Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

CHIẾN TRANH 1954-1975 TRONG CHIẾN TRANH LẠNH TRÊN THẾ GIỚI

29/05/201810:44:00(Xem: 3487)

Chiến tranh 1946-1954 chấm dứt với hiệp định Genève ngày 20-7-1954, chia hai nước Việt Nam ngang theo sông Bến Hải, ở vĩ tuyến 17.  


Bắc Việt Nam (BVN) là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH), theo chủ nghĩa cộng sản (CS), do Hồ Chí Minh và đảng Lao Động cai trị.  Đảng Lao Động tức đảng Cộng Sản Đông Dương cải danh năm 1951. Nam Việt Nam (NVN) là Quốc Gia Việt Nam (QGVN), do Bảo Đại làm quốc trưởng và Ngô Đình Diệm làm thủ tướng.  Ngày 26-10-1955, QGVN được đổi thành Việt Nam Cộng Hòa, theo tổng thống chế, do Ngô Đình Diệm làm tổng thống.

Tuy VNDCCH do đảng Lao Động điều khiển, đã ký hiệp định Genève, đình chỉ chiến sự, chia hai đất nước, nhưng đảng Lao Động không từ bỏ tham vọng bành tướng chủ nghĩa CS, và ngay từ sau hiệp định Genève, đảng Lao Động liền dùng quân du kích còn cài lại ở NVN, nổi lên quấy phá khắp nơi, chuẩn bị ngày nổi dậy.  


Chiến tranh lần nầy là cuộc chiến tranh bành trướng của chủ nghĩa CS xuống NVN và từ đó đe dọa các nước Đông Nam Á, kéo dài từ năm 1954 đến ngày 30-4-1975, khi quân đội BVN chiếm được Sài Gòn.  Chiến tranh 1954-1975 ở Việt Nam rơi đúng vào cao điểm chiến tranh lạnh trên thế gới.


NGUỒN GỐC CHIẾN TRANH LẠNH


Chiến tranh lạnh là tình trạng tranh chấp căng thẳng giữa hai khối tư bản và cộng sản sau thế chiến thứ hai (1939-1945).  Nguyên sau thế chiến thứ hai, các nước trên thế giới chia thành hai khối: 1) Thứ nhứt là Hoa Kỳ cùng các nước theo chủ nghĩa tư bản.  2) Thứ hai là Liên Xô cùng các nước theo chủ nghĩa CS. Giữa hai khối về sau phát sinh ra khối thứ ba là các nước trung lập, đứng giữa hai khối, không chống bên nào, ngoại giao với tất cả các nước trên thế giới, không kể tư bản hay CS.


Chiến tranh lạnh manh nha từ việc Liên Xô  đưa quân phong tỏa thành phố Tây Berlin ngày 24-6-1948.  Nguyên vào cuối thế chiến thứ hai tại Âu Châu, Đức đầu hàng ngày 7-5-1945.  Đức bị chia thành ba khu vực cho ba cường quốc thắng trận là Anh, Hoa Kỳ và Liên Xô.  Pháp không được xem là nước thắng trận. Anh và Hoa Kỳ ở phía tây nước Đức; Liên Xô ở phí đông nước Đức.  Anh và Hoa Kỳ chia lại cho Pháp một vùng đất sát với biên giới Pháp. Thủ đô Berlin cũng được chia như thế.  Berlin nằm trong lãnh thổ Đông Đức, nên các nước Tây phương muốn tiếp tế cho Tây Berlin, phải qua không phận hay đường bộ xuyên Đông Đức do Liên Xô kiểm soát.


Ngày 16-4-1948, Tây Âu thành lập khối kinh tế  O.E.E.C. (Organization for Europen Economic Co-operation) gồm 16 nước là Austria, Belgium, Denmark, France, Greece, Iceland, Ireland, Italy, Luxemburg, the Netherlands, Norway, Portugal, Sweden, Switzerland, Turkey, United Kingdom.


Do tranh chấp kinh tế, nhứt là do O.E.E.C. muốn vận động thành lập thêm một khối quân sự chống Liên Xô, nên Liên Xô phong tỏa đường tiếp tế Tây Berlin ngày 24-6-1948, gây khủng hoảng Berlin.  Đồng thời để đối đầu với khố O.E.E.C., Liên Xô lập khối kinh tế COMECON (Council for Mutual Economic Assistance) tháng 1-1949 gồm các nước cộng sản Đông Âu là Bulgaria, Czechoslovakia, the German Democratic Republic, Hungary, the Mongolian People’s Republic,  Poland, Rumania, U.S.S.R. [Liên Xô].


Hai bên đông tây thương thảo.  Liên Xô ngưng phong tỏa Tây Berlin ngày 11-5-1949.  Tình hình căng thẳng Berlin tạm chấm dứt. Chiến tranh lạnh mở màn.


Hai khối tư bản và CS đối đầu nhau, tranh chấp quyết liệt trên tất cả các lãnh vực kinh tế, văn hóa, chính trị, quân sự, nhưng hai bên tránh đụng độ trực tiếp với nhau vì cả hai bên đều thủ đắc võ khí nguyên tử, sợ chiến tranh nguyên tử xảy ra thì cả hai bên đều thiệt hại thảm khốc.


Hoa Kỳ thử nghiệm thành công bom nguyên tử ngày 16-7-1945, thả xuống hai thành phố Hiroshima (6-8-1945) và Nagasaki (9-8-1945), khiến Nhật Bản đầu hàng ngày 14-8-1945.  Liên Xô thử nghiệm thành công bom nguyên tử ngày 29-8-1949, cân bằng lực lượng nguyên tử với Hoa Kỳ. Cộng sản thành công ở Trung Hoa, thành lập chế độ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (thường được gọi là Trung Cộng) ngày 01-10-1949, tăng cường sức mạnh cho khối CS.  Mười lăm năm sau, Trung Cộng thử nghiệm thành công bom nguyên tử ngày 16-10-1964, càng làm tăng uy thế của khối CS.


CHIẾN TRANH LẠNH TẠI Á CHÂU


Trong chiến tranh lạnh, các cường quốc trong hai khối viện trợ, bán võ khí cho các phe lâm chiến tại các nước xảy ra tranh chấp nội bộ, tạo thành những điểm nóng địa phương. Tiêu biểu cho điểm nóng địa phương đầu tiên ở Á Châu với sự trợ lực và góp lửa của các cường quốc trong hai khối, là chiến tranh Triều Tiên hay Cao Ly và khủng hoảng eo biển Đài Loan.


Triều Tiên nằm ở đông bắc Trung Hoa, sau thế chiến thứ hai bị chia thànhh hai khu vực chiếm đóng ở vĩ tuyến 38.  Phía bắc do Liên Xô; phía nam do Hoa Kỳ.


Tại miền nam, Lý Thừa Vãn (Syngman Rhee) đắc cử tổng thống lâm thời ngày 20-7-1948, và đứng đầu Cộng Hòa Triều Tiên (Republic of Korea) khi chế độ Cộng Hòa Triều Tiên  chính thức được thành lập ngày 15-8-1948, thủ đô là Hán Thành (Seoul).


Tại miền bắc, Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên (Democratic People’s Republic of Korea) được thành lập ngày 9-9-1949 do Kim Il-sung làm chủ tịch và đảng Lao Động (tức đảng CS) độc quyền cai trị, thủ đô là Bình Nhưỡng (Pyong-yang).


Ngày 25-6-1950, với sự hậu thuẫn của khối cộng sản, Bắc Triều Tiên (BTT) xâm lăng Nam Triều Tiên (NTT), chiếm Hán Thành..  Theo lời kêu gọi của Liên Hiệp Quốc (LHQ), tướng Mac Arthur (Hoa Kỳ) cầm đầu quân đội LHQ đến giúp NTT ngày 12-9-1950, đẩy lui Bắc quân, tái chiếm Hán Thành, và vượt vĩ tuyến 38, đến sông Áp Lục (Yalu River), vùng biên giới Mãn Châu (Trung Cộng).  


Ngày 26-11-1950, khoảng 250,000 quân Trung Cộng vượt biên giới, giúp BTT, đẩy lui quân LHQ xuống phía nam, chiếm Hán Thành.  Đại tướng Mathew Ridgway (Hoa Kỳ) thay đai tướng Mac Arthur, cầm quân LHQ, đẩy lui quân BTT khỏi vĩ tuyến 38 tháng 1-1951. Cuộc thương thuyết bắt đầu tháng 7-1951 và hai bên ký kết hiệp ước Bàn Môn Điếm (Panmunjom) ngày 27-7-1953, lấy vĩ tuyến 38 chia hai Triều Tiên.  Phía bắc là Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên (People’s Republic of Korea), thủ đô là Bình Nhưỡng (Pyong-yang).  Phía nam là Cộng Hòa Triều Tiên (Republic of Korea), thủ đô là Hán Thành (Seoul).


Điểm đáng chú ý trong cuộc chiến nầy là quân LHQ lấy công làm thủ,  đánh bắc thủ nam, tiến quân qua phía bắc vĩ tuyến 38 để đánh BTT, vừa đe dọa BTT, vừa chận đứng một cách hữu hiệu nguồn tiếp tế của cộng sản BTT cho quân du kích cộng sản ở NTT.  Khi đó, du kích cộng sản NTT không còn được tiếp viện, không thể tiếp tục hoạt động. Hiệp ước Bàn Môn Điếm được xem là một mẫu mực để giải quyết chiến tranh 1946-1954 ở Việt Nam, đưa dến hiệp định Genève ngày 20-7-1954 chia hai Việt Nam ở vĩ tuyến 17.


Khi chiến tranh Triều Tiên bùng nổ năm 1950, Hoa Kỳ gởi Đệ thất hạm đội đến bảo vệ Đài Loan (Taiwan) tức Trung Hoa Dân Quốc (THDQ), eo biển Đài Loan, hai quần đảo Kim Môn (Kinmen) và Mã Tổ (Mazu).  Hai quần đảo nầy nằm cách hải cảng Hạ Môn (Xiamen), tỉnh Phúc Kiến (Fujian) của Trung Cộng khoảng 15 Km, trong khi cách bờ biển Đài Loan khoảng 270 Km, nhưng hai quần đảo nầy lại thuộc chủ quyền của Đài Loan.


Tháng 9-1954, Trung Cộng mở cuộc pháo kích hai quần đảo Kim Môn và Mã Tổ.  Đây là cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ nhứt. Đài Loan rất nhỏ so với lục địa Trung Cộng, nhưng lúc đó THDQ (Đài Loan) nhờ Hoa Kỳ bảo trợ, vẫn là thành viên thường trực của tổ chức Liên Hiệp Quốc (LHQ), trong khi CHNDTH hay Trung Cộng rộng lớn hơn rất nhiều, vẫn chưa được vào LHQ.  


Ngày 2-12-1954, Hoa Kỳ và THDQ ký Hiệp định Phòng thủ Hỗ tương (Sino-American Defence Treaty) tại Đài Bắc (Taipei) và có hiệu lực từ ngày 3-3-1955.  Trước việc Hoa Kỳ quyết chí bảo vệ Đài Loan, Trung Cộng đành chịu ngồi vào bàn hội nghị thương lượng tháng 4-1955, và cuối cùng cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ nhứt chấm dứt vào đầu tháng 5-1955.


VIỆT NAM ĐI VÀO CHIẾN TRANH LẠNH


Trong khi đó, sau khi chiến tranh Triều Tiên chấm dứt năm 1953, Trung Cộng rảnh tay ở Triều Tiên, dồn nỗ lực giúp Việt Minh và đảng Lao Động ở Việt Nam trong chiến tranh 1946-1954.  Nhờ sự giúp đỡ về mọi mặt của Trung Cộng, Việt Minh và đảng Lao Động mới thành công năm 1954.


Đối thủ của Trung Cộng ở Triều Tiên là Hoa Kỳ.  Trong bài diễn văn ngày 7-4-1954, tổng thống Hoa Kỳ là  Dwight D. Eisenhower đưa ra thuyết domino, theo đó ông cho rằng khi một nước bị CS chiếm, thì các nước lân bang dần dần sẽ bị mất vào tay CS, nghĩa là một quân cờ domino sụp đổ, thì các quân cờ domino khác cũng sụp theo.  Sau hiệp định Genève (20-7-1954) vận dụng thuyết địa lý chính trị nầy, Hoa Kỳ can thiệp vào các nước Đông Nam Á, nhằm ngăn chận sự bành trướng của CS.  


Trước sự bành trướng của CS tại Á Châu, đại diện ba nước Australia (Úc), New Zealand (Tân Tây Lan), United States of America (USA) (Hoa Kỳ) họp tại San Francisco (Hoa Kỳ) ngày 1-9-1951, ký hiệp ước thành lập khối quân sự ANZUS, nhằm hợp tác phòng thủ nếu xảy ra các cuộc tấn công trên Thái Bình Dương được xem là ảnh hưởng đến hòa bình và an ninh của mỗi nước và các nước khác trong khu vực.  Khối ANZUS không lập lực lượng quân sự riêng, chỉ họp hằng năm cấp bộ trưởng ngoại giao để duyệt xét tình hình và họp bất thường khi một trong ba nước thành viên yêu cầu vì an ninh bị đe dọa.


Sau hiệp định Genève (20-7-1954), Hoa Kỳ vận động ký kết Hiệp ước Hỗ tương Phòng thủ Đông Nam Á (Southeast Asia Collective Defence Treaty) tại Manila, thủ đô Phi Luật Tân, ngày 8-9-1954.  Từ đó ra đời TỔ CHỨC LIÊN PHÒNG ĐÔNG NAM Á (Southeast Asia Treaty Organization, SEATO), gồm các nước (theo thứ tự ABC) Australia, France, New Zealand, Pakistan, Philippines, Thailand, United Kingdom (Anh), và United States of America.  


Trong phụ bản của hiệp ước, ba nước Cambodia, Lào và Việt Nam được sắp trong nhóm lãnh thổ được bảo vệ.  Hoa Kỳ dựa vào phụ bản hiệp ước nầy để minh chứng sự ủng hộ của họ đối với các chế độ chống cộng ở Đông Nam Á.


Riêng NVN, Hoa Kỳ giúp đỡ tổng thống Ngô Đình Diệm xây dựng và củng cố Việt Nam Cộng Hòa, nhằm biến Việt Nam Cộng Hòa thành “tiền đồn chống cộng” ở Đông Nam Á.  Sự giúp đỡ của Hoa Kỳ khiến cho khối CS quan tâm, nhứt là Trung Cộng vì Trung Cộng e ngại sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ sẽ đe dọa đến nền an ninh của Trung Cộng.  Trung Cộng càng yểm trợ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tấn công VNCH, vừa chống Hoa Kỳ từ xa, vừa thực hiện âm mưu bành trướng xuống Đông Nam Á. Thế là chiến tranh 1954-1975 ở Việt Nam từ từ đi vào chiến tranh lạnh mà chẳng được để ý.


KẾT LUẬN


Vì quyền lợi, vì tham vọng bành trướng, và vì an ninh quốc gia, dựa trên chủ nghĩa chính trị, hai khối tư bản và cộng sản chống nhau trên thế giới và hậu thuẫn cho các phe lâm chiến ở khắp nơi.  Có thể nói hai khối tư bản và cộng sản tương khắc nhưng tương sinh (chống nhau nhưng nhờ nhau mà phat triển). Nơi nào có các lực lượng CS gây hấn, thì các nước tư bản đến giúp đỡ theo thuyết domino.   Nơi nào được các nước tư bản giúp đỡ, thĩ các nước CS kiếm cách gây hấn


Chiến tranh Việt Nam 1954-1975 nằm trong trường hợp đó.


TRẦN GIA PHỤNG

(Toronto, 28-05-2018)








Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Năm 17 tuổi, đang khi học thi tú tài, tôi bỗng nhiên bị suyễn. Căn bệnh này – vào cuối thế kỷ trước, ở miền Nam – vẫn bị coi là loại nan y, vô phương chữa trị. Từ đó, thỉnh thoảng, tôi lại phải trải qua vài ba cơn suyễn thập tử nhất sinh. Những lúc ngồi (hay nằm) thoi thóp tôi mới ý thức được rằng sinh mệnh của chúng ta mong manh lắm, và chỉ cần được hít thở bình thường thôi cũng đã là một điều hạnh phúc lắm rồi. If you can't breathe, nothing else matters!
Một người không có trí nhớ, hoặc mất trí nhớ, cuộc đời người ấy sẽ ra sao? Giả thiết người ấy là ta, cuộc đời ta sẽ như thế nào? Ai cũng có thể tự đặt câu hỏi như vậy và tự cảm nghiệm về ý nghĩa của câu hỏi ấy. Sinh hoạt của một người, trong từng giây phút, không thể không có trí nhớ. Cho đến một sinh vật hạ đẳng mà chúng ta có thể biết, cũng không thể tồn tại nếu nó không có trí nhớ. Trí nhớ, Sanskrit nói là smṛti, Pāli nói là sati, và từ Hán tương đương là niệm, cũng gọi là ức niệm, tùy niệm. Nói theo ngôn ngữ thường dùng hiện đại, niệm là ký ức. Đó là khả năng ghi nhớ những gì đã xảy ra, thậm chí trong thời gian ngắn nhất, một sát-na, mà ý thức thô phù của ta không thể đo được.
Ba mươi năm trước tôi là thành viên hội đồng quản trị của một cơ quan xã hội giúp người tị nạn trong khu vực phía đông Vịnh San Francisco (East Bay) nên khi đó đã có dịp tiếp xúc với người tị nạn Afghan. Nhiều người Afghan đã đến Mỹ theo diện tị nạn cộng sản sau khi Hồng quân Liên Xô xâm chiếm đất nước của họ và cũng có người tị nạn vì bị chính quyền Taliban đàn áp. Người Afghan là nạn nhân của hai chế độ khác nhau trên quê hương, chế độ cộng sản và chế độ Hồi giáo cực đoan.
Bà Merkel là một người đàn bà giản dị và khiêm tốn, nhưng nhiều đối thủ chính trị lại rất nể trọng bà, họ đã truyền cho nhau một kinh nghiệm quý báu là “Không bao giờ được đánh giá thấp bà Merkel”.
Hai cụm từ trọng cung (supply-side) và trọng cầu (demand-side) thường dùng cho chính sách kinh tế trong nước Mỹ (đảng Cộng Hòa trọng cung, Dân Chủ trọng cầu) nhưng đồng thời cũng thể hiện hai mô hình phát triển của Hoa Kỳ (trọng cầu) và Trung Quốc (trọng cung). Bài viết này sẽ tìm hiểu cả hai trường hợp. Trọng cung là chủ trương kinh tế của đảng Cộng Hoà từ thời Tổng Thống Ronald Reagan nhằm cắt giảm thuế má để khuyến khích người có tiền tăng gia đầu tư sản xuất. Mức cung tăng (sản xuất tăng) vừa hạ thấp giá cả hàng hóa và dịch vụ lại tạo thêm công ăn việc làm mới. Nhờ vậy mức cầu theo đó cũng tăng giúp cho kinh tế phát triển để mang lại lợi ích cho mọi thành phần trong xã hội. Giảm thuế lại thêm đồng nghĩa với hạn chế vai trò của nhà nước, tức là thu nhỏ khu vực công mà phát huy khu vực tư.
Gần đây, chỉ một tấm ảnh của nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ – Nicole Gee – ôm em bé người Afghan với thái độ đầy thương cảm thì nhiều cơ quan truyền thông quốc tế đều phổ biến và ca ngợi! Nhân loại chỉ tôn trọng sự thật, trân quý những tâm hồn cao thượng và những trái tim biết rung động vì tình người – như nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ, Nicole Gee – chứ nhân loại không bao giờ thán phục hoặc ca ngợi sự tàn ác, dã man, như những gì người csVN đã và đang áp đặt lên thân phận người Việt Nam!
Tôi vừa mới nghe ông Trần Văn Chánh phàn nàn: “Cũng như các hội nghề nghiệp khác, chưa từng thấy Hội nhà giáo Việt Nam, giới giáo chức đại học có một lời tuyên bố hay kiến nghị tập thể gì liên quan những vấn đề quốc kế dân sinh hệ trọng; thậm chí nhiều lần Trung Quốc lấn hiếp Việt Nam ở Biển Đông trong khoảng chục năm gần đây cũng thấy họ im phăng phắc, thủ khẩu như bình…”
Thế giới chưa an toàn và sẽ không an toàn chừng nào các lực lượng khủng bố trên thế giới vẫn còn tồn tại, một nhà báo, cựu phóng viên đài VOA từ Washington D.C. nói với BBC News Tiếng Việt hôm thứ Năm. Sự kiện nước Mỹ bị tấn công vào ngày 11 tháng 09 năm 2001 đã thức tỉnh thế giới về một chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo cực đoan đang tồn tại trong lòng các nước Trung Đông. Giờ đây, sau 20 năm, liệu người Mỹ có cảm thấy an toàn hơn hay họ vẫn lo sợ về một cuộc tấn công khủng bố khác trên đất nước Hoa Kỳ hay nhằm vào công dân Mỹ ở nước ngoài.
Vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, những kẻ khủng bố Hồi giáo thuộc tổ chức mạng lưới Al-Qaida đã dùng bốn phi cơ dân sự làm thành một loại vũ khí quân sự để tấn công vào Trung tâm Thương mại Thế giới ở New York và Lầu Năm Góc ở Washington D.C. Các sự kiện không tặc loại này là lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh của nhân loại và đã có hậu quả nghiêm trọng nhất trong lịch sử cận đại.
Thứ Bảy, ngày 11/09/2021, nước Mỹ tưởng niệm 20 năm vụ tấn công khủng bố thảm khốc nhắm vào tòa tháp đôi World Trade Center ở New York, bộ Quốc Phòng Mỹ ở gần Washington và ở Shanksville tại Pennsylvania. Gần 3.000 người chết, hơn 6.000 người bị thương. Hai mươi năm đã trôi qua, vẫn còn hơn 1.000 người chết đã không thể nhận dạng. Chấn thương tinh thần vẫn còn đó. Mối họa khủng bố vẫn đeo dai dẳng. Lễ tưởng niệm 20 năm vụ khủng bố gây chấn động thế giới diễn ra như thế nào, nhất là trong bối cảnh Hoa Kỳ triệt thoái toàn bộ binh sĩ khỏi Afghanistan sau đúng 20 năm tham chiến ? Mời quý vị theo dõi cuộc phỏng vấn với nhà báo Phạm Trần từ Washington.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.