Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến: Cầu Cống & Tuyển Tập

01/10/201910:46:00(Xem: 2116)

C:\Users\Tien Tuong\Desktop\Capture\2019-07-29_074413.png


Mồm miệng đỡ chân tay. 

Thành ngữ 


Vài năm trước –
từ Miên – tôi sang Lào bằng cửa khẩu Stung Treng rồi lần lên phía Bắc qua Pakse, Savannakhet, Vientiane, Vang Vieng, Luang Prabang …   Sau cuộc hành trình này, tôi đi đến một kết luận (hơi) nghiêm trọng: “Người Lào hoàn toàn không có khái niệm gì về thời gian cả.” Hay nói cách khác, bằng ngôn ngữ âm nhạc của Phạm Duy, là họ luôn cố giữ “đừng cho không gian đụng thời gian.” Bất cứ đâu – ở đất nước này – bạn cũng có thể thấy những cô gái Lào đang thản nhiên tắm suối, hay hồn nhiên ngồi quay sợi và dệt vải, cứ như thể là chúng ta vẫn còn đang sống ở Thời Trung Cổ vậy.

2019-07-28_002358

Ảnh (tnt) chụp ở Nong Khieu, Thị Trấn Giữa Đèo, Bắc Lào 2016


Mỗi năm một tuổi. Năm nay, tôi già hơn và mệt mỏi hơn (thấy rõ) nên chỉ thoáng nghĩ đến những con đường nhỏ bé/ngoằn ngoèo/dằn xóc ở Lào cũng đã cảm thấy hơi yếu trong người. Bởi vậy, thay vì đi xe, tôi bay luôn đến Luang Namtha (rồi) từ đây mới tà tà xuôi Nam bằng xe hoặc ghe đò. 

Đến Si Phan Don (Quần Đảo Bốn Ngàn) ở cực Nam Lào có thể nghe được tiếng gà  xao xác gáy bên kia bờ sông, thuộc đất Cambodia. Gọi 4000 Islands là quần đảo nghe cho nó vui (tai) chứ thực sự thì hầu hết đều chỉ là những cồn cát nhỏ, bỏ hoang, không có chi ngoài cây cỏ/ trâu bò và cò vạc.

Hai trong ba hòn đảo lớn tập trung dân cư là Don Det và Don Khone, cách nhau cỡ năm bẩy cây số, được nối liền bằng một cái cầu. Đi thuyền cũng tiện nhưng tôi quyết định dùng xe (đạp) chơi, trông cho nó có vẻ trẻ trung.

Thiệt là một “quyết định” vô cùng … ngu xuẩn!

Ai mà dè đường đất gồ ghề và mấp mô dữ vậy, hả Trời. Lại đang giữa mùa mưa nên nhiều đoạn ngập ngụa bùn lầy và trơn trượt. Ngay cả đường vào tình yêu (“có trăm lần vui có vạn lần buồn”) theo như cách mô tả của Y Vân chắc cũng không đến nỗi khó khăn và gian truân đến thế. Tôi đạp vã mồ hôi mà chả thấy xóm làng, nhà cửa gì hết trơn hết trọi. 

Thỉnh thoảng mới có một cô hay một cậu đi Honda cùng chiều, hoặc trái chiều (cũng lấm len bùn đất) khiến tôi mừng húm:

  • Hello, từ đây tới Don Khone còn bao xa?

  • Hello, how far from here to Don Khone?

Dù chắc chắn không ai biết tiếng Việt hoặc tiếng Anh nhưng chỉ nhìn vào hình ảnh trước mắt (một ông già mặt mũi bơ phờ, áo ướt đẫm mồ hôi, ngồi trên cái xe đạp bê bết đất bùn) họ đều “thầm hiểu” vấn đề. Tất cả đều trả lời y như nhau, và đều trật lất:

  • 100 meters. 100 metres …

Mới đầu, tôi tưởng thiệt. Sau gần chục lần (“100”) như thế tôi vẫn thấy mình đang còn ở giữa đồng không mông quạnh. Từ đó, tôi mới ngộ ra rằng người Lào cũng hoàn toàn không có ý niệm chi rõ ràng, hay chính xác, về không gian cả. Ở xứ sở này, xem chừng, chả ai phải bận rộn hay vội vàng gì. Cứ đi lai rai, trước sau gì cũng tới thôi. Hỏi han, thăm dò làm chi cho má nó khi.  

Mà thiệt, cuối cùng, tôi cũng đến Don Khone! Nơi đây hoang dại, trầm lắng và thơ mộng hơn hẳn hai hòn đảo lân cận. Xuyên suốt chỉ có mỗi một con đường đất hẹp, chạy dọc theo bờ sông. Nhờ thế tôi “khám phá” ra ngay được một “di tích” nhỏ: La Villa Patrimonial Francais.

Ngôi biệt thự này được xây vào năm 1896 để dùng làm nơi nghỉ mát cho mấy ông quan thời thuộc địa. Nay thì nó trở thành khách sạn Sala Done Khone Hotel với giá đắt gấp đôi (U.S.A dollars 24 một ngày) những nhà trọ kề bên. Lý do giản dị chỉ vì đây đã từng là nơi qua đêm của nhiều quan chức cao cấp, cỡ toàn quyền và cả đống những ông đại sứ – theo như (nguyên văn) của mấy dòng chữ ghi trên tấm biển quảng cáo, ghi ngay ở cổng vào: Cette villa a acceullie de nombreux officers de hau rant tel M. Paul Dumer, le gouverneur de l’Indochine francaise et de nombreux ambassadeurs venus visiter 4000 iles.

2019-07-26_170149

Ảnh (tnt) chụp ở Si Phan Don, Sleepy Island, Nam Lào 2019


Oh! Tưởng ai chứ Paul Doumer thì dù tên ông bị viết sai (Dumer) tôi vẫn nhận ra. Ông nổi tiếng không chỉ vì tài ba mà còn vì hay được “báo chí cách mạng VN” nhắc đến với những  lời lẽ không lấy gì làm ưu ái:

“Cần phải nói rõ, Paul Doumer được cử giữ chức Toàn quyền Đông Dương từ năm 1897 đến 1902. Là nhà cai trị độc tài, vừa đến Việt Nam, Paul Doumer liền nghĩ đến một chương trình kiến thiết đầy tham vọng, mục đích nhằm khai thác kinh tế Việt Nam. Dưới thời của ông, chính sách thuộc địa của Pháp tại Việt Nam bước sang một bước ngoặt mới. Ông chủ trương biến chế độ bảo hộ thành chế độ thực trị, xóa bỏ chủ quyền và thống nhất của Việt Nam. Ông tổ chức khai thác cùng kiệt nguồn tài nguyên của các nước Đông Dương, biến nơi đây thành một thị trường cho kỹ nghệ và thương mại của thực dân Pháp. Ông đã cho kiến thiết lại hệ thống hạ tầng cơ sở tại Đông Dương nhưng người dân Việt phải chịu sưu thuế rất nặng nề để phục dịch và chu cấp cho việc này.” 

Wikipedia (giọng Hà Nội) cũng thế:

“Ông chủ trương biến chế độ bảo hộ thành chế độ thực trị, xóa bỏ chủ quyền và thống nhất của Việt Nam, mang đến phân hóa rõ rệt giữa ba miền. … Ông cũng tổ chức khai thác tài nguyên của các nước trong Liên hiệp Đông Pháp, biến Đông Dương thành một thị trường cho kỹ nghệ và thương mãi của Pháp, và cùng lúc thành lập nơi đây một tiền đồn kinh tế và quân sự vững chắc của thực dân Pháp tại toàn cõi Viễn Đông.”

Tưởng cũng nên nghe thêm một tiếng nói khác, chừng mực và khách quan hơn, từ trang mạng có trụ sở đặt tại Hoa Kỳ – TRITHUC.VN

“Paul Doumer là một chính khách người Pháp, sinh năm 1857. Ông làm Toàn quyền Đông Dương từ 1897-1902. Cuốn hồi ký “Xứ Đông Dương” là một tài liệu quý viết riêng về hành trình, nhận định và trải nghiệm của ông trong giai đoạn 5 năm ở Đông Dương, mà phần lớn là ở Việt Nam (thời đó gọi là An Nam). 

Về con người của Paul Doumer, ông là người có kiến thức nhiều lĩnh vực, là Bộ trưởng tài chính Pháp trước khi sang Đông Dương nhận chức Toàn quyền. Sau này ông còn làm Tổng thống Pháp từ 1931-1932. Quyển “Xứ Đông Dương” ghi lại nhiều nhận định của ông về nhiều mặt: địa lý, kinh tế, hành chính, con người, văn hóa… ở những nơi ông đi qua. 

Để phục vụ nước Pháp hết mình, Doumer đã ra sức chấn chỉnh bộ máy quản lý ở các xứ thuộc địa, đồng thời xây dựng nhiều cơ sở hạ tầng tại Việt Nam, đáng chú ý như: cầu Doumer (sau đổi tên thành cầu Long Biên) – được coi là một kỳ quan của Đông Dương thời ấy, cầu Thành Thái (tức cầu Tràng Tiền) bắc qua sông Hương ở Huế và cầu Bình Lợi bắc qua sông Sài Gòn. 

Ông cũng chính là người đã ủng hộ và hậu thuẫn công việc nghiên cứu của Yersin, đồng ý xây dựng thành phố Đà Lạt và đưa cây cao su vào trồng. Dưới thời cai trị của Paul Doumer, Hà Nội là thành phố châu Á đầu tiên có điện. 

Paul Doumer hành động hoàn toàn vì lợi ích của nước Pháp. Nhưng ông là một nhà kinh tế có tài và có tầm nhìn. Chính do vậy, người Pháp có lợi nhưng xứ thuộc địa cũng được hiện đại hóa, Tây phương hóa.” 

Phạm Văn Đồng giữ chức Thủ Tướng 32 năm (19551987) Lê Duẩn làm Tổng Bí Thư 25 năm nhưng cả hai không để lại cho hậu thế một ngôi trường hay một ngôi trường hay cây cầu nào ráo. Hồ Chí Minh cũng thế. Ông là Chủ Tịch Nước kiêm Chủ Tịch Đảng 24 năm trời nhưng chỉ để lại cho đời Hồ Chí Minh Toàn Tập (trọn bộ 15 cuốn). Theo gương của Bác, những đồng chí lãnh đạo kế tục cũng đều mỗi người in chơi vài … tập:

Tuyển Tập Lê Duẩn

Tuyển Tập Phạm Văn Đồng

Tuyển Tập Trường Chinh

Tuyển Tập Lê Khả Phiêu

Tuyển Tập Nông Đức Mạnh

Tuyển Tập Nguyễn Phú Trọng 

C:\Users\Tien Tuong\Desktop\Capture\2019-08-11_160950.png


Đ …mẹ, chúng thay nhau nói, đứa nào cũng nói luôn mồm và chỉ nói thôi chứ chả thằng đéo nào làm được một con đường hay một cái cầu nào ráo – kể cả cầu tiêu! 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Nguyệt Quỳnh: Anh còn điều gì khác muốn chia sẻ thêm? Trịnh Bá Phương: Trong cuộc đấu tranh giữ đất, nhóm chúng tôi đã tham gia các phong trào khác như bảo vệ cây xanh, bảo vệ môi trường, tham gia biểu tình đòi tự do cho các nhà yêu nước, tham gia các phiên toà xét xử người yêu nước bị nhà nước cộng sản bắt giam tuỳ tiện. Và hướng về biển đông, chống sự bành trướng của Bắc Kinh khi đã cướp Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam! Và mới đây là phản đối bè lũ bán nước đã đưa ra dự luật đặc khu và dự luật an ninh mạng.
Có một câu thần chú mới mà các nhân viên FBI đã khuyên tất cả chúng ta phải học thuộc và nên áp dụng trong thời đại này. Thời đại của cao trào xả súng đang diễn ra khắp nơi ở Hoa Kỳ. Xin giới thiệu cùng bạn đọc một bài viết hữu ích của nữ ký giả Alaa Elassar của đài CNN đang được đăng tải trên liên mạng. Cô đã nêu ra những lời khuyên rất cần thiết cho chúng ta, căn bản dựa trên những video clips huấn luyện và đào tạo nhân viên của FBI.
Since I arrived in the United States in “Black April” of 1975 (the Fall of Saigon) and had been resettled in Oklahoma City to date, I have had two opportunities to go back to schools. The first one I studied at Oklahoma City University (OCU) for 5 years and received my degree in 1981. Having to work during day time, I could only go to school in the evening.
Như vậy, từ hiện tượng đảng viên “quay lưng” lại với đảng đến chuyện dân bỏ mặc mọi việc cho nhà nước lo cho tới chuyện thanh niên, rường cột của Tổ quốc, cũng “khô đoàn” và “nhạt đảng” thì điều được gọi là “nền tảng Tư tưởng đảng” có còn gốc rễ gì không, hay trốc hết rồi?
Niềm vui trong Ngày Hội Ngộ, với đặc san được quý nương “khen” còn mấy ông già chồng chỉ gật gù “mầy giữ gìn sức khỏe để tiếp tục”. Tháng 5 năm 2020 và tháng 5 năm nay vì cái dịch Covod-19, không có cơ hội gặp nhau. Dù “ghét cay ghét đắng” mấy ông già chồng hành hạ “con dâu” nầy nhưng không được dịp hội ngộ với nhau, nhớ nhiều.
Khi đối với cha mẹ có thể cung kính mà vui vẻ, mới là tận Hiếu. Chữ “Kính” nhấn mạnh việc không để xảy ra sơ suất dù rất nhỏ, phụng dưỡng cha mẹ già xuất phát từ nội tâm, với khuôn mặt vui vẻ, mới có thể nói là “Hiếu.” Người già không khác những đứa trẻ, nhiều khi hay tủi thân, hờn dỗi và dễ phiền muộn. Con cái có thể cho cha mẹ ăn uống, hầu hạ cha mẹ khuya sớm nhưng rất khó biết đến nỗi buồn của cha mẹ lúc về già.
Giáo hội xin tán thán tinh thần hộ đạo và tu đạo của quí Thiện nam Tín nữ trong hoàn cảnh tai ương đầy kinh hãi hiện nay. Tất cả năng lực và công đức lớn lao này của người đệ tử, chúng con xin dâng lên cúng dường đức Thế Tôn trong ngày Đản sinh. Hàng trăm ngàn trái tim, hàng vạn ngàn bàn tay siết chặt giữa những thương đau tràn ngập của nhân loại, chúng con nguyện quán chiếu thật sâu sự khổ nạn hiện nay để kiên nhẫn mà vượt qua.
Có lẽ cả Trung Cộng lẫn Hoa Kỳ đều không mong muốn việc khơi mào cho một cuộc xung đột vũ trang, nhưng trước thái độ xác quyết của tổng thống Joe Biden, Trung Cộng hiểu rằng họ đang đối đầu với một đối thủ nguy hiểm gấp bội lần so với những năm qua.
Với chế độ độc đảng toàn trị hiện hành, với bộ máy tam trùng hiện tại, với văn hoá tham nhũng hiện nay, và với chủ trương cấm tự do báo chí cố hữu … thì chuyện sống được bằng lương mãi mãi chỉ là một kỳ vọng xa vời. Vô phương thực hiện!
Hội nghị Paris là một quá trình đàm phán giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt kể từ ngày 13 tháng 5 năm 1968, sau ngày 25 tháng 1 năm 1969 có thêm Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam (MTGPMN) tham gia. Ngoài 202 phiên họp chính thức của bốn bên, còn có thêm 24 cuộc mật đàm khác giữa Henry Kissinger và Lê Đức Thọ, Xuân Thủy. Cuối cùng, hội nghị kết thúc sau bốn năm chín tháng và bốn bên chính thức ký kết Hiệp định Paris để chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 27 tháng 1 năm 1973.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.