Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Các thủ thuật trong chính sách thương mại của Trump

19/03/201811:57:00(Xem: 4694)
Các thủ thuật trong chính sách thương mại của Trump
 
Dani Rodrik
Đỗ Kim Thêm dịch

 

Thực ra, cho đến nay, lời lẽ quát tháo thô bạo của Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump về chính sách thương mại là khó khả thi. Nhưng điều này có thể thay đổi. Vào tháng Giêng, ông đã tăng thuế đối với máy giặt và thiết bị nhận năng lượng mặt trời nhập khẩu. Hiện nay, ông đã ra lệnh áp dụng thuế cao quá mức đối với thép và nhôm nhập khẩu (25% cho thép và 10% cho nhôm), đó là một động thái theo một ngoại lệ hiếm hoi vì lý do an ninh quốc gia dựa theo luật của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).

Nhiều nhà bình luận đã phản ứng gay gắt đối với khả năng của mức thuế quan này, họ dự đoán là một "cuộc chiến thương mại" sẽ xảy ra và còn tệ hơn nửa. Một chuyên gia gọi mức thuế quan dành cho thép và nhôm là những hạn chế thương mại quan trọng nhất kể từ năm 1971, khi Tổng thống Richard M. Nixon áp đặt phụ thu 10% thuế nhập khẩu để đáp ứng với tình trạng thâm hụt thương mại của Mỹ và dự đoán rằng "Nó sẽ có những hậu quả trầm trọng đối với trật tự kinh doanh toàn cầu." Tờ Wall Street Journal đã viết rằng biểu thuế của ông Trump là "chính sách lầm lạc lớn nhất trong nhiệm kỳ của Tổng thống" - một tuyên bố đáng chú ý dựa theo chiều hướng về những sai lầm của chính quyền ông Trump đối với các vấn đề Nga, FBI, Bắc Hàn, nhập cư, thuế, chủ nghĩa dân tộc của người da trắng và nhiều vấn đề khác.

Thực ra, cho đến nay, các biện pháp thương mại của ông Trump là vụn vặt. Đặc biệt hơn, nếu so với quy mô và phạm vi của các chính sách bảo hộ của chính quyền thời Tổng thống Ronald Reagan trong những năm 1980, thì chúng kém quan trọng hơn. Reagan gia tăng biểu thuế quan và các hạn chế đối với nhiều ngành công nghiệp, bao gồm hàng dệt, ô tô, xe máy, thép, gỗ, đường và điện tử. Ông nổi tiếng là đã gây áp lực Nhật Bản để chấp nhận những hạn chế "tự nguyện" về xuất khẩu xe hơi. Ông đã áp đặt 100% thuế cho một số sản phẩm chọn lọc về điện tử của Nhật Bản khi cáo buộc Nhật Bản là không kiềm giá cao cho các linh kiện điện tử xuất khẩu.

Cũng giống như các chính sách của ông Trump, dù không phải là vi phạm  trong các điều khoản chi tiết, mà chính ra là vi phạm về ý nghĩa tinh thần của các hiệp định thương mại hiện nay, các hạn chế thương mại của Reagan đã khai thác các sơ hở trong các thoả thuận hiện hành. Các vi phạm này xa rời những thực tiễn đã áp dụng phổ biến vì lo sợ về một "chủ trương bảo hộ mới" đã trở nên lan rộng. Một luật sư chuyên về thương mại viết: "Có một nguy cơ lớn là hệ thống sẽ đổ vỡ, hoặc nó sẽ sụp đổ trong sự tái diễn khủng khiếp của những năm 1930."

Những lời cảnh giác này gây hốt hoảng không cần thiêt. Nền kinh tế thế giới không bị ảnh hưởng nhiều bởi sự đi ngược hướng tạm thời trong những năm 1980 đối với xu hướng tự do hóa thương mại. Thực ra, thậm chí các nền kinh tế có thể đã hưởng nhiều lợi thế. Chủ thuyết bảo hộ của Reagan đóng vai trò như một nồi thoát hơi an toàn để tránh các sức ép chính trị. Do đó, nó ngăn được những tác hại to tát hơn.

Một khi nền kinh tế vĩ mô của Hoa Kỳ được cải thiện, tốc độ toàn cầu hóa sẽ tăng nhanh đáng kể. Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ (NAFTA), WTO (đã công khai cấm sử dụng hạn ngạch xuất khẩu "tự nguyện" mà Reagan đã làm) và sự bùng nổ xuất khẩu của Trung Quốc, tất cả đều theo sau trong những năm 1990, nó cũng giống như việc loại bỏ các hạn chế còn tồn động đối với hoạt động trong lĩnh vực tài chính xuyên biên giới.

Chủ thuyết bảo hộ của ông Trump có thể có những hậu quả dị biệt; lịch sử không cần tự nó phải lặp lại. Có một điều là mặc dù tác động chung của các hậu quả này vẫn còn hạn chế, các biện pháp hạn chế thương mại của ông Trump có tính chất đơn phương và theo mặt nổi nhiều hơn. Phần lớn chủ thuyết bảo hộ của Reagan được đàm phán với các đối tác thương mại và được soạn thảo để làm giảm bớt gánh nặng kinh tế cho các nhà xuất khẩu.

Ví dụ như các nước xuất khẩu đã điều hành được các biện pháp tự nguyện hạn chế xuất khẩu trong thập niên 1980 về ô tô và thép. Điều này cho phép các doanh nghiệp Nhật Bản và châu Âu thông đồng tăng giá xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ. Thật vậy, thậm chí các doanh nghiệp này có thể còn thu lợi nhiều hơn nhờ các biện pháp hạn chế thương mại của Mỹ. Có rất ít cơ hội để các nhà xuất khẩu máy giặt của Hàn Quốc hay các nhà xuất khẩu các thiết bị nhận năng lượng mặt trời của Trung Quốc cũng sẽ thắng lợi như vậy trong hiện nay. Chủ trương đơn phương của ông Trump sẽ gây ra nhiều giận dữ hơn cho các đối tác thương mại. Do đó, nó sẽ tạo ra biện pháp trả đũa.

Một sự tương phản khác với các biện pháp trong thời của Reagan là chúng ta đang sống trong một giai đoạn thăng tiến của toàn cầu hóa, và những vấn đề song hành với trào lưu này là lớn hơn. Đẩy mạnh tiến trình toàn cầu hoá tăng tốc vào những năm 1990 đã tạo ra tình trạng phân hoá sâu xa giữa những người thành đạt trong nền kinh tế toàn cầu và chia sẻ những giá trị và những người thất bại. Kết quả là các lực lượng của chủ trương theo tinh thần dân tộc và kỳ thị địa phương có lẽ mạnh hơn bất cứ lúc nào kể từ khi Đệ nhị Thế chiến kết thúc.

Trong khi các chính sách của ông Trump nhằm khôi phục lại sự công bằng trong thương mại toàn cầu, nhưng nó lại gây trầm trọng hơn là cải thiện các vấn đề này. Như Jared Bernstein và Dean Baker đã chỉ ra rằng, biểu thuế của ông Trump có thể sẽ làm lợi cho một số ít công nhân trong các ngành công nghiệp được bảo vệ, mà phần lớn các công nhân khác ở các ngành công nghiệp liên hệ và các nơi khác phải trả bằng một cái giá. Tình trạng bất quân bình và bất bình đẳng do nền kinh tế toàn cầu tạo ra không thể giải quyết bằng cách là bảo vệ một vài ngành công nghiệp có quan hệ chặt chẻ với chính trị, mà chính quyền dùng các cân nhắc về mặt an ninh quốc gia hiển nhiên như là một cái cớ. Chủ thuyết bảo hộ như vậy là một thủ thuật quảng cáo, không phải là một nghị trình nghiêm túc cho các cải cách thương mại.

Bernstein và Baker lập luận là một nghị trình cải cách nghiêm túc sẽ không giới hạn trong việc bảo vệ các doanh nghiệp dược phẩm và các chuyên gia lành nghề như các bác sĩ. Nó sẽ giải quyết những quan tâm về việc xuống giá các chi phí xã hội và quyền chủ động trong chính sách bằng cách tái thương thuyết các luật lệ của cơ quan WTO qua phương cách đa phương. Nghị trình này sẽ nhắm mục tiêu vào những lĩnh vực mà lợi ích từ thương mại vẫn còn rất lớn, chẳng hạn như tình trạng di chuyển công nhân quốc tế, thay vì hướng về các lĩnh vực chỉ có một số lợi ích đặc biệt.

Nhưng phần lớn công việc cần phải cải cách là nằm trong phạm vi nội địa. Tu chỉnh hợp đồng xã hội trong nước đòi hỏi hàng loạt các chính sách xã hội, thuế và canh tân để làm cơ sở cho một phiên bản giống như New Deal nhưng phù hợp cho thế kỷ XXI. Nhưng với việc giảm thuế cho doanh nghiệp và bãi bỏ các quy định, ông Trump đang đi ngược hướng. Sớm hay muộn gì thì bản chất tác hại của nghị trình trong nội địa của ông Trump sẽ trở nên là một bằng chứng hiển nhiên cho ngay cả các cử tri của ông. Vào thời điểm đó, một cuộc chiến thương mại kiểu củ có vẻ như không thể tránh, nó sẽ làm phân tán việc quan tâm và yểm trợ chính trị.


***

Dani Rodrik là Giáo sư Khoa Kinh tế Chính trị Quốc tế tại Trường Công Quyền học John F. Kennedy thuộc Đại học Harvard. Ông là tác giả các cuốn sách: The Globalization Paradox: Democracy and the Future of the World EconomyEconomics Rules: The Rights and Wrongs of the Dismal Science. Sách mới nhất của ông là Straight Talk on Trade: Ideas for a Sane World Economy.

Nguyên tác: Trump’s Trade Gimmickry

https://www.project-syndicate.org/commentary/trump-tariffs-trade-gimmickry-by-dani-rodrik-2018-03

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Năm 17 tuổi, đang khi học thi tú tài, tôi bỗng nhiên bị suyễn. Căn bệnh này – vào cuối thế kỷ trước, ở miền Nam – vẫn bị coi là loại nan y, vô phương chữa trị. Từ đó, thỉnh thoảng, tôi lại phải trải qua vài ba cơn suyễn thập tử nhất sinh. Những lúc ngồi (hay nằm) thoi thóp tôi mới ý thức được rằng sinh mệnh của chúng ta mong manh lắm, và chỉ cần được hít thở bình thường thôi cũng đã là một điều hạnh phúc lắm rồi. If you can't breathe, nothing else matters!
Một người không có trí nhớ, hoặc mất trí nhớ, cuộc đời người ấy sẽ ra sao? Giả thiết người ấy là ta, cuộc đời ta sẽ như thế nào? Ai cũng có thể tự đặt câu hỏi như vậy và tự cảm nghiệm về ý nghĩa của câu hỏi ấy. Sinh hoạt của một người, trong từng giây phút, không thể không có trí nhớ. Cho đến một sinh vật hạ đẳng mà chúng ta có thể biết, cũng không thể tồn tại nếu nó không có trí nhớ. Trí nhớ, Sanskrit nói là smṛti, Pāli nói là sati, và từ Hán tương đương là niệm, cũng gọi là ức niệm, tùy niệm. Nói theo ngôn ngữ thường dùng hiện đại, niệm là ký ức. Đó là khả năng ghi nhớ những gì đã xảy ra, thậm chí trong thời gian ngắn nhất, một sát-na, mà ý thức thô phù của ta không thể đo được.
Ba mươi năm trước tôi là thành viên hội đồng quản trị của một cơ quan xã hội giúp người tị nạn trong khu vực phía đông Vịnh San Francisco (East Bay) nên khi đó đã có dịp tiếp xúc với người tị nạn Afghan. Nhiều người Afghan đã đến Mỹ theo diện tị nạn cộng sản sau khi Hồng quân Liên Xô xâm chiếm đất nước của họ và cũng có người tị nạn vì bị chính quyền Taliban đàn áp. Người Afghan là nạn nhân của hai chế độ khác nhau trên quê hương, chế độ cộng sản và chế độ Hồi giáo cực đoan.
Bà Merkel là một người đàn bà giản dị và khiêm tốn, nhưng nhiều đối thủ chính trị lại rất nể trọng bà, họ đã truyền cho nhau một kinh nghiệm quý báu là “Không bao giờ được đánh giá thấp bà Merkel”.
Hai cụm từ trọng cung (supply-side) và trọng cầu (demand-side) thường dùng cho chính sách kinh tế trong nước Mỹ (đảng Cộng Hòa trọng cung, Dân Chủ trọng cầu) nhưng đồng thời cũng thể hiện hai mô hình phát triển của Hoa Kỳ (trọng cầu) và Trung Quốc (trọng cung). Bài viết này sẽ tìm hiểu cả hai trường hợp. Trọng cung là chủ trương kinh tế của đảng Cộng Hoà từ thời Tổng Thống Ronald Reagan nhằm cắt giảm thuế má để khuyến khích người có tiền tăng gia đầu tư sản xuất. Mức cung tăng (sản xuất tăng) vừa hạ thấp giá cả hàng hóa và dịch vụ lại tạo thêm công ăn việc làm mới. Nhờ vậy mức cầu theo đó cũng tăng giúp cho kinh tế phát triển để mang lại lợi ích cho mọi thành phần trong xã hội. Giảm thuế lại thêm đồng nghĩa với hạn chế vai trò của nhà nước, tức là thu nhỏ khu vực công mà phát huy khu vực tư.
Gần đây, chỉ một tấm ảnh của nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ – Nicole Gee – ôm em bé người Afghan với thái độ đầy thương cảm thì nhiều cơ quan truyền thông quốc tế đều phổ biến và ca ngợi! Nhân loại chỉ tôn trọng sự thật, trân quý những tâm hồn cao thượng và những trái tim biết rung động vì tình người – như nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ, Nicole Gee – chứ nhân loại không bao giờ thán phục hoặc ca ngợi sự tàn ác, dã man, như những gì người csVN đã và đang áp đặt lên thân phận người Việt Nam!
Tôi vừa mới nghe ông Trần Văn Chánh phàn nàn: “Cũng như các hội nghề nghiệp khác, chưa từng thấy Hội nhà giáo Việt Nam, giới giáo chức đại học có một lời tuyên bố hay kiến nghị tập thể gì liên quan những vấn đề quốc kế dân sinh hệ trọng; thậm chí nhiều lần Trung Quốc lấn hiếp Việt Nam ở Biển Đông trong khoảng chục năm gần đây cũng thấy họ im phăng phắc, thủ khẩu như bình…”
Thế giới chưa an toàn và sẽ không an toàn chừng nào các lực lượng khủng bố trên thế giới vẫn còn tồn tại, một nhà báo, cựu phóng viên đài VOA từ Washington D.C. nói với BBC News Tiếng Việt hôm thứ Năm. Sự kiện nước Mỹ bị tấn công vào ngày 11 tháng 09 năm 2001 đã thức tỉnh thế giới về một chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo cực đoan đang tồn tại trong lòng các nước Trung Đông. Giờ đây, sau 20 năm, liệu người Mỹ có cảm thấy an toàn hơn hay họ vẫn lo sợ về một cuộc tấn công khủng bố khác trên đất nước Hoa Kỳ hay nhằm vào công dân Mỹ ở nước ngoài.
Vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, những kẻ khủng bố Hồi giáo thuộc tổ chức mạng lưới Al-Qaida đã dùng bốn phi cơ dân sự làm thành một loại vũ khí quân sự để tấn công vào Trung tâm Thương mại Thế giới ở New York và Lầu Năm Góc ở Washington D.C. Các sự kiện không tặc loại này là lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh của nhân loại và đã có hậu quả nghiêm trọng nhất trong lịch sử cận đại.
Thứ Bảy, ngày 11/09/2021, nước Mỹ tưởng niệm 20 năm vụ tấn công khủng bố thảm khốc nhắm vào tòa tháp đôi World Trade Center ở New York, bộ Quốc Phòng Mỹ ở gần Washington và ở Shanksville tại Pennsylvania. Gần 3.000 người chết, hơn 6.000 người bị thương. Hai mươi năm đã trôi qua, vẫn còn hơn 1.000 người chết đã không thể nhận dạng. Chấn thương tinh thần vẫn còn đó. Mối họa khủng bố vẫn đeo dai dẳng. Lễ tưởng niệm 20 năm vụ khủng bố gây chấn động thế giới diễn ra như thế nào, nhất là trong bối cảnh Hoa Kỳ triệt thoái toàn bộ binh sĩ khỏi Afghanistan sau đúng 20 năm tham chiến ? Mời quý vị theo dõi cuộc phỏng vấn với nhà báo Phạm Trần từ Washington.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.