Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

CÁI GIÁ PHẢI TRẢ ĐỂ ĐẾN ĐƯỢC BẾN BỜ TỰ DO …sự hắt hủi

17/01/201909:28:00(Xem: 2480)
CÁI GIÁ PHẢI TRẢ ĐỂ ĐẾN ĐƯỢC
BẾN BỜ TỰ DO… sự hắt hủi.
 
Phạm Thanh Giao
  

Tôi nhập trại Songkla ở miền Nam Thái Lan được hơn một tháng thì một ngày kia, cảnh sát Thái và một nhân viên Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc từ Bangkok chở đến trại một cô gái có dáng người nhỏ nhắn trên một chiếc xe Jeep, một mình. Đoàn người trong trại kéo nhau ra đứng đông nghẹt, nhìn cô với những cặp mắt hết sức ái ngại và thương cảm, mặc dù đây không phải là lần đầu họ được mục kích cái cảnh thương tâm, chứa ẩn phía sau là cả một Bi Tình Sử của Người Tỵ Nạn.

Tôi lên đảo nhờ có chút ít vốn tiếng Anh, được vào giúp việc cho những phái đoàn của các quốc gia thường đến phỏng vấn người tỵ nạn ở đây. Cô gái mang cái tên khá lạ … Đông Sương, kèm theo trong hồ sơ là “đi trên chiếc ghe không số” vì cô ta không biết gì khác, chỉ biết chiếc ghe đón trên dưới độ 100 người và khởi hành từ Rạch Giá. Cô là người duy nhất sống sót, vì chuyến tàu đó đã rời bến cảng ở Rạch Giá cách đây hơn nửa năm. Chẳng còn ai. Không còn ai đi chung chuyến tàu của cô, có tên trong danh sách ở các trại tỵ nạn.

Trong hồ sơ, cô ấy đi vượt biên với một cô chị và 2 đứa em trai trong chuyến tàu định mệnh kinh hoàng đó. Sau 6 lần bị cướp, mhiều lần bị hãm hiếp, nhiều người bị giết, số còn sống sót không ai biết ra sao trên cái xác tàu đã bị húc tơi tả sau 5-7 bận.

Riêng cô, bị bắt và giữ lại ở một tàu hải tặc. Cô bị giam giữ trên tàu gần một tháng để chúng chia nhau hành hạ, để rồi sau đó lại bị bán vào một động đĩ ở Bangkok.

Hơn 4 tháng sau, theo lời cô kể lại, thì có một ông khách nói được 3 thứ tiếng, Thái, Hoa và Việt Nam thường xuyên đến đó, cứu thoát. Ông ta chở cô tới một trạm cảnh sát Thái với một tờ giấy viết tay rồi biến mất.

Sương không bao giờ mở miệng nếu không bắt buộc. Từ sáng đến chập choạng tối, cô chỉ lặng lẽ ngồi ngoài bờ biển, ánh mắt nhìn xa xôi về một cõi bất tận hư vô nào đó. Chẳng ai lân la làm bạn với một tảng đá lạnh lùng được lâu, nhất là họ chỉ đến với cô bằng những tấm lòng thương hại. Miết rồi, cái bóng nhỏ bé ấy cũng vẫn chỉ một mình lặng lẽ dưới gốc cây dừa ngày này sang ngày khác.

Cứ đến bữa, tôi bưng ra cho cô một dĩa cơm nhỏ mà ít khi cô ăn hết, từ một gia đình ở cùng dãy nhà trong trại. Khi có thời giờ, tôi luôn ghé lại ngồi bên cạnh cô cho bớt đơn độc. Chúng tôi thường cũng chỉ ngồi với nhau trong lặng lẽ.

Cái im lặng giữa những tiếng sóng biển rì rào, đôi khi tạo cho tôi cái cảm giác có thể đưa tay ra chạm vào nó được. Cái khuôn mặt của người con gái không xấu, không đẹp với cặp mắt buồn muôn thuở ấy, nhiều khi mang đến cho tôi cái cảm giác ướt và ấm như những giọt nước mắt long lanh chùi vội. Dường như Sương chỉ còn lại như một cái bóng của một sự hiện hữu bất hạnh và vô cảm xúc nhất trên trái đất vô tình. Tôi không biết gì mấy về cô ngoài những lời khai trên Cao Ủy. Cô chẳng biết gì về tôi vì chẳng bao giờ cô hỏi.

Còn một tuần nữa thì tôi được chuyển lên trại Panatnikhom trên Bangkok, để qua Galang hoàn tất thủ tục trước khi qua Mỹ. Trong hồ sơ, Sương được một ông chú họ xa ở Mỹ bảo lãnh.

Buổi trưa hôm ấy, cũng như mọi khi, tôi mang ra cho nàng một dĩa cơm Cao Ủy.

Tôi hỏi: “Cô có muốn anh chuyển gì cho chú Hoài không?”

Sương chẳng trả lời, chỉ quay qua nắm lấy tay tôi, rồi vội vàng giựt ra, miệng mở ra như muốn nói điều gì nhưng lại thôi.

Tôi cũng nín lặng theo. Cái nắng giữa trưa của mùa hè đã bắt đầu chói chang, buồn ngủ tôi chào nàng rồi đi về barrack. Sương cũng chẳng trả lời. Cũng vẫn một tư thế ngồi như suốt hơn một tháng qua.

Chẳng hiểu sao, tôi cứ ngoảnh lại nhìn cái bóng dáng ấy mấy lần trước khi đến con đường dẫn về barrack mình ở. Buổi chiều hôm ấy lu bu với cả đống hồ sơ của một chiếc ghe mới đến với hơn trăm người mới nhập trại, tôi không có dịp gặp lại Sương. Tối đến, lại cà phê cà pháo tán dóc với bạn bè tôi quên bẵng.

Chưa tới 5 giờ sáng mà những tiếng la thất thanh, tiếng người ồn ào nhốn nháo vọng lại từ khu vực nhà tắm, nhà vệ sinh ở giữa trại vang đi khắp nơi. Mọi người từ tứ phía đổ dồn cả về khu vực ấy. Tôi lổm nhổm nghe dường như có người treo cổ tự tử trong đêm qua.

Tôi nằm lăn ra đất, cổ như bị ai bóp nghẹt không thở nổi. Sương đã thắt cổ tự tử trong khu nhà tắm đêm qua.

Năm bữa sau, trước khi lên đường chuyển trại, tôi mới dám mò ra gốc cây dừa mà Sương vẫn thường ngồi nhìn ra biển. Dường như đâu đây vẫn còn lại mùi hương của người con gái bạc số. Tôi nhớ lại mái tóc đen tuyền ấy, mà ước ao phải chi tôi đã có can đảm vuốt nó một lần. Tôi nhớ lại cái bàn tay gầy guộc nhỏ nhắn, lúc nào cũng lạnh như đá ấy, mà mong muốn hết sức, là có được cơ hội nắm lấy nó một lần nữa để chuyền sang đấy cái hơi ấm từ bàn tay mình.

Sương muốn nói gì với tôi sao lại không mở miệng?

Sao tôi lại quá ngu ngơ không nhìn ra được dấu hiệu muốn từ biệt của Sương?

Tôi vẫn cứ muôn đời thắc mắc, tại sao em đã qua được bằng đó nỗi khổ ải, đọa đày, thì còn thứ đọa đày nào trên quả đất này lại khiến em phải khiếp sợ đến phải trốn chạy như thế?

Từ đó, tôi vẫn tiếp tục trên cuộc hành trình của đời mình mà không mấy khi quên được cái tên Đông Sương ấy.

Chẳng biết ở cõi hư vô đó, em đã hết buồn? Hay cái nỗi buồn ấy vẫn kéo dài đến thiên thu?

Tiếng sóng biển Songkhla. Cái ánh mắt buồn hun hút. Cái mái tóc dài đen mượt ấy, là những gánh nặng oằn vai mà tôi phải đeo theo suốt cuộc đời còn lại ...

Trong trái tim tôi, muôn đời vẫn còn sót lại một vết thẹo ...

***

Cô Assistant Manager mang đến giới thiệu với tôi một người để xin việc làm, con bé có cái tên khá dễ thương, Marcella, nó nhìn còn trẻ lắm, không thể quá 16 tuổi, nước da trắng trẻo nhìn Rất Mỹ nhưng vẫn có cái nét của người Hispanic. Ngạc nhiên một điều là, nó nói tiếng Anh khá trôi chảy, không như những người Hispanics nhập cư lậu đến xin việc ở đây, mặc dù vẫn có khá nặng cái accent của người đến từ các quốc gia Trung Mỹ. Nó đến từ El Salvador.

Sau vài phút nói chuyện, tôi nói với 2 người là hãy để nó về và cho tôi suy nghĩ lại trước khi trả lời.

***

Cuộc vượt biên giới bằng đường bộ từ El Salvador của Marcella đến Mỹ, nó không đơn giản như chỉ phải đối mặt với cái sống chết khi vượt qua dòng sông Rio Grande chảy xiết và vượt qua 40 dặm trên sa mạc để vào Mỹ, nhưng bản thân con gái của nó lại còn là miếng mồi ngon cho đủ loại thú dữ rình rập, sẵn sàng nhảy vào cắn xé, từ bọn dẫn đường đến bọn buôn người, từ bọn thổ phỉ đến những Nhân Viên Kiểm Tra Biên Giới của cả hai quốc gia Mễ và Mỹ. Cuộc hành trình dài hơn 4 ngàn cây số đường bộ (hơn 2500 dặm) của một đứa con gái 17 tuổi đơn độc, KHÔNG KHÁC GÌ CUỘC HÀNH TRÌNH ĐI VÀO CÕI CHẾT.

Nó chẳng có sự chọn lựa.

Nó là đứa con thứ hai sinh ra trong một gia đình khá giả ở El Salvador mà bố nó là bác sĩ và mẹ nó là giáo sư ở một trường Trung Học. Cuộc sống đó, có mấy ai có được. Thế nhưng cuộc đời nó không êm ả như của chúng ta, những người sống trong chăn ấm nệm êm và sự yên bình của một thành phố trong một đất nước như ở Hoa Kỳ. El Salvador loạn lạc với đủ thứ bất an kéo dài từ thâp niên 1970s mãi cho tới đầu thập niên 2000s khi có sự nhúng tay của Hội Đồng Bảo An LHQ, tưởng là sẽ được yên.

Thời gian gần 30 năm đó, là thời kỳ kéo dài của cuộc nội chiến xảy ra giữa 2 phe: Phe chính phủ độc tài, bóc lột và tham nhũng được Hoa Kỳ bảo trợ, và phe cánh Tả chống đối. Tưởng rằng cái quốc gia nhỏ nhất khu vực này với chỉ trên 6 triệu dân, sẽ được yên ổn sau nghị quyết bãi bỏ quân đội của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc được mang tới đây để giải quyết vấn nạn vào năm 1992, nhưng nó lại càng làm cho xã hội ở đây loạn lạc hơn lên.

Họa vô đơn chí, bên cạnh những phe nhóm chính trị, băng đảng, tội ác hoành hành thì trận Bão Mitch vào năm 1998 tàn phá gần như toàn bộ đất nước này. Chưa kịp phục hồi, thì năm 2001 El Salvador lại phải đương đầu với một trận động đất khủng khiếp. Kinh tế tàn lụi, tội ác gia tăng, cướp bóc, băng đảng giết người nhảy vọt. Sự đối lập của nhiều nhóm người khác chính kiến, khác màu da, và khác chủng tộc (có 2 giống người ở El Salvador, đa số là thổ dân thuần chủng thuộc giống dân Aztec và thiểu số là giống dân lai giữa người bản xứ và người nhập cư đến từ Âu Châu sau thời Kha Luân Bố) đã dẫn đến cuộc sống vô cùng bất ổn mà người dân El Salvador bằng mọi giá muốn thoát ra.

 

Bố của Marcella bị giết trong một cuộc chiến khi ông ta đang làm nhiệm vụ ở một nhà thương. Chỉ 2 năm sau, anh trai của nó bị băng đảng bắn chết vất xác lại trên đường. Mẹ nó đứt ruột làm một cái quyết định sống chết cho đứa con gái duy nhất còn sót lại của mình. Bà gởi nó cho người Mối Lái Dẫn Đường Vượt Biên với cái giá 6 ngàn đô, trả trước 2 ngàn, với lời cam kết là nó qua Mỹ sẽ làm để trả nốt số nợ còn lại, cộng với tiền lời trong vòng 1 năm, mạng sống của mẹ nó, là con tin cho đến khi trả hết nợ.

Tôi chẳng có sự chọn lựa.

Câu chuyện vượt biên giới của Marcella tuy nó không có cái kết thê thảm như câu chuyện của cô gái Việt Nam tôi gặp trong trại tỵ nạn Songkhla nhưng những hãi hùng, những khốn nạn, những đớn đau không thể thiếu. Sau này nó tâm sự với tôi rằng, cái tính mạng của mẹ nó chính là sự thúc đẩy để nó tìm con đường sống bằng mọi giá. Tôi không bao giờ hỏi chi tiết về chuyến đi của nó, và nó chẳng bao giờ kể cho chúng tôi nghe. Nó làm cho chúng tôi được hơn 10 năm trời, nhìn nó lớn lên và thương nó như một đứa con của chính mình tuy không nuôi dưỡng và sanh ra, thì chúng tôi bán tiệm và không còn công việc gì để giữ nó. Nó quyết định từ giã North Carolina lên đường sang tiểu bang khác.

***

Tôi có cái cơ may ông Trời gởi đến để được gặp những người cùng khổ và gần như tuyệt vọng trong cuộc sống ở nhiều giai đoạn khác nhau. Có lẽ những mối tương duyên đau buồn đó, nó đã khiến trái tim tôi yếu mềm hơn của người khác. Nó khiến tôi dễ dàng thông cảm và chia sẻ được những đau khổ của người khác ở đời, mà không bao giờ tôi Nhanh Nhẩu Lên Án Họ. Có lẽ những thứ tương quan đó giữa tôi và những con người cùng khổ này đã khiến tôi dễ mềm lòng hơn để bằng mọi giá tôi phải bênh vực họ.

Tôi nghiệm thấy một điều, tình yêu thương cho đi không đắn đo, người cho sẽ nhận lại gấp trăm lần những gì họ phân phát.

Trái tim nó cũng giống như cái thùng chứa, cần phải cho bớt đi những yêu thương để còn có chỗ nhận lại.

FB Phạm Thanh Giao
(VB: Đăng với sự cho phép của tác giả)
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Báo chí tự phong “cách mạng” của Cộng sản ở Việt Nam đã hiện nguyên hình là cái loa tuyên truyền cho đảng để phủ nhận quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí của dân. Việc này đã, một lần nữa, được chứng minh vào dịp kỷ niệm 96 năm của điều gọi là “ngày báo chí cách mạng Việt Nam” (21/6/-1925 – 21/6/2021). Ngày 21/6 được chọn để đánh dấu việc ông Hồ Chí Minh đã một mình thành lập và biên tập Báo Thanh niên - cơ quan của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh Niên - tại Quảng Châu (Trung Quốc) để truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào Việt Nam.
Sartre là con người hoài nghi muôn thuở nổi trôi giữa hai cực Hiên Hữu và Hư Vô- L'Être et Le Néant. Chủ thuyết Existentialisme của Jean Paul Sartre là hiện thân của nước Pháp và Châu Âu ở hậu bán thế kỷ thứ XX. Charles De Gaule có lý khi ông bảo Sartre là nước Pháp- "Sartre, c'est la France"./.
Chúng ta nên công nhận rằng "cuộc tranh luận về lạm phát" hiện nay như là những gì mà nó đang là: một dấu vết sai lầm được đặt ra bởi những người tìm cách cản trở những nỗ lực của chính quyền Biden để giải quyết một số vấn đề cơ bản nhất của Mỹ. Thành công đòi hỏi nhiều công chi. Cuối cùng, Hoa Kỳ cũng may mắn có được giới lãnh đạo kinh tế mà họ sẽ không chịu khuất phục trước nỗi sợ hãi.
Trước khi hạ cánh an toàn, Bộ Trưởng Quốc Phòng Phùng Quang Thanh đã không quên bầy tỏ sự quan ngại sâu sắc về cái mối tình hữu nghị (rất) mong manh giữa nước ta và nước bạn: “Tôi thấy lo lắng lắm, không biết tuyên truyền thế nào, chứ từ trẻ con đến người già có xu thế ghét Trung Quốc.”
Hôm nay tôi và quý vị là người được đón nhận ngày lễ quốc gia đầu tiên để ghi nhớ ngày Juneteenth. Chúng ta hãy cùng nhau đi vào lịch sử để ôn và tìm hiểu thêm về ngày này và hi vọng từ đó chúng ta sẽ có những bài học sẽ làm cho cuộc sống ta thêm phần ý nghĩa về tình người cũng như đạo đức.
Cuộc họp thượng đỉnh giữa hai tổng thống Biden và Putin được báo chí quốc tế quan tâm và tin tức về cuộc họp này được loan tải rộng rãi. Phần tóm lược sau dựa vào các bản tin và bình luận của các cơ quan truyên thông Anh, Pháp, Nga và Trung Quốc về cuộc họp này.
Một tiểu tiết khá thú vị được ghi nhận trong cuộc gặp gỡ này là TT Biden đã đến biệt thự Villa La Grande, nơi tổ chức cuộc họp sau Putin. Theo bản tin của VOA Anh ngữ, dù Putin đã đến khá đúng giờ, nhưng đây là sắp xếp chu đáo của các nhân viên Bạch Ốc nhằm ngừa sự tái diễn như TT Donald Trump đã bị Putin cho đợi đến 30 phút trong cuộc họp thượng đỉnh tại Helsinki vào năm 2018, dù trước đó Trump đã đến muộn khi đến họp với NATO hay yết kiến Nữ Hoàng Anh.
Nền âm nhạc Việt Nam đã mất đi những khuôn mặt tài hoa, nhân cách… nhưng, rất may đã gởi lại những ca khúc bất tử. Nhạc sĩ tài hoa của nhân loại Johann Sebastian Bach (1865-1750) cho rằng “Âm nhạc có thể giúp tinh thần rũ sạch mọi bụi trần của cuộc sống thường ngày” nên khi “đầu óc vẩn đục” hãy lắng nghe ca khúc của tác giả đã quý mến để rũ sạch bụi trần.
Tôi đã được đọc rất nhiều bài trong “Hoa Cỏ Bên Đường” trước khi chúng được chọn cho vào tuyển tập này. Mấy năm nay, cô Kiều Mỹ Duyên luôn dành cho Bút Tre hân hạnh đăng những bài viết ngắn của cô. Bài nào cũng được độc giả khen tặng, đặc biệt bài “Cho Nhau Thì Giờ” gây tác động sâu sắc đến người đọc.
Dưới thời Việt Nam Cộng hòa ở trong Nam, chuyện tranh luận giữa Chính quyền và người dân về những ưu, khuyết điểm của chế độ chính trị là việc bình thường. Các Dân biểu và Nghị sỹ tại lưỡng viện Quốc hội có quyền chất vấn Thủ tướng và các Bộ trưởng Chính phủ bất kỳ lúc nào thấy cần. Nhưng ở Việt Nam Dân chủ Công hòa miền Bắc trước năm 1975 thì khác. Phê bình đảng cầm quyền là tự mở cửa vào tù. Đại biểu Quốc hội và các Hội đồng Nhân dân các cấp chỉ biết làm việc theo lệnh của Bộ Chính trị và cấp trên.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.