Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Vấn Đề Trục Xuất Người Tỵ Nạn Việt Nam

28/01/201905:54:00(Xem: 2783)

Vấn Đề Trục Xuất Người Tỵ Nạn Việt Nam

 
Luật Sư Nguyễn Quốc Lân

 

Vấn đề trục xuất người tỵ nạn Việt Nam là một vấn đề  đang gây dao động trong cộng Việt Nam tại khắp nơi trên toàn Hoa Kỳ.  Tìm hiểu về thực tế của vấn đề để tìm ra một phương hướng vận động là một điều cần thiết cho  tất cả mọi người quan tâm.
 

Vấn đề trục xuất người di dân có hồ sơ phạm pháp

Theo luật của Hoa Kỳ, những người ngoại quốc được nhập cảnh vào Hoa Kỳ mà có hồ sơ phạm pháp trước khi được vào quốc tịch thì vẫn có thể bị trục xuất về quốc gia nguyên quán theo luật di trú.  Những đối tượng di dân bị trục xuất bao gồm cả những người được nhập cảnh theo diện tỵ nạn.

Những trường hợp  bị trục xuất theo luật di trú bao gồm các trường hợp như có tội hình sự nghiêm trọng và có thể bị tù trên 5 năm, đã bị kết án tù trên 1 năm, tối thiểu hai lần tội nhẹ (misdemeanors hay tội tiểu hình) nhưng có yếu tố về đạo đức (moral character) ví dụ như ăn cắp vặt, gian lận trợ cấp hay ký ngân phiếu giả, hay các tội  đặc biệt theo luật di trú như đỉ điếm, mua dâm, tang trữ hay mua bán thuốc phiện, xử dụng vũ khí trái phép, v..v.. Những người di dân này có thể được đưa vào tòa án di trú để tiến hành xét xử về hồ sơ trục xuất sau khi đã thọ án và hoàn tất cá hình phạt.

Khi những người di dân này bị đưa ra toà án di dân để trục xuất, họ có thể xin được miễn vì những lý do như gây khó khăn đặc biệt cho người thân hay gia đình, đã có thành tích phục thiện và đóng góp  cho xã hội. Những trường hợp đặc miễn này không áp dụng trong trường hợp đã bị kết tội tại tòa án di trú hay ký giấy chấp nhận bị trục xuất.

Sau khi có lệnh bị trục xuất, chính phủ Hoa Kỳ sẽ tiến hành trục xuất những người này đến các quốc gia nguyên quán theo chương trinh trục xuất người di dân phạm pháp. Hoa Kỳ hiện có hiệp ước trục xuất với hầu hết mọi quốc gia, ngoại trừ một số các quốc gia từ khối cựu Cộng Sản như Cuba, Bắc Hàn, Lào, Campuchia hay Việt Nam.
 

Trường hợp người Việt Nam

Người di dân Việt nam bị rơi vào trong những trường hợp rất đặc biệt mà đã làm cho vấn đề của họ bị phức tạp hơn. Những người di dân Việt Nam đến Hoa Kỳ thời gian đầu tiên sau năm 1975 phần lớn là theo các chương trình tỵ nạn như thuyền nhân, tù cải tạo, con lai, đoàn tụ gia đình, v..v.. Trong nhiều năm trước đây, chính phủ Việt Nam vẫn khăng khăng không nhận người Việt Nam phạm pháp bị trục xuất vì họ muốn Hoa Kỳ phải trả tiền để hội nhập họ như HK đã làm đối với các thuyền nhân Việt Nam bị hồi hương. Hoa Kỳ thì không muốn trả tiền vì họ không muốn mở một tiền lệ cho các quốc gia khác.  Sự bế tắc này đã kéo dài cho mãi đến năm 2008 khi chính phủ của hai quốc gia mới đạt được một thoả thuận trao trả người Việt Nam bị trục xuất, Agreement on the Acceptance of the Return of Vietnamese Citizens.

  

Thỏa Thuận trao trả những người Việt bị trục xuất.

Ngay cả trong hiệp ước này, Viêt Nam cũng chỉ đồng ý tiếp nhận những người Việt Nam đến Hoa kỳ sau tháng 7 năm 1995, tức là thời điểm hai nước thiết lập bang giao. Đối với những người đến trước đó, thoả thuận có ghi rõ là Việt Nam sẽ không tiếp nhận họ. Mặc dầu thỏa thuận nói rõ như vậy, Hoa Kỳ đã từng trao trả những người đến HK trước tháng 7 năm 1995, nhưng không rõ trong trường hợp nào.

Thoả thuận này còn nêu rõ là thỏa thuận có thể được gia hạn mỗi 5 năm hay bị đình chỉ nếu một bên thông báo cho bên kia trước 60 ngày. Do đó, chính phủ Hoa Kỳ không bị ràng buộc trên căn bản pháp lý nếu Hoa Kỳ muốn đơn phương hủy bỏ thỏa thuận này. Nhưng nếu hủy bỏ thỏa thuận này thì không có phương cách nào khác để trục xuất những người Viêt nam phạm pháp.
 

Hoa Kỳ hiện đang làm áp lực với Việt Nam buộc Việt nam phải tiếp nhận mọi thành phần có thể bị trục xuất, trước mắt là khoảng 8,500 người đã có lệnh trục xuất. Vì tình trạng giằng co giữa Hoa Kỳ và Việt Nam liên quan đến việc trục xuất di dân gốc Việt có hồ sơ phạm pháp, những người Việt Nam này đã bị rơi vào tình trạng khó khăn như ngày hôm nay.

  1. Vì không có thỏa thuận trục xuất với Việt Nam, nhiều người đã bị giam giữ vô hạn định  trong các trại giam di trú sau thời gian thọ án hình sự và trước khi được đưa ra xét xử trong tòa án di trú. Tình trạng này đã đưa đến nhiều vụ kiện dân quyền vì lý do Hoa Kỳ đã giam giữ những người này quá lâu hay vô hạn định mà không có lý do chính đáng. Tòa án Liên Bang đã can thiệp và ra lệnh thả tự do cho hầu hết những người này trong thời gian chờ đợi bị trục xuất. Trước khi có án lệ này, nhiều người đã ký giấy đồng ý bị trục xuất để thoát khỏi tình trạng bị giam tù vô hạn định và nghĩ rằng việc trục xuất sẽ khó xảy ra.
  2. Vì vấn đề trục xuất không xảy ra đối với trường hợp người Việt Nam, nhiều người đã đồng ý nhận tội tại tòa án hình sự mà không cân nhắc đến ảnh huởng có thể bị trục xuất. Ngay cả trong tòa án di trú, nhiều người vẫn đồng ý tự nguyện bị trục xuất thay vì chống trả lại những cáo buộc bị trục xuất chỉ vì nghĩ rằng họ sẽ khó bị trục xuất về Việt Nam.  Nếu vấn đề trục xuất đã xảy ra sớm hơn, họ có thể có những sự cân nhắc thích ứng hơn hay hành xử khác đi.
  3. Vì không bị trục xuất nhưng được thả tự do, họ đã phải bươn trãi trong hoàn cảnh khó khăn như không có giấy tờ hợp pháp, cuộc sống không ổn định hay chấp nhận cuộc sống khó khăn hơn vì hoàn cảnh riêng của mình. Đây là một cái giá phải trả có nhiều khi khó khăn hơn cả những hình phạt hay thọ án vì sai phạm của họ. Tuy nhiên nhiều người đã thành công để gây dựng lại cuộc sống như có gia đình con cái, làm ăn lương thiện và đóng thuế, gây dựng cơ sở thương mại hay đóng góp vào nhiều lợi ích xã hội.

 
Sự Cân Nhắc Đặc Biệt Cho Trường Hợp Người Tỵ Nạn Việt Nam

Trong hoàn cảnh chính trị hiện nay, đòi hỏi một sự nhân nhượng cho những người di dân có hồ sơ phạm pháp là một việc rất khó khăn. Tuy nhiên trường hợp người tỵ nạn Việt Nam cần có một sự cứu xét đặc biệt vì hoàn cảnh riêng khá hi hữu của họ.

  1. Nếu Việt Nam không tiếp tục chính sách nghi ngờ và kỳ thị đối với thành phần này thì vấn đề không kéo dài tới ngày hôm nay. Đây không phải là lỗi của những người tỵ nạn này.
  2. Nếu việc trục xuất được thực hiện sớm hơn như đối với các quốc gia khác thì nhiều người tỵ nạn Việt Nam đã không rơi vào tình trạng như ngày hôm nay vì họ có thể đã có những hành xử khác hơn cho chính họ cũng như nhiều khác, ví dụ như chống lại các cáo buộc hình sự hay trục xuất trong toà án di trú để trường hợp của họ được xét xử một cách công bình hơn.
  3. Vì tình trạng kéo dài đến ngày hôm nay, xã hội cần xét lại các hệ lụy khác như gia đình, con cái, các đóng góp trong xã hội hay kinh tế. Nếu thủ tục trục xuất được thực hiện sớm hơn, những người này có thể đã chấp nhận vấn đề một cách dễ dàng hơn mà không có nhiều hệ lụy khác gây ra bởi yếu tố thời gian.
  4. Vì vấn đề đình trệ trong thủ tục trục xuất mà không phải lỗi của những người tỵ nạn Việt Nam này, họ đã trả giá rất đắc không những cho sai phạm của họ lúc còn non trẻ, mà suốt trong thời gian dài sau đó. Bây giờ những hình phạt này đối với họ còn gây tác hại lớn đến cả gia đình và con cái của họ, những công dân Mỹ và hoàn toàn vô tội trong thảm trạng này.

 
Đề Nghị Giải Pháp

Trong trường hợp nan giải đối với những người tỵ nạn Việt Nam, có một số giải pháp mà các thành phần liên hệ có thể cứu xét như sau.

  1. Hủy bỏ lệnh trục xuất đối với thành phần người tỵ nạn Việt Nam theo tinh thần của thỏa ước năm 2008 vì sự trì hoãn không phải lỗi của họ và họ đã trả giá quá đắc cho những sai phạm của họ và qua thời gian đã chứng tỏ họ là những người công dân tốt và đóng góp nhiều cho xã hội.
  2. Cho phép tòa án di trú mở lại hồ sơ hay cứu xét lại hồ sơ trục xuất của những người liên hệ. Trong trường hợp này, tòa án có thể cứu xét những yếu tố như liên hệ với Việt Nam hay Hoa Kỳ, cuộc sống hoàn thiện hay đóng góp vào xã hội, hay hệ lụy đối với gia đình hay thân nhân trực hệ nếu người thân bị trục xuất về Việt Nam.

Kết Luận

Việc tìm ra một giải pháp thỏa đáng đối với vấn đề trục xuất những người tỵ nạn Việt là một việc làm chính đáng vì những người này đã trả giá và đền tội cho những sai phạm của họ mà phần lớn xảy ra lúc còn non trẻ hay mới đến Hoa Kỳ, sau đó tiếp tục trả giá cho cùng sai phạm đó trong cuộc sống của họ và giờ đây trục xuất họ về Việt Nam thì án phạt đó tương tự như án tù chung thân cho cùng sai phạm đó. Giờ đây, án phạt đó còn liên hệ đến vợ chồng, con cái hay những người thân khác mà hoàn toàn vô tội và không liên hệ gì đến những sai phạm đó. Vấn đề nan giải này đã không xảy ra nếu Việt Nam không tiếp tục quan điểm nghi kỵ hay thù hận đối với những người di dân Việt Nam này mà vẫn còn tiếp tục đến ngày nay. Hoa Kỳ có nhiều lý do chính đáng để cứu xét đặc biệt cho thành phần di dân tỵ nạn này.

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Trong cú sốc ban đầu do COVID-19 gây ra, các chính phủ và ngân hàng trung ương ứng phó bằng những đợt bơm tiền mặt khổng lồ là chuyện có thể dễ hiểu. Nhưng hiện nay, các nhà hoạch định chính sách cần lùi một bước và xem lại các hình thức kích hoạt nào thật sự cần thiết và nguy cơ nào gây nhiều hại hơn lợi. Các chính phủ trên khắp thế giới đang phản ứng mạnh mẽ với cuộc khủng hoảng COVID-19 bằng cách ứng phó kết hợp về tài chính và tiền tệ, nó đã đạt tới 10% GDP toàn cầu. Tuy nhiên, theo Cơ quan Kinh tế và Xã hội thuộc Liên Hiệp Quốc đánh giá tổng quát mới nhất, các biện pháp vực dậy này có thể không thúc đẩy cho tiêu dùng và đầu tư nhiều như các nhà hoạch định chính sách hy vọng.
Bạch Thái Bưởi, theo Wikipedia: “Là một doanh nhân người Việt đầu thế kỷ 20. Lúc sinh thời, ông được xếp vào danh sách bốn người giàu có nhất Việt Nam vào những năm đầu của thế kỷ 20 (nhất Sĩ, nhì Phương, tam Xường, tứ Bưởi)… Xuất thân từ tầng lớp nghèo, ông luôn quan tâm đến đời sống của giới thợ thuyền. Ông dành chế độ an sinh cho các nhân viên của mình. Ông trợ cấp cho học sinh nghèo có chí du học… Năm 1921, Bạch Thái Bưởi cho ra đời tờ báo hàng ngày mang tên Khai hóa nhật báo với tôn chỉ: ‘Một là giúp đồng bào ta tự khai hoá, dạy bảo lẫn nhau... mở mang con đường thực nghiệp. Hai là giãi bày cùng Chính phủ bảo hộ những yêu cầu thiết thực, chính đáng của quốc dân. Ba là diễn giải những ý kiến, những lợi ích, tác hại của các công việc Chính phủ đang làm...’
Sự căng thẳng thẳng giữa nước Mỹ và Trung cộng mỗi ngày mỗi gia tăng. Thật vậy, kể từ ngày 25-9-2018, tổng thống Donald Trump đọc trước Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, kêu gọi các nước trên Thế giới: “Chống lại xã hội chủ nghĩa và những đau khổ do nó đã gây ra cho nhân loại.” Mời xem link: https://youtu.be/q6XXNWC5Koc?t=95. Từ đấy, khiến cho Trung cộng lo âu phập phồng vì cả Thế giới phê phán chủ nghĩa cộng sản gay gắt.
Kết quả bầu cử Thị xã vòng nhì hôm 28/6 vừa qua khoát cho nước Pháp bộ áo mới màu xanh. Bộ áo Pháp lần đầu tiên được mặc. Các Thị xã xưa nay do Thị trưởng xã hội, phe Hữu hay thuộc xu hướng khác nay phần lớn lọt vào tay đảng Xanh. Cả những Thị xã cho tới nay vẫn nằm trong tay cộng sản cũng bị đảng Xanh cướp mất. Giới chánh trị đều ngẩn ngơ trước thực tế hoàn toàn bất ngờ này. Nhiều nhà chánh trị học, nhà báo chánh trị bắt tay ngay vào việc tìm hiểu tại sao bổng nhiên xuất hiện làn sóng xanh chiếm gần hết các thành phố lớn nhỏ của Pháp? Tại sao chỉ có 4/10 người đi bầu? Vậy người được bầu thắng cử hay làn sóng cử tri vắng mặt mới thật sự thắng cử?
Những năm gần đây sự việc Trung Quốc chiếm đảo, vét cát dưới đáy biển xây dựng căn cứ quân sự, xây phi trường, đặt tên lửa tại biển Đông khiến người ta vô tâm quên mất rằng cánh tay dài của Đại Hán đã vươn qua biển thò đến tận Phnom Penh tự thuở nào. Dưới mắt nhiều quan sát viên quốc tế thì Campuchia ngày nay là một tỉnh của Trung Quốc, và Thủ tướng Hun Sen là một bí thư tỉnh ủy của Đảng Cộng sản Trung Quốc, không hơn không kém.Trung Quốc thiết lập căn cứ quân sự trên đất Campuchia là mối đe dọa nghiêm trọng cho các quốc gia khác trong vùng Đông Nam Á, và Hoa Kỳ chắc chắn không thể không nhận ra hiểm họa to lớn đó. Trong buổi tường trình lên Ủy ban Tình báo Thượng viện Hoa Kỳ hôm tháng Giêng năm 2019, Giám đốc Sở Tình báo Quốc gia, lúc đó là ông Dan Coats, đã cảnh báo rằng “Campuchia đang có nguy cơ biến thành một quốc gia độc tài, và điều đó sẽ mở đường cho Trung Quốc thiết lập các căn cứ quân sự trên miền đất ấy.”
Ngày 22 tháng 6 năm 2020, dự luật An Ninh Quốc Gia về Hồng Kông được đưa ra tại quốc hội của Đảng Cộng Sản Trung Hoa để thông qua, và đêm 30 tháng 6 rạng sáng ngày 1 tháng 7, 2020, sau một phiên họp kín của Ủy Ban Thường Vụ Đại Biểu Nhân Dân (mà thế giới gọi là quốc hội bù nhìn tại Bắc Kinh) dự luật này đã trở thành luật. Ngày mà Luật An Ninh Quốc Gia về Hồng Kông này ra đời cũng trùng ngày mà Hồng Kông được trao trả lại cho China 23 năm trước 01-07-1997 theo thể chế “một nước hai chế độ” (one country two systems). Theo đó Hồng Kông vẫn còn quyền tự trị trong 50 năm từ 1997 đến 2047, và trên lý thuyết Hồng Kông chỉ lệ thuộc vào Bắc Kinh về quân sự và ngoại giao mà thôi.
“Ngày 11/07/1995: Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton và Thủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt thông báo quyết định bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa 2 nước.” Với quyết định lịch sử này, Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng sản đã ghi dấu “gác lại qúa khứ, hướng tới tương lai” được 25 năm vào ngày 11/07/2020. Nhưng thời gian ¼ Thế kỷ bang giao Mỹ-Việt đã đem lại những bài học nào cho hai nước cựu thù, hay Mỹ và Việt Nam Cộng sản vẫn còn những cách biệt không hàn gắn được ?
Trước 1975, ở bùng binh ngã Sáu (kế góc đường Gia Long và Lê Văn Duyệt) có cái biển nhỏ xíu xiu: Sài Gòn – Nam Vang 280 KM. Mỗi lần đi ngang qua đây, tôi đều nhớ đến cái câu ca dao mà mình được nghe từ thưở ấu thơ: Nam Vang đi dễ khó về… Bây giờ thì đi hay về từ Cambodia đều dễ ợt nhưng gần như không còn ma nào muốn hẻo lánh tới cái Xứ Chùa Tháp nghèo nàn này nữa. Cũng nhếch nhác ngột ngạt thấy bà luôn, ai mà tới đó làm chi… cho má nó khi. Thời buổi này phải đi Sing mới đã, dù qua đây rất khó và về thì cũng vậy – cũng chả dễ dàng gì.
Càng gần ngày tranh cử, càng nhiều người biểu lộ yêu mến Tổng thống Donald Trump và ngược lại cũng lắm người bày tỏ chán ghét ông Trump. Có những người ghét ông chỉ vì họ yêu chủ nghĩa xã hội, yêu chủ nghĩa vô chính phủ, lợi dụng cơ hội ông George Floyd bị cảnh sát đè cổ chết đã chiếm khu Capitol Hill, nội đô Seattle, tiểu bang Washington, trong suốt ba tuần trước khi bị giải tán. Nhân 244 năm người Mỹ giành được độc lập từ Anh Quốc, và sau biến cố George Floyd, thử xem nền dân chủ và chính trị Hoa Kỳ sẽ chuyển đổi ra sao?
Tôi có dịp sống qua nhiều nơi và nhận thấy là không nơi đâu mà những từ ngữ “tổ quốc,” “quê hương,” “dân tộc” … được nhắc đến thường xuyên – như ở xứ sở của mình: tổ quốc trên hết, tổ quốc muôn năm, tổ quốc anh hùng, tổ quốc thiêng liêng, tổ quốc bất diệt, tổ quốc muôn đời, tổ quốc thân yêu, tổ quốc trong tim … “Quê hương” và “dân tộc” cũng thế, cũng: vùng dậy, quật khởi, anh dũng, kiên cường, bất khuất, thiêng liêng, hùng tráng, yêu dấu, mến thương …
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.
Người Việt Phone
Không còn nghi ngờ gì nữa, khẩu trang đã đóng một vai trò trung tâm trong các chiến lược đối đầu với dịch bệnh COVID-19 của chúng ta. Nó không chỉ giúp ngăn ngừa SARS-CoV-2 mà còn nhiều loại virus và vi khuẩn khác.
Hôm thứ Hai (06/07/2020), chính quyền Mỹ thông báo sinh viên quốc tế sẽ không được phép ở lại nếu trường chỉ tổ chức học online vào học kỳ mùa thu.
Đeo khẩu trang đã trở thành một vấn đề đặc biệt nóng bỏng ở Mỹ, nơi mà cuộc khủng hoảng Covid-19 dường như đã vượt khỏi tầm kiểm soát.
Trong khi thế giới đang đổ dồn tập trung vào những căng thẳng giữa Mỹ với Trung Quốc, thì căng thẳng tại khu vực biên giới Himalaya giữa Trung Quốc và Ấn Độ vào tháng 05/2020 đã gây ra nhiều thương vong nhất trong hơn 50 năm.
Ủy ban Tư pháp Hạ viện Mỹ cho biết các CEO của 4 tập đoàn công nghệ lớn Amazon, Apple, Facebook và Google đã đồng ý trả lời chất vấn từ các nghị sĩ Quốc hội về vấn đề cạnh tranh trong ngành công nghệ.