Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Hệ Thống Học Vị Và Học Hàm Khoa Học Ở Vài Nước Tây Phương - Phần Ii

13/01/200100:00:00(Xem: 5619)
Một vài so sánh

So với các nước như Mỹ và Anh Quốc, hệ thống bằng cấp ở các nước Pháp, Đức và Nga (hay Liên Xô cũ) có nhiều khác biệt về thời gian đào tạo, đẳng cấp và tên gọi. Ở các nước Âu châu này, hệ thống giáo dục đại học có tính cạnh tranh cao; học sinh được nhận vào học đại học chỉ khi nào đã đỗ một kỳ thi tuyển, có khi rất khó. Ngược lại, ở các nước như Mỹ, Anh Quốc và Úc, học sinh có thể được nhận thẳng vào đại học dựa theo số điểm đạt được trong trung học và kỳ thi tú tài.

Tuy có khác nhau về tên gọi và chương trình huấn luyện, trên bình diện tổng quan, các nước Âu châu này cũng có ba học vị chính: cử nhân, cao học và tiến sĩ. Dựa theo thời gian đào tạo, có thể xem văn bằng Bachelor trong hệ thống Anh-Mỹ tương đương với License của Pháp, Diplom của Đức và Diploma của Nga. Tương tự, có thể xem học vị Master trong hệ thống Anh-Mỹ tương đương với Maitrise của Pháp, Magister của Đức, và một số văn bằng Candidat Nauk của Nga. Cũng dựa theo chương trình và thời gian đào tạo, có thể xem văn bằng Ph.D. của Mỹ và Anh tương đương với Doctorat du Troisième Cycle của Pháp, Doktor của Đức, và một số (không phải tất cả) văn bằng Candidat Nauk của Nga. Văn bằng D.Sc. của Anh và Úc có lẽ tương đương với Doctor d'État của Pháp, Habilitation của Đức và Doktor Nauk của Nga.

Hệ thống học hàm

Học vị là những văn bằng được cấp bởi các cơ sở giáo dục cho học sinh sau khi đã hoàn tất một chương trình học. Học hàm là những chức vụ khoa bảng hoặc do chính phủ hoặc do các trường đại học đề bạt hay trao tặng cho những người giảng dạy hay nghiên cứu khoa học. Thí dụ như Bachelor, Master, và Ph.D. (hay tương đương) là những học vị; và Professor, Lecturer, và Fellow là những học hàm. Ngày nay, hầu hết những người làm công tác giảng dạy đại học đều phải có học vị tối thiểu là Master, nhưng thường là Doctorate hay tương đương.

Trong các trường đại học Tây phương, người ta phân biệt ba cấp nhân viên giảng dạy mà tôi tạm gọi [theo chức năng và trình độ] là: tập sự, trung cấp, và cao cấp. Ở bậc tập sự gồm các chức vụ như Teaching Assistant, Tutor. Proctor, v.v... Những nhân viên này có trách nhiệm làm phụ giảng, chấm bài thi, giám thị trong phòng thí nghiệm, v.v...

Ở bậc trung cấp gồm những nhân viên khoa bảng mang học hàm như Lecturer (ở Anh và Úc), Maitre Assistant (Pháp) và Assistant Professor (Mỹ)(13). Những nhân viên này là những người đang ở bước đầu trong nấc thang sự nghiệp khoa bảng, có nhiệm vụ trực tiếp giảng dạy sinh viên và làm nghiên cứu hoặc độc lập, hoặc dưới sự chỉ đạo của các giáo sư thâm niên.

Trên trung cấp một bậc là những nhân viên khoa bảng mang học hàm Reader (ở Anh và Úc), Maitre de Conférence (Pháp) và Associate Professor (Úc và Mỹ)(14). Những người này là những nhà khoa bảng đang ở trong thời kỳ "quá độ" để chuẩn bị được đề bạt lên một chức vụ khoa bảng cao nhất trong hệ thống học hàm đại học. Trong đại đa số, họ cũng là những nhà nghiên cứu độc lập và có ít nhiều uy tín trong chuyên môn.

Sau cùng là các nhân viên khoa bảng cao cấp, tức những người mang học hàm Professor (ở Mỹ, Anh, và Úc), Professeur (Pháp) hay Senior Fellow (Anh và Úc)(15). Họ là những nhà khoa bảng kinh nghiệm lâu năm và quá trình nghiên cứu có uy tín trên trường quốc tế.

Tiêu chuẩn để được đề bạt vào các chức vụ này thường dựa vào ba cống hiến chính: nghiên cứu, giảng dạy, và phục vụ cộng đồng. Về nghiên cứu, mức độ cống hiến cho kiến thức nhân loại được "đo lường" bằng số lượng và chất lượng các bằng sáng chế (patents) hay các bài báo khoa học (papers) được công bố trong các tạp chí khoa học chuyên môn(16). Tùy theo trường đại học, một Assistant Professor phải có ít nhất là 5 bài báo khoa học; một Associate Professor thường phải có tối thiểu là 30 bài báo khoa học; và một Professor phải có tối thiểu là 50 (thường là 100) bài báo khoa học.

Học hàm "kết hợp"

Ngoài các học hàm được phong hay đề bạt một cách nghiêm túc dựa trên thành tích hoạt động khoa học và giảng dạy, trong một số ngành như y khoa, kinh tế, và kỹ thuật, một số học hàm được trao tặng dựa vào sự quan hệ của người được trao và trường đại học. Trong các bệnh viện, một số bác sĩ chuyên khoa cao cấp, tuy không làm nghiên cứu khoa học và chẳng có công bố công trình khoa học nào đáng kể, có thể được bổ nhiệm chức vụ Lecturer, Assistant Professor, Associate Professor hay thậm chí Professor trong các trường Y. Tương tự, một số chuyên viên nghiên cứu khoa học trong các công ty thương mại, tuy không giảng dạy, nhưng cũng được trao tặng các chức vụ khoa bảng trên.

Những "nhà khoa bảng" này không được trường đại học trả lương, và không phải là nhân viên chính thức của trường. Nhưng khi họ công bố các bài báo khoa học thì trường có quyền kể những bài báo đó như tài sản tri thức của nhà trường! Tuy nhiên, bù lại, họ được phép dùng những danh xưng khoa bảng của trường trong các văn bản liên quan đến hoạt động khoa học. Những học hàm này thường có chữ "Conjoint" hay "Adjunct" phía trước danh xưng "Professor" hay "Associate Professor" để phân biệt với những học hàm "thật". Việc dùng những danh xưng này, trên lý thuyết, thường được các trường đại học kiểm tra rất gắt gao; nhưng trong thực tế, một số người được trao những học hàm này thường lờ và bỏ đi những chữ "Conjoint" hay "Adjunct" để được người ngoài hiểu như những nhà khoa bảng thật!

Học vị và học hàm danh dự

Hầu như tất cả các trường đại học ở các nước Tây phương đều có những kế hoạch để biểu dương tên tuổi và danh tiếng của trường mình đến với thế giới bên ngoài. Để đạt được mục tiêu này, các trường đại học thường dùng chính sách cấp học vị và học hàm danh dự cho những nhân vật quan trọng trong cộng đồng. Những học vị và học hàm danh dự được trao tặng thường là những văn bằng và chức vụ cao nhất trong đại học: "Tiến sĩ" (Honorary Doctor) hay "Giáo sư" (Honorary Professor). Người được trao tặng không nhất thiết phải là cựu sinh viên hay cựu nhân viên của trường, cũng không cần phải có quá trình học vấn nào, mà có thể là một nhà hoạt động chính trị, nhà hoạt động xã hội, một nghệ sĩ, nhà báo, công chức có tiếng tăm. Ở Úc, cựu Thủ tướng Paul J. Keating, người có trình độ học vấn cấp phổ thông trung học, sau khi rời chính trường, được Trường Đại học New South Wales trao tặng học hàm "Honorary Professor", để ghi nhận đóng góp của ông trong nỗ lực đem tên tuổi nước Úc vào thị trường Á châu.

Những học vị và học hàm danh dự, vì thế, có tính ngoại giao, "hữu nghị", hơn là những chứng chỉ khoa bảng. Do đó, trong thực tế, phần đông những người Tây phương được trao học vị và học hàm danh dự ít khi nào dùng nó như là một thành tích hoạt động khoa bảng hay trình độ học vấn; tuy nhiên, một số đồng hương người Việt lại hay thích ký tên mình kèm theo những danh xưng danh dự nơi công cộng.

Ngoài các học hàm "hữu nghị" này, nhiều trường đại học còn phong chức "Emeritus Professor" (cựu giáo sư) cho các giáo sư đã nghỉ hưu, nhưng vẫn còn gắn bó với trường đại học. Danh hiệu này thường được trao tặng cho các giáo sư có đóng góp lớn cho khoa học, cho trường và đã làm việc tại trường trong một thời gian dài.

Vài chức vụ trong các hội đoàn chuyên môn

Một số ngành nghề chuyên môn như y khoa và kỹ thuật thường được tổ chức khá chặt chẽ, mà trong đó trình độ chuyên môn và đẳng cấp thâm niên được phân chia tương đối rõ ràng. Theo cơ cấu tổ chức này, những người hành nghề phải là hội viên của một hiệp hội chuyên ngành. Hiệp hội này có chức năng đề ra những tiêu chuẩn và qui tắc hành nghề, kiểm tra trình độ chuyên môn của hội viên, và quản lý nhân sự trong tổ chức. Theo định kỳ, thường là hàng năm, các hiệp hội chuyên môn này tổ chức một kỳ thi tuyển để kết nạp hội viên. Chẳng hạn như ở Úc và Anh, các bác sĩ muốn hành nghề chuyên khoa, ngoài việc thực tập một thời gian (khoảng 5 năm), còn phải qua một kỳ thi tuyển vào một "college" chuyên môn như "Royal College of Surgeons" (dành cho các bác sĩ giải phẫu), "Royal College of Radiologists" (dành cho các bác sĩ chuyên khoa bức xạ học), v.v... Sau khi thi đỗ, thí sinh sẽ được cấp chứng chỉ hành nghề. Những chứng chỉ này thường có chữ "Fellow" phía trước, như "Fellow of the Royal College geons" hay (FRCS). Giới kỹ sư ở Mỹ cũng có những hiệp hội tương tự như trong ngành y khoa, nhưng cách thức thu nạp hội viên và tên gọi của họ khác ngành y khoa.

Tuy nhiên, trong các ngành nghề khác, có rất nhiều hiệp hội chuyên môn hoạt động một cách bán thương mại, và hình thức tổ chức không chặt chẽ như trong ngành y khoa và kỹ thuật. Phần đông những hiệp hội này mở cửa đón nhận tất cả các hội viên, không phân biệt trình độ học vấn và khả năng chuyên môn, ngay cả sinh viên cũng có thể gia nhập, và không phải qua một kỳ thi tuyển nào. Hội viên phải đóng hội phí mỗi năm. Hội viên thường được gọi là "Member", thay vì "Fellow" như các hiệp hội nghiêm túc. Do đó, là hội viên của những hội này không có nghĩa là một bằng chứng về khả năng chuyên môn hay thành tích hoạt động khoa học.

Ngoài các hiệp hội chuyên môn, còn có những hội đoàn bách khoa, mà trong đó thành viên là tất cả các nhà khoa học hoạt động trong mọi lĩnh vực khác nhau. Những hiệp hội này thường có tên "Academy", chẳng hạn như "The National Academy of Sciences of the United States of America" (tức Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ). Không giống như Liên Xô cũ (nơi mà Viện Hàn Lâm Khoa Học Moscow là một trung tâm nghiên cứu), ở các nước Tây phương như Mỹ, Anh và Úc, viện hàn lâm không phải là một viện nghiên cứu, cũng không phải là tập hợp các viện nghiên cứu, mà là một đoàn thể hay tổ chức tư nhân bất vụ lợi, có chức năng chính là: (i) cố vấn cho chính phủ các chính sách liên quan tới khoa học và kỹ thuật; và (ii) giáo dục và cổ động quần chúng về khoa học và vai trò của khoa học trong xã hội.

Đối với phần đông quần chúng, cụm từ "viện hàn lâm" đồng nghĩa với nơi tập trung của những bộ óc siêu việt, những con người thông thái nhất của một quốc gia. Nhưng trong thực tế ở các nước có nền khoa học tiến bộ cao như Mỹ thì điều này chỉ đúng một phần, vì như nói trên, Viện Hàn lâm Khoa học chỉ là một đoàn thể, là một cơ quan đại diện [có thể là cao nhất] cho các nhà khoa học. Hội viên của hàn lâm viện thường do đồng nghiệp tiến cử và bình bầu. Do đó, có nhiều nhà khoa học có thực tài, nhưng không được tiến cử, nên không bao giờ là thành viên của hàn lâm viện! Trong số khoảng 350 nhà khoa học và xã hội Mỹ đoạt giải Nobel, chỉ có 170 người là thành viên của Viện này. Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ có khoảng 1900 thành viên (thường được dịch là "viện sĩ"); trong đó có khoảng 300 là người mang quốc tịch và ở nước ngoài [Mỹ]. Theo tiêu chuẩn chung, họ phải là những nhà khoa học ưu tú trong lĩnh vực chuyên môn, nhưng do tính cách bình bầu, nên nó cũng lộ ra vài vấn đề liên quan đến việc thiên vị và bè phái. Đã có nhiều người cho rằng Viện này là một câu lạc bộ kín ("close club"), nơi mà chỉ có các nhà khoa học quen biết với nhau qua giao thiệp xã giao, hơn là một cơ quan đại diện chân chính cho các nhà khoa học. Điểm qua danh sách của 1900 thành viên thuộc Viện này, người ta có thể tìm thấy tên của nhiều nhà khoa học thường hay xuất hiện trên các hệ thống truyền thông đại chúng hay có nhiều hoạt động xã hội và chính trị như Albert Einstein, James Watson, v.v. Thành ra, nhiều nhà khoa học lớn, những người tự coi họ là làm khoa học loại "thứ thiệt", những người không thích hư danh hay ồn ào trên các hệ thống truyền thông, thì không thích có mặt trong Viện này. Nhà vật lý học lừng danh Richard Feynman, cũng như nhiều nhà khoa học danh tiếng khác, không phải là thành viên của Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ. Chưa có một khoa học Việt Nam hay gốc Việt nào có chân trong Viện Hàn lâm Quốc gia Khoa học Hoa Kỳ.

Uy tín của một viện hàn lâm không chỉ tùy thuộc vào sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật của một nước, mà còn nhờ vào danh tiếng của các thành viên trong viện. Không ai sẽ ngạc nhiên khi biết rằng các viện hàn lâm khoa học của Mỹ, Anh, Pháp, Đức hay Liên Xô cũ, nơi tập trung các nhà khoa học hàng đầu trên thế giới, được nhiều người nể trọng hơn là các viện hàn lâm khoa học của các nước Phi châu hay Hồi giáo. Cũng cần phải nói thêm ở đây rằng không phải chỉ khoác cái tên "hàn lâm" (academy) vào một đoàn thể hay cơ quan là tự động thành một viện hàn lâm. Trong các "viện hàn lâm khoa học" ở Mỹ, chỉ có Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ là một cơ quan uy tín nhất; các viện hàn lâm khác, mặc dù cũng dùng chữ "academy", như "The New York Academy of Science" (NYAS hay Viện Hàn Lâm Khoa Học New York) là một đoàn thể thương mại, không có uy tín gì lớn trong cộng đồng khoa học. Bất cứ một sinh viên nào trên thế giới đều có thể trở thành "viện sĩ" nếu họ nộp tiền hội phí hàng năm cho Viện này. Do đó, thành viên của NYAS không phải là một danh dự, không phải là chứng nhận về sự thành đạt trong hoạt động khoa học. Tuy nhiên, tôi thấy đã có nhiều nhà khoa học Việt Nam đã bị lầm và bị "làm tiền" bởi Viện này (17).

Vài nhận xét chung

Người không quen với hệ thống khoa bảng và bằng cấp có thể sẽ thấy chóng mặt với những tên gọi những học vị và học hàm trên đây, và sẽ đặt câu hỏi là người được cấp những văn bằng này phải đạt những tiêu chuẩn gì. Thực ra, đứng trên bình diện quốc gia, không có tiêu chuẩn nhất quán giữa các trường đại học trong việc cấp những văn bằng này. Mỗi trường đại học có những tiêu chuẩn riêng. Có khi mỗi thí sinh cũng được xét theo từng trường hợp riêng biệt. Có sinh viên ra trường tiến sĩ chỉ trong vòng sau 3 hay thậm chí 2 năm theo học, nhưng cũng có sinh viên phải miệt mài cả tám năm để lấy mảnh bằng Tiến sĩ. Cũng có những trường hợp hiếm hoi khi sinh viên theo học chương trình Tiến sĩ, nhưng khi ra trường chỉ được thẩm định và cấp bằng Cao học. Lại có người nghiên cứu cả mười năm, nhưng chẳng viết được luận án gì!

Đôi khi, tự những học vị Ph.D., M.S., B.S. nó bao hàm một nội dung rộng đến mức... chẳng có nghĩa gì cụ thể. Trên lý thuyết, văn bằng Ph.D. là học vị cao nhất ở Mỹ và Úc; tuy nhiên, cũng có nhiều "loại" Ph.D. với nhiều chất lượng khác nhau. Có nhiều người có văn bằng Ph.D., nhưng độ hiểu sâu và kiến thức chưa chắc đã hơn một người có học vị Cử nhân, thậm chí Tú tài, thời Pháp thuộc ở Việt Nam.

Ngoài ra, ở Mỹ còn có tệ nạn "nhà máy văn bằng" (diploma mills) hoạt động hoặc dưới hình thức dạy học hàm thụ, hoặc qua hệ thống dạy học từ xa với sự trợ giúp của máy vi tính và mạng internet. Phần lớn những trường này thực chất chỉ là những văn phòng nhỏ tại nhà, thậm chí chỉ là nhà để xe hay nhà bếp, nhưng họ lại tự gắn cho họ những cái tên "lập lờ đánh lận con đen" (mà nếu công chúng không để ý kỹ có thể lẫn lộn với những trường danh tiếng của Mỹ) như "Harbard University", "Universitas Harvardiana", "Atlanta Southern University", v.v... Mục đích duy nhất của các sơ sở thương mại này là bán bằng cấp với giá từ 3000 tới 5000 đô-la Mỹ. Có "trường" còn bán tới 500 bằng tiến sĩ hàng tháng! Do đó, một học vị, nếu không "đi kèm" với một trường đại học nghiêm chỉnh được công nhận, cũng có thể không có giá trị khoa bảng gì.

Tiêu chuẩn và phẩm chất học hàm thường mang tính địa phương; tức là cũng có sự khác nhau giữa các thời điểm, giữa các nước, và thậm chí giữa các trường đại học trong cùng một nước. Một vị Professor ở Mỹ có thể chỉ được xem tương đương với một Associate Professor ở Pháp hay Anh, và ngược lại. Tương tự, một Assistant Professor ở một trường danh tiếng tại Mỹ có thể trở thành Professor ở Nhật, Hồng Kông hay Singapore.

Thời điểm cũng là một yếu tố quan trọng. Vài mươi năm trước đây, ở các nước như Anh, Úc, Pháp, Đức và Nga, mỗi Ban chuyên môn (Department) trong một trường đại học chỉ có một người duy nhất mang học hàm "Professor", những người còn lại chỉ là "Associate Professor" hay "Lecturer". Những vị người mang hàm "Professor" thời đó được phép dùng danh hiệu này suốt đời, dù họ chuyển từ trường đại học này sang trường đại học khác. Học hàm "Professor", do đó, cực kỳ cao quí ở các nước này trong thời gian trước đây. Nhưng ở một góc độ khác, có thể nói vấn đề một-Professor này cũng là nguyên nhân làm cho nhiều nhà khoa bảng ở các nước trên chuyển sang Mỹ nghiên cứu và giảng dạy, vì ở Mỹ, một Ban có thể có nhiều (thậm chí hàng trăm) người mang hàm "Professor". Các nhà khoa bảng trẻ ở Mỹ không phải chờ đến lúc lục tuần để được phong hàm "Professor"! Tuy nhiên, để chống lại dòng "chảy chất sám" này, ngày nay, ở các nước như Anh, Đức và Úc, học hàm "Professor" đã được "Mỹ hoá", và mỗi Ban có thể có nhiều người mang học hàm "Professor". Các nhà khoa bảng trẻ do đó có cơ hội mang học hàm này hơn trước.

Vì học hàm "Professor" bị Mỹ hóa, ngày nay, có quá nhiều Professor và phân biệt ai giỏi, ai dở là một việc làm cực kỳ khó khăn vì trong nhiều trường hợp, học hàm này không còn phản ảnh trung thực khả năng chuyên môn của nhà khoa bảng nữa. Thực vậy, nhiều giáo sư ở các trường đại học lớn ở Mỹ và Úc cũng có thể "dốt" (huống hồ chi là học trò Ph.D!) Ngược lại, cũng có vô số người không có học hàm "Giáo sư" nhưng lại cực kỳ giỏi. Cũng có nhiều nhà khoa bảng có hàng trăm bài báo khoa học và trên phương diện chuyên môn, còn danh tiếng hơn nhiều Professors khác, nhưng họ chỉ giữ chức Assistant Professor, thậm chí không có học hàm nào! Thành ra, trong hoạt động khoa học, bằng cấp và danh xưng là những điều không được đặt nặng. Thực ra, đối với phần lớn các nhà khoa học chân chính, những học hàm và danh xưng hoàn toàn vô nghĩa, ngoài việc gây ấn tượng và "lấy le" với những người dân thường hay những nhà chính trị thiếu hiểu biết về hoạt động khoa học.

Xuất phát từ truyền thống lâu đời, người Việt Nam ta trọng giới khoa bảng và những người có bằng cấp cao. Nhưng sự trọng bằng cấp của số đông dân chúng đã sinh ra tệ nạn khệnh khạng bằng cấp trong giới có học hay có chút chữ nghĩa. Ngày nay, chỉ cần mở một tờ báo Việt ngữ hải ngoại ở California hay Sydney, người ta sẽ phải chóng mặt về những bằng cấp và danh xưng của các vị cử nhân, luật sư, kỹ sư, tiến sĩ, giáo sư, này nọ. Cố nhiên, một số bằng cấp và học hàm này là thật, do chính đương sự đạt được trong quá trình học tập và nghiên cứu, nhưng cũng có một số là những bằng cấp được chuyển ngữ một cách bịp bợm, nhằm lòe đồng hương, hay thậm chí một số học vị và học hàm "dỏm". Thực vậy, có lẽ do nhu cầu kinh tế hay môt lý do nào đó, người có bằng cấp, do vô tình hay cố ý, cũng đã đôi khi lạm dụng bằng cấp của mình và danh xưng. Nhiều trường hợp, người ta quảng cáo là "Giáo sư" một đại học nào đó, nhưng lại cố tình lờ đi thực chất học hàm đó chỉ là một chức "Conjoint" hay trường hợp người ta quảng cáo là "Fellow" của một đoàn thể chuyên môn về giải phẫu, nhưng trên thực tế họ chỉ là "Member"! Có người chỉ có văn bằng cử nhân (không phải y khoa) nhưng lại tự xưng là "bác sĩ" giữa công cộng!(18)

Sự khệnh khạng bằng cấp và hám danh không chỉ có trong cộng đồng người Việt hải ngoại, mà còn rất phổ biến ở trong nước. Ở Việt Nam, có thời người ta còn phân biệt Tiến sĩ đệ tam cấp, Phó tiến sĩ và Tiến sĩ. Cũng như ở một vài nước Âu châu, ở Việt Nam, một số nhà khoa bảng thích dùng cả hai học hàm và học vị trước tên của họ, kiểu như "Giáo sư Tiến sĩ ABC". Thậm chí có thời người ta còn phân biệt "Giáo sư I" và "Giáo sư II"!" Trong các buổi lễ tốt nghiệp, người ta đọc tên các vị giáo sư kèm theo những học vị và học hàm dài lê thê, khiến cho người nghe phải sốt ruột. Một nhà khoa học danh tiếng ở trong nước và cũng là một nhà toán học có tiếng trên thế giới có lần nhận xét một cách chua chát: "Không có nước văn minh nào mà trên mặt báo hay các buổi lễ long trọng xuất hiện một mật độ học vị, bằng cấp, chức danh khoa học dày đặc nhưng không mấy tương xứng với thực chất như nước ta." Tôi thiết tưởng nhận xét này vẫn hợp với tình hình trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại.

Cuối cùng, một điều khá phổ biến trong những người có bằng cấp là họ thường hay nghĩ rằng học vị và học hàm của họ là ưu việt hơn bằng cấp của người khác, trường đại học hay cao đẳng và các giáo sư mà họ theo học là danh tiếng hơn, tốt hơn, giỏi hơn, v. v... những nơi khác và giáo sư khác. Điều này không những chỉ thấy ở giữa cá nhân, mà còn giữa các quốc gia. Dù không nói ra cụ thể, nhưng chất lượng bằng cấp thường được đánh giá một cách chung chung dựa vào nền khoa học kỹ thuật của một nước hơn là dựa vào khả năng của người có bằng cấp. Chính vì thế mà những nước đã phát triển như Mỹ, Anh, Úc, Pháp, v.v. không chịu công nhận bằng cấp từ các nước nghèo hơn như Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ, v.v... Lý do không công nhận bằng cấp nước ngoài thường được núp dưới danh nghĩa "tiêu chuẩn", tức là theo họ, những chuyên viên được đào tạo trong các nước đang phát triển có tiêu chuẩn thấp hay không đạt tiêu chuẩn mà họ đưa ra. Chính người viết bài này từng được hỏi một cách hết sức mỉa mai là "Anh biết làm phân số không"" khi xin học lại đại học ở Sydney (Úc)! Thật là khôi hài và ấu trĩ nếu người Úc cho rằng kỹ sư của họ tài giỏi hơn kỹ sư người Đức, hay bác sĩ của họ được đào tạo kỹ hơn các bác sĩ người Mỹ hay Pháp, hay các nhà toán học của Úc khá hơn các nhà toán học Việt Nam hay Ấn Độ. Thế mà đó là những nguyên nhân họ đưa ra để không chịu công nhận bằng cấp của các nước ngoài Úc! Nhưng xét cho cùng, ngoài một vài lý do chính đáng, sự không công nhận bằng cấp nước ngoài cũng là một cách phô trương thanh thế của họ, những nước giàu có, và bảo vệ thị trường lao động cho sinh viên người bản xứ, chứ chẳng liên quan gì đến tiêu chuẩn và phẩm chất đào tạo.

Mục đích thực và chính của việc học hành là để mở mang trí tuệ, trau giồi kiến thức, rèn luyện nhân cách, và làm người hữu ích cho xã hội. Bằng cấp và chức vụ khoa bảng không phải dùng để đo những kết quả trên, mà chỉ là những phân chia đẳng cấp khoa bảng rất tương đối. Bằng cấp, dù là học vị cao nhất như tiến sĩ, chỉ là một bước đầu trong hoạt động khoa học, và tự nó không nói lên được khả năng chuyên môn của nhà khoa học. Tương tự, một học hàm cao nhất như giáo sư cũng không phản ánh chính xác được mức độ đóng góp vào kho tàng tri thức của nhân loại. Người trí thức chân chính chỉ nghĩ đến những đóng góp có giá trị nhằm đem lại phúc lợi thực sự cho nhân loại, và không bao giờ phụ thuộc vào học vị, học hàm hay các danh xưng phù phiếm để gây ảnh hưởng trong cộng đồng.

Nguyễn Văn Tuấn

Ghi chú

Người viết bài này xin chân thành cám ơn anh Tiến sĩ Mai Thanh Truyết, một Nhà giáo Việt Nam, người đã đọc bản thảo và góp ý làm sáng tỏ hơn về hệ thống bằng cấp ở Pháp.

[1] Thực ra, Universitas of Doctors chỉ là một hiệp hội (Guild) của những "Thầy". Theo tiếng Latin, chữ Doctorem cũng có nghĩa là "Thầy".

[2] Nhiều tờ báo Việt ngữ hải ngoại thường dịch [không chính xác] những trường "Community College" ở Mỹ là "Đại học cộng đồng", và những người tốt nghiệp từ các trường này là "kỹ sư".

[3] Tuy nhiên, trong những năm gần đây các trường này đều trở thành đại học chính thức. Chẳng hạn như trường "University College of Bristol" tuy thành lập từ năm 1876, nhưng mãi đến năm 1909 mới được công nhận là "The University of Bristol"!

[4] Ở Việt Nam còn xảy ra một sự ngộ nhận hết sức "tai hại" trên báo chí về một em học sinh người Việt Nam, 17 tuổi, đỗ đầu ở một trường trung học tư thục ở Anh; nhưng có lẽ vì nhầm lẫn trường "college" mà em theo học là "đại học", nên nhà báo đã vội viết bài ca ngợi em là một "thần đồng tốt nghiệp đại học năm 17 tuổi"!

[5] Tôi không biết tiếng Việt ta có danh từ nào để dịch văn bằng "Associate". Có người đề nghị dùng "Chứng chỉ" để dịch chữ này; tuy nhiên "Chứng chỉ" có lẽ chính xác hơn với "Certificate". Tôi đề nghị dùng cụm từ "Cử nhân dự khuyết" cho văn bằng "Associate".

[6] Hai văn bằng Bachelor of Science (B.Sc. hay B.S.) và Bachelor of Arts (B.A.) thường được dịch là "Cử nhân Khoa học" và "Cử nhân Văn chương". Tuy nhiên, hai văn bằng này rất bao quát. Một sinh viên theo học môn Tâm lý học (Psychology) có thể tốt nghiệp với văn bằng B.A. nếu bộ môn này chịu sự quản lý của phân khoa Văn chương (Faculty of Arts), hoặc B.Sc. nếu bộ môn Tâm lý học chịu sự quản lý của phân khoa Khoa học (Faculty of Science).

[7] Dựa vào tính cách đào tạo và chương trình học, tôi đề nghị dùng cụm từ "Cao học dự khuyết" cho văn bằng "Graduate Diploma".

[8] Ở hải ngoại, văn bằng Master thường được dịch là "Cao học". Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, chính quyền trong nước đã có văn bẳn chính thức gọi những người có văn bằng Master là "Thạc sĩ".

[9] "Doctorate" là một danh từ chung dùng để chỉ học vị "Tiến sĩ". Chữ "Tiến sĩ" có lẽ được xuất phát từ chữ Hán mà tiếng Anh phiên âm là "Chin-shih" (và tiếng Anh dịch là "Doctor"). Hình như văn bằng này được cấp lần đầu tiên vào năm 1313 (dưới triều đại nhà Tống); vào năm này, một cuộc thi tuyển đặt dưới sự chủ tọa của vua được tổ chức. Qua kết quả của kỳ thi này, có 300 thí sinh được cấp danh hiệu Chin-shih; trong số này, có 75 người gốc Mông Cổ, 75 người quê quán ở miền Nam Trung Quốc, 75 người quê quán ở miền Bắc Trung Quốc, và 75 người có quốc tịch ngoại quốc.

[10] Trong một bài báo gần đây ở trong nước, một nhà giáo dục đề nghị dùng cụm từ "Tiến sĩ cao cấp" để gọi các thí sinh này!

[11] Học vị Doctorat du Troisième Cycle thường được dịch sang tiếng Việt là "Tiến sĩ đệ tam cấp", và Doctorat d'Etat là "Tiến sĩ quốc gia". Tôi không rõ học vị Doctorat Université được dịch sang tiếng Việt là gì.

[12] Ở trong nước, Kandidat Nauk (Candidate in Science) được dịch là "Phó Tiến Sĩ", và Doktor Nauk (Doctor of Science) được dịch là "Tiến Sĩ". Tuy nhiên, trong năm 1999, Chính phủ Việt Nam đã có quyết định gọi cả hai văn bằng này chung là "Tiến sĩ".

[13] Trong các đại học Anh và Úc, không có chức vụ Assistant Professor, và những chức vụ như Lecturer và Senior Lecturer được xem là tương đương hay cao hơn với Assistant Professor của Mỹ. Tuy được gọi là "Assistant Professor", nhưng những giáo sư này không phải là phụ tá (assistant) cho các giáo sư cao hơn, mà là một giáo sư hoàn toàn độc lập. Vì thế, các học hàm ở bậc này có lẽ nên dịch sang tiếng Việt là "Giảng sư".

[14] Trong một vài trường đại học theo hệ thống của Anh Quốc, học hàm "Reader" được xem là tương đương với "Associate Professor". Ở trong nước, Associate Professor được dịch là "Phó Giáo sư".

[15] Học hàm "Professor" thường được dịch là "Giáo sư" ở trong nước. Đây là một học hàm cao nhất trong đại học. Tuy nhiên, cũng có trường đại học ở Mỹ phong học hàm "University Professor" (thường được xem là cao hơn cả "Professor") cho các giáo sư có thành tích nghiên cứu khoa học xuất sắc và có đóng góp lớn cho trường.

[16] Các bài báo này thường phải qua một giai đoạn "kiểm duyệt" tương đối gắt gao (thường từ 6 tháng đến một năm) trước khi được chấp nhận cho xuất bản. Người kiểm duyệt thường là đồng nghiệp làm cùng ngành, nhưng đương sự (người có bài báo được duyệt xét) không biết họ là ai. Các tạp chí có chất lượng cao chỉ nhận công bố khoảng 1 tới 20% các bài báo khoa học được gửi tới tòa soạn. Vì thế, nhá khoa học nào có nhiều công trình được công bố trên các tờ tạp chí có uy tín thường dễ được nể trọng trong ngành nghề của mình, và có cơ hội được thăng tiến trong nấc thang khoa bảng.

[17] Ở trong nước, các thành viên trong các Academy (Hàn lâm viện) thường được gọi là "Viện sĩ" (Hay Academician). Đây là một học hàm rất nghiêm túc. Tuy nhiên, phần đông các nhà khoa học ở trong nước và ngay cả ở hải ngoại hình như vẫn chưa phân biệt được sự khác nhau giữa một viện hàn lâm nghiêm túc và những viện hàn lâm thiếu nghiêm túc như "The New York Academy of Science", nên vẫn tự nhận mình là "Viện sĩ" trong các viện hàn lâm "dỏm" này.

[18] Có người Việt tốt nghiệp Bachelor of Optometry (tạm dịch: Cử nhân Khúc xạ học, tức là đo mắt), nhưng anh lại trịnh trọng quảng cáo là "Bác sĩ Nhãn khoa".

Nguyễn Văn Tuấn

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Trong mọi hoàn cảnh Anh vẫn không ngừng hoạt động, Anh vẫn cứ đứng ở ngoài nắng - chữ của Mai Thảo. Với tôi, Nhật Tiến - Én Nhanh Nhẹn RS, vẫn cứ mãi là một Tráng Sinh Lên Đường
Lời dịch giả: Đây là bức tâm thư của cựu tổng thống George W. Bush gởi người dân Mỹ trong lúc cả nước đang sôi sục sau cái chết của George Floyd.
NYC với mình như căn nhà thứ hai, thế mà đã hơn một năm rồi mới lên lại. Thường thì hay lên mùa Giáng Sinh, hay Tháng Hai mùa đông để coi tuyết ở Central Park, và tháng Mười Một để coi lá vàng. Lần nầy chỉ mới tháng ba, nhưng có lý do
Xúc động với kỷ niệm. Thơ và nhạc đã nâng cảm xúc về những cái đẹp mong manh trong đời... Đêm Nhạc Người Về Như Bụi, và buổi ra mắt Tuyển Tập 39 Văn Nghệ Sĩ Tưởng Nhớ Du Tử Lê đã hoàn mãn hôm Thứ Ba 14/1/2019.
chiều rớt/xanh/ lưỡi dao, tôi khứng! chờ ... mưa tới. Hai câu cuối trong bài “chiều rớt/xanh/lưỡi dao” anh viết cuối tháng 9/2019 như một lời giã biệt. Và, cơn mưa chiều 7.10.2019 đã tới, anh thay áo mới chân bước thảnh thơi trở về quê cũ. Xin từ biệt anh: Du Tử Lê!
trong nhiều năm qua, lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng trưởng ở mức hai con số, nhưng tỷ lệ quay trở lại thấp (chỉ từ 10% đến 40%) . Chi tiêu của khách du lịch quốc tế tại Việt Nam không cao
Theo bảng xếp hạng chỉ số cảm nhận tham nhũng của Tổ Chức Minh Bạch Quốc Tế năm 2018, Việt Nam đứng hạng 117/ 180 với mức điểm 33/100. Bao giờ mà chế độ hiện hành vẫn còn tồn tại thì “nạn nhũng nhiễu lạm thu” sẽ vẫn còn được bao che và dung dưỡng khắp nơi, chứ chả riêng chi ở Bộ Ngoại Giao
Chính phủ Hoa Kỳ đã hứa tài trợ 300 triệu đô la để làm sạch môi trường bị nhiễm chất độc da cam của phi trường Biên Hòa và hôm 5 tháng 12 là bắt đầu thực hiện việc tẩy rừa tại khu vực này, theo bản tin hôm 6 tháng 12 của báo Tuổi Trẻ Online cho biết như sau.
Hơn 1.000 người có thể đã bị giết bởi lực lượng an ninh ở Iran trong các cuộc biểu tình gần đây, theo một quan chức cấp cao của bộ ngoại giao cho biết hôm Thứ Năm
Bốn người được báo cáo đã bị giết chết hôm Thứ Năm sau một vụ cảnh sát rượt đuổi qua nhiều quận đã kết thúc trong trận đấu súng trên đường Miramar Parkway theo sau một tên cướp có vũ khí tại Coral Gables, tiểu bang Florida.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.
Người Việt Phone
Hôm thứ Hai (25/01/2021), thượng viện Mỹ đã phê chuẩn bà Janet Yellen là người phụ nữ đầu tiên lãnh đạo Bộ Tài chính.
Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình cảnh báo nguy cơ "Chiến tranh Lạnh mới" nếu lãnh đạo thế giới không gác lại đối đầu khi phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới.
Một đám cháy đã bùng phát tại Viện Huyết thanh ở bang Maharashtra, Ấn Độ, nơi đang sản xuất hàng triệu liều vaccine Covid-19.
Tiến sĩ Anthony Fauci, cố vấn y tế của Tổng thống Mỹ Joe Biden, đã lên tiếng cảm ơn WHO vì dẫn dắt nỗ lực ứng phó Covid-19, trái ngược với chỉ trích thời ông Trump.
Loạt sắc lệnh được ký nhanh chóng ngay trong ngày làm việc đầu tiên của tân Tổng thống Mỹ Joe Biden tại Nhà Trắng nhằm thực hiện những lời hứa tranh cử của ông.