Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Trung Cộng Mạnh Trong Thế Yếu

14/09/201813:32:00(Xem: 4426)
Trung Cộng Mạnh Trong Thế Yếu
 
Phạm Gia Đại

 

Nước Tầu dưới triều đại của “hoàng đế đỏ” Tập Cận Bình đang diệu võ giương oai rằng đến năm 2049, kỷ niệm 100 năm đảng cộng sản Trung Hoa chiếm được Hoa Lục, nước Tầu sẽ là cường quốc đứng đầu thế giới, sẽ vượt qua Mỹ, và Hoa Kỳ sẽ phải lùi xuống hàng thứ nhì.

Các bước tiến bành trướng cả về kinh tế lẫn quân sự trong hai thập niên qua để thực hiện chiến lược mưu đồ thống trị thế giới của họ Tập đã chứng minh tham vọng ấy của Trung Cộng. Thế nhưng, tham vọng đó có trở thành hiện thực được hay không còn tùy thuộc rất nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, trong đó có yếu tố liệu Hoa Kỳ có ngồi khoanh tay nhìn Trung Cộng tìm cách phá hoại đồng đô la để thay thế bằng đồng nhân dân tệ? Có chấp nhận một nước Tầu đang đe dọa nền hòa bình thế giới? Các quốc gia ven biển Thái Bình Dương kể cả Mỹ có bàng quang nhìn Trung Cộng công khai nuốt trọn Biển Đông? Thực tế, mộng bá vương của họ Tập khó thành sự thực được, hay sẽ vẫn mãi là ảo vọng của “hoàng đế đỏ” bởi vì cốt lõi của Trung Cộng vẫn chỉ mạnh trong thế yếu.

Nhìn lại hai ngàn năm qua, nước Tầu luôn bị nạn đói hoành hành, nhưng nạn đói kinh hoàng nhất, chết nhiều người nhất, là một vết nhơ không thể tẩy rửa được trong lịch sử nước Tầu, đã xẩy ra dưới triều đại của Mao Trạch Đông, sau khi cộng sản đã chiến thắng đánh đuổi được Tưởng Giới Thạch ra khỏi Hoa Lục. Có nhiều sách báo đã đề cập đến nạn đói này từ năm 1958 đến 1961 khiến cho nhiều chục triệu người chết. Nhưng cuốn sách có nhiều giá trị về thảm trạng này nhất là cuốn:

La Grande Famine En Chine 1958-1961 (Nạn Đói Lớn Nhất nước Tầu 1958-1961)

36 Millions De Morts (36 triệu người chết)

Của Yang Jisheng

Xuất bản năm 2012 tại Paris, và tái bản lần thứ tư tại Hồng Kong.

Cuốn sách thường được biết dưới tên “Bia Mộ” của nhà báo kiêm sử gia Dương Kế Thằng (Yang Jisheng) mà ông đã bỏ ra 15 năm trời tìm kiếm các sử liệu, cho biết nạn đói thời kỳ 1958-1961 đã giết hại 36 triệu dân Tầu (có thể con số lên đến 50 triệu) do sự ngu xuẩn của chiến dịch Đại Nhẩy Vọt (The Great Leap) của Mao Trạch Đông gây ra. Cuốn sách này cũng là bia mộ ông dành cho người cha của ông đã chết năm 1959, và là bia mộ cho một chế độ phi nhân đã gây ra thảm kịch này. Chiến Dịch Nhẩy Vọt “vĩ đại” đó đã phá hủy và tiêu diệt toàn bộ nông thôn tại Hoa Lục để cứu dân thành thị. Tất cả phải vào hợp tác xã, và người nông dân không còn đến một cái soong nồi, và tất cả lúa gạo và lúa giống bị nhà nước tịch thu hết. Hàng ngàn làng xã chết không còn một bóng người, đi đến nạn con người trở nên điên loạn, ăn thịt lẫn nhau, tự tử hàng loạt, v.v... Trong khi đó Mao Trạch Đông tuyên bố nhà nước dư thừa lúa gạo để xuất cảng lấy ngoại tệ, và cấm mọi tin tức loan truyền ra ngoài về nạn đói do chiến dịch sai lầm nghiêm trọng của ông gây ra. Ông ra lệnh cho các cơ quan truyền thông loan tin nạn đói do hạn hán, và không cấp cứu hàng ngàn địa phương đang khẩn thiết kêu cứu.

Nước Tầu thời Mao Trạch Đông trở thành nước nghèo đói, lạc hậu, phi nhân nhất, tăm tối nhất trên thế giới, nằm sâu sau bức màn sắt, mà thế giới tự do ít biết đến nhất. Thế rồi trong một rừng không thể có hai chúa sơn lâm, cuộc đụng độ nẩy lửa giữa Nga-Tầu không những trên phương diện chính trị (vì Tầu không chịu đi theo đệ tam quốc tế do Liên Xô lãnh đạo) và còn trên bình diện quân sự. Vùng biên giới hai nước luôn căng thẳng với hàng chục sư đoàn luôn ứng trực hai bên biên giới cho một cuộc chiến có thể xẩy ra bất kỳ lúc nào. Trong chiến lược giảm sức mạnh của Liên Xô, Hoa Kỳ đã ngầm yểm trợ cho Mao Trạch Đông. Bộ mặt Hoa Lục đã biến đổi mạnh mẽ, nhất sau hiệp ước Thượng Hải giữa Mỹ-Hoa ký năm 1972.  Cùng với tây phương, Hoa Kỳ đã đầu tư, đem cả nền kỹ nghệ tân tiến cùng các công ty khổng lồ, và đồng đô la vào Hoa Lục, vì gía nhân công rẻ mạt. Tiền đã đổ vào Hoa lục, Trung Cộng nhờ đó đã dần được đôn lên thành cường quốc về kinh tế, tuy nhiên đại đa số người dân vẫn còn phải sống trong nghèo nàn lạc hậu vì toàn bộ tài nguyên và mậu dịch với thế giới bên ngoài do đảng và nhà nước quản lý.

Sự cường thịnh về kinh tế của Trung Cộng từ sự sao chép các kỹ thuật, là từ đánh cắp chất xám của phương tây để sản xuất ra các hàng hóa rẻ tiền, là o ép các công ty ngoại quốc phải trao cho người Tầu phương thức sản xuất để từ người gia công cho tây phương, Hoa Lục trong tương lai sẽ trở thành chủ nhân ông sản xuất chiếm lĩnh thị trường thế giới. Chính nhờ vậy mà Trung cộng đã gia tăng xuất khẩu từ con số zero thời Mao, lên đến 193.6 tỷ UDS (trong tháng 7-2017) và lên đến 215.57 tỷ USD (tháng 7-2018). Hiện nay vòi con bạch tuộc Trung Cộng vẫn đang cuốn hút các nước đang phát triển để tạo thêm sức mạnh cho mẫu quốc Tầu. Chưa bao giờ Trung Cộng đầu tư mạnh mẽ như bây giờ vào Châu Phi, và các nước Phi Châu đang mang nợ Hoa Lục lên đến 215 tỷ. Trung Cộng đang tìm mọi cơ hội phát triển sức mạnh của mình tại Châu Phi, cũng nằm trong chiến lược “Con Đường Tơ Lụa” từ Á sang Âu và sang Phi. Đã có 52 phái đoàn ngoại giao Trung Cộng được cử đến các nước Phi Châu (qua mặt Hoa kỳ với hơn 40 phái đoàn) - nơi Trung Cộng đang chiếm thế thượng phong qua đầu tư và cho vay, vì có đến 54 quốc gia tại Phi Châu sẵn sàng ủng hộ Trung Cộng trên lĩnh vực ngoại giao và chính trị tại Liên Hiệp Quốc.

Tuy nhiên, khác với Hoa Kỳ vươn lên thành cường quốc đứng đầu thế giới bằng chính nội lực tài nguyên và nhân tài của mình, Trung Cộng không có sức mạnh nội tại, và nền kinh tế thị trường tại Hoa Lục vẫn bị khống chế và kềm hãm bởi chuyên chính độc tài của chế độ cộng sản. Sức mạnh về kinh tế ngày nay mà Trung Cộng có được là hoàn toàn dựa vào tây phương và Mỹ, vào nguồn hàng xuất khẩu. Trung Cộng đang rất sợ hãi nếu xẩy ra một cuộc chiến tranh mậu dịch, hay bị tây phương cấm vận, vì nền kinh tế của Hoa Lục sẽ có nguy cơ sụp đổ.  Một ngày nào đó mà các nước phương Tây và Hoa kỳ rút các công ty của họ, đem các công việc làm đó về nước là ngày nền kinh tế Hoa Lục sẽ bị lung lay. Ngày nào mà các quốc gia Châu Á, Châu Phi biết tìm các thoát ra khỏi ảnh hưởng bị khống chế qua các đầu tư và cho vay của Trung Cộng, ngày đó mộng bá vương của Tập Cận Bình sẽ trở thành ảo mộng. Chính Hoa Thịnh Đốn đã đưa Bắc Kinh đi lên, và cũng chính Washington là nơi có thể đưa Beijing đi xuống. Cộng sản Việt chỉ là một chư hầu không có thực lực chạy quanh Bắc Kinh, ngày nào Hoa Lục sụp đổ cũng chính là ngày cáo chung của cộng sản Việt. (Tin Tổng Hợp).

Phạm Gia Đại



Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Liên quan đến cuộc bầu cử Quốc Hội Đức 2021 trước đây tôi đã giới thiệu lần lượt ba ứng cử viên: Scholz của SPD, Laschet (CDU) và Baerbock (Xanh). Nhưng trong những tháng qua có khá nhiều tin giật gân nên để rộng đường dư luận tôi lại mạn phép ghi ra vài điểm chính bằng Việt ngữ từ vài tin tức liên quan đến cuộc bầu cử 2021 được truyền thông và báo chí Đức loan tải.
Năm 17 tuổi, đang khi học thi tú tài, tôi bỗng nhiên bị suyễn. Căn bệnh này – vào cuối thế kỷ trước, ở miền Nam – vẫn bị coi là loại nan y, vô phương chữa trị. Từ đó, thỉnh thoảng, tôi lại phải trải qua vài ba cơn suyễn thập tử nhất sinh. Những lúc ngồi (hay nằm) thoi thóp tôi mới ý thức được rằng sinh mệnh của chúng ta mong manh lắm, và chỉ cần được hít thở bình thường thôi cũng đã là một điều hạnh phúc lắm rồi. If you can't breathe, nothing else matters!
Một người không có trí nhớ, hoặc mất trí nhớ, cuộc đời người ấy sẽ ra sao? Giả thiết người ấy là ta, cuộc đời ta sẽ như thế nào? Ai cũng có thể tự đặt câu hỏi như vậy và tự cảm nghiệm về ý nghĩa của câu hỏi ấy. Sinh hoạt của một người, trong từng giây phút, không thể không có trí nhớ. Cho đến một sinh vật hạ đẳng mà chúng ta có thể biết, cũng không thể tồn tại nếu nó không có trí nhớ. Trí nhớ, Sanskrit nói là smṛti, Pāli nói là sati, và từ Hán tương đương là niệm, cũng gọi là ức niệm, tùy niệm. Nói theo ngôn ngữ thường dùng hiện đại, niệm là ký ức. Đó là khả năng ghi nhớ những gì đã xảy ra, thậm chí trong thời gian ngắn nhất, một sát-na, mà ý thức thô phù của ta không thể đo được.
Ba mươi năm trước tôi là thành viên hội đồng quản trị của một cơ quan xã hội giúp người tị nạn trong khu vực phía đông Vịnh San Francisco (East Bay) nên khi đó đã có dịp tiếp xúc với người tị nạn Afghan. Nhiều người Afghan đã đến Mỹ theo diện tị nạn cộng sản sau khi Hồng quân Liên Xô xâm chiếm đất nước của họ và cũng có người tị nạn vì bị chính quyền Taliban đàn áp. Người Afghan là nạn nhân của hai chế độ khác nhau trên quê hương, chế độ cộng sản và chế độ Hồi giáo cực đoan.
Bà Merkel là một người đàn bà giản dị và khiêm tốn, nhưng nhiều đối thủ chính trị lại rất nể trọng bà, họ đã truyền cho nhau một kinh nghiệm quý báu là “Không bao giờ được đánh giá thấp bà Merkel”.
Hai cụm từ trọng cung (supply-side) và trọng cầu (demand-side) thường dùng cho chính sách kinh tế trong nước Mỹ (đảng Cộng Hòa trọng cung, Dân Chủ trọng cầu) nhưng đồng thời cũng thể hiện hai mô hình phát triển của Hoa Kỳ (trọng cầu) và Trung Quốc (trọng cung). Bài viết này sẽ tìm hiểu cả hai trường hợp. Trọng cung là chủ trương kinh tế của đảng Cộng Hoà từ thời Tổng Thống Ronald Reagan nhằm cắt giảm thuế má để khuyến khích người có tiền tăng gia đầu tư sản xuất. Mức cung tăng (sản xuất tăng) vừa hạ thấp giá cả hàng hóa và dịch vụ lại tạo thêm công ăn việc làm mới. Nhờ vậy mức cầu theo đó cũng tăng giúp cho kinh tế phát triển để mang lại lợi ích cho mọi thành phần trong xã hội. Giảm thuế lại thêm đồng nghĩa với hạn chế vai trò của nhà nước, tức là thu nhỏ khu vực công mà phát huy khu vực tư.
Gần đây, chỉ một tấm ảnh của nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ – Nicole Gee – ôm em bé người Afghan với thái độ đầy thương cảm thì nhiều cơ quan truyền thông quốc tế đều phổ biến và ca ngợi! Nhân loại chỉ tôn trọng sự thật, trân quý những tâm hồn cao thượng và những trái tim biết rung động vì tình người – như nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ, Nicole Gee – chứ nhân loại không bao giờ thán phục hoặc ca ngợi sự tàn ác, dã man, như những gì người csVN đã và đang áp đặt lên thân phận người Việt Nam!
Tôi vừa mới nghe ông Trần Văn Chánh phàn nàn: “Cũng như các hội nghề nghiệp khác, chưa từng thấy Hội nhà giáo Việt Nam, giới giáo chức đại học có một lời tuyên bố hay kiến nghị tập thể gì liên quan những vấn đề quốc kế dân sinh hệ trọng; thậm chí nhiều lần Trung Quốc lấn hiếp Việt Nam ở Biển Đông trong khoảng chục năm gần đây cũng thấy họ im phăng phắc, thủ khẩu như bình…”
Thế giới chưa an toàn và sẽ không an toàn chừng nào các lực lượng khủng bố trên thế giới vẫn còn tồn tại, một nhà báo, cựu phóng viên đài VOA từ Washington D.C. nói với BBC News Tiếng Việt hôm thứ Năm. Sự kiện nước Mỹ bị tấn công vào ngày 11 tháng 09 năm 2001 đã thức tỉnh thế giới về một chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo cực đoan đang tồn tại trong lòng các nước Trung Đông. Giờ đây, sau 20 năm, liệu người Mỹ có cảm thấy an toàn hơn hay họ vẫn lo sợ về một cuộc tấn công khủng bố khác trên đất nước Hoa Kỳ hay nhằm vào công dân Mỹ ở nước ngoài.
Vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, những kẻ khủng bố Hồi giáo thuộc tổ chức mạng lưới Al-Qaida đã dùng bốn phi cơ dân sự làm thành một loại vũ khí quân sự để tấn công vào Trung tâm Thương mại Thế giới ở New York và Lầu Năm Góc ở Washington D.C. Các sự kiện không tặc loại này là lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh của nhân loại và đã có hậu quả nghiêm trọng nhất trong lịch sử cận đại.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.