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam! Và mới đây là phản đối bè lũ bán nước đã đưa ra dự luật đặc khu và dự luật an ninh mạng.
Có một câu thần chú mới mà các nhân viên FBI đã khuyên tất cả chúng ta phải học thuộc và nên áp dụng trong thời đại này. Thời đại của cao trào xả súng đang diễn ra khắp nơi ở Hoa Kỳ. Xin giới thiệu cùng bạn đọc một bài viết hữu ích của nữ ký giả Alaa Elassar của đài CNN đang được đăng tải trên liên mạng. Cô đã nêu ra những lời khuyên rất cần thiết cho chúng ta, căn bản dựa trên những video clips huấn luyện và đào tạo nhân viên của FBI.
Since I arrived in the United States in “Black April” of 1975 (the Fall of Saigon) and had been resettled in Oklahoma City to date, I have had two opportunities to go back to schools. The first one I studied at Oklahoma City University (OCU) for 5 years and received my degree in 1981. Having to work during day time, I could only go to school in the evening.
Như vậy, từ hiện tượng đảng viên “quay lưng” lại với đảng đến chuyện dân bỏ mặc mọi việc cho nhà nước lo cho tới chuyện thanh niên, rường cột của Tổ quốc, cũng “khô đoàn” và “nhạt đảng” thì điều được gọi là “nền tảng Tư tưởng đảng” có còn gốc rễ gì không, hay trốc hết rồi?
Niềm vui trong Ngày Hội Ngộ, với đặc san được quý nương “khen” còn mấy ông già chồng chỉ gật gù “mầy giữ gìn sức khỏe để tiếp tục”. Tháng 5 năm 2020 và tháng 5 năm nay vì cái dịch Covod-19, không có cơ hội gặp nhau. Dù “ghét cay ghét đắng” mấy ông già chồng hành hạ “con dâu” nầy nhưng không được dịp hội ngộ với nhau, nhớ nhiều.
Khi đối với cha mẹ có thể cung kính mà vui vẻ, mới là tận Hiếu. Chữ “Kính” nhấn mạnh việc không để xảy ra sơ suất dù rất nhỏ, phụng dưỡng cha mẹ già xuất phát từ nội tâm, với khuôn mặt vui vẻ, mới có thể nói là “Hiếu.” Người già không khác những đứa trẻ, nhiều khi hay tủi thân, hờn dỗi và dễ phiền muộn. Con cái có thể cho cha mẹ ăn uống, hầu hạ cha mẹ khuya sớm nhưng rất khó biết đến nỗi buồn của cha mẹ lúc về già.
Giáo hội xin tán thán tinh thần hộ đạo và tu đạo của quí Thiện nam Tín nữ trong hoàn cảnh tai ương đầy kinh hãi hiện nay. Tất cả năng lực và công đức lớn lao này của người đệ tử, chúng con xin dâng lên cúng dường đức Thế Tôn trong ngày Đản sinh. Hàng trăm ngàn trái tim, hàng vạn ngàn bàn tay siết chặt giữa những thương đau tràn ngập của nhân loại, chúng con nguyện quán chiếu thật sâu sự khổ nạn hiện nay để kiên nhẫn mà vượt qua.
Có lẽ cả Trung Cộng lẫn Hoa Kỳ đều không mong muốn việc khơi mào cho một cuộc xung đột vũ trang, nhưng trước thái độ xác quyết của tổng thống Joe Biden, Trung Cộng hiểu rằng họ đang đối đầu với một đối thủ nguy hiểm gấp bội lần so với những năm qua.
Với chế độ độc đảng toàn trị hiện hành, với bộ máy tam trùng hiện tại, với văn hoá tham nhũng hiện nay, và với chủ trương cấm tự do báo chí cố hữu … thì chuyện sống được bằng lương mãi mãi chỉ là một kỳ vọng xa vời. Vô phương thực hiện!
Hội nghị Paris là một quá trình đàm phán giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt kể từ ngày 13 tháng 5 năm 1968, sau ngày 25 tháng 1 năm 1969 có thêm Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam (MTGPMN) tham gia. Ngoài 202 phiên họp chính thức của bốn bên, còn có thêm 24 cuộc mật đàm khác giữa Henry Kissinger và Lê Đức Thọ, Xuân Thủy. Cuối cùng, hội nghị kết thúc sau bốn năm chín tháng và bốn bên chính thức ký kết Hiệp định Paris để chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 27 tháng 1 năm 1973.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.