Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Nghĩ Từ Quyển Sách Dịch Thơ Cao Bá Quát

04/02/201800:00:00(Xem: 3248)
Người Việt dính dáng với văn chương thơ phú của Việt Nam đa số thích thơ Đường. Ai có tâm hồn nghệ sĩ hơn và  đam mê hơn thường nghêu ngao ngâm nga thơ của Lý Bạch, Đỗ Phủ, Vương Xương Linh, Mạnh Hạo Nhiên, Liễu Tôn Nguyên, Bạch Cư Dị… để tự mình tìm tòi cái hay đẹp của chính nguyên tác. Vẫn chưa đủ, họ nghiền ngẫm bài dịch các bài thơ nầy để mong hiểu thêm nữa mà khi đọc nguyên tác chưa hiểu hết ý. Có người lại dùng thời giờ và sở học của mình dịch từng tập dầy thơ Đường ra quốc ngữ để cho riêng mình thưởng thức. Họ rất sung sướng khi thấy một chữ mình dịch thiệt là đắc thể, đúng chỗ, lột được ý của nguyên tác. Thậm chí có người không biết chữ Hán hay lỏm bỏm vài ba chữ cũng nhảy vô dịch, căn cứ trên những bản dịch có sẵn từ trước, thay đổi một vài chữ hay một vài nhóm từ.  Cách dịch dễ nhứt là căn cứ trên bản dịch của ai đó giúp mình hiểu ý bài thơ làm căn cứ rồi diễn dịch lại bằng câu thơ mà vần là vần của nguyên tác. Cách nầy phổ thông nhứt khiến cho có cảnh tượng mà tôi không biết là đáng vui hay buồn: anh dịch, tôi dịch, nó dịch, chúng ta cùng dịch thơ chữ Hán.

Chuyện ưa thích và đi đến tình trạng sính thơ chữ Hán đến tuyệt đỉnh như vậy không có gì đáng chê trách vì thơ Đường nói riêng và nói chung các thứ thơ của những đời trước hay sau đó của Trung Quốc vừa là tài sản văn hóa của nước Trung Hoa vừa là thứ gì đó rất gần gũi với người Việt. Bao thế kỷ rồi ông bà ta sống với loại thơ nầy, thưởng thức nó và thậm chí học hỏi từ nó. Dịch thơ chữ Hán của Trung Hoa cũng là dịp thưởng thức cái hay của thơ một cách cẩn thận, có dịp khám phá hết các chi tiết sâu thẩm ẩn tàng trong một bài thơ mà khi chỉ đọc qua không thể nào nắm bắt được hết. Dầu thơ chữ Hán là thơ của một nước trong quá khứ từng làm khổ dân ta và hiện tại nhà nước của thứ thơ đó còn có mộng nuốt chửng cả nước ta. Thế nhưng Thơ chữ Hán như một hoàng tử tốt áo. Thiên hạ xúm lại sờ mó, ca tụng tâng bốc đã nhiều, không chỉ người trong các nước Đông Á từng chịu ảnh hưởng của văn hoá Trung Quốc thôi mà cả người của nhiều nước Tây Phương như Anh Mỹ Pháp… nữa cũng thích.

Thơ chữ Hán, dầu hay, đó cũng là thứ gì đó của người nước khác, thuộc một nền văn hóa không phải  là của người Việt trong khi nước ta cũng có thứ tương đương là thơ chữ Hán của người Việt Nam. Gia tài của Mẹ Việt Nam nầy lâu nay chưa được chú ý đúng mức. Trần Trọng Kim, Ngô Tất Tố, Trần Trọng San, Bùi Khánh Đản, Đinh Văn Chấp vừa chỉ giới thiệu và dịch thơ chữ Hán của Trung Quốc, sang quốc ngữ bằng nguyên thể  thường gọi là Đường luật. Các ông nầy đã bỏ quên loại Đường thi của người Việt Nam sáng tác  trong 4, 5 trăm năm người Việt chịu ảnh hưởng của Trung Hoa. Công việc làm lúc đó, 7, 9 chục năm trước có thể là tốt, là chấp nhận được. Nó giúp chúng ta hiểu hơn văn học và văn hóa của người bạn láng giềng khổng lồ Trung Quốc ở phía Bắc. Mặt khác lúc đó, nền văn hóa ảnh hưởng đến người Việt Nam mạnh nhứt phải nói là văn hóa Trung Hoa, sự giới thiệu thơ Trung Hoa cho độc giả Việt là chuyện dĩ nhiên.

Nhưng thời thế đã đổi thay rồi.

Ta, nếu có sở học, nếu có thời giờ, nên trở về với cái thật sự là thành phần gia tài của dân tộc mà dịch thơ chữ Hán của người Việt Nam.

Thơ chữ Hán của Việt Nam có nghệ thuật và có dính dáng đến sinh hoạt văn hóa hay tâm tình thiệt sự của người Việt không nhiều gì, bởi vì, phải thú thiệt một điều đau lòng là, một phần lớn loại thơ nầy được sáng tác để thù tiếp bạn bè hay sáng tác lúc trà dư tửu hậu, vui chơi với kỷ thuật hơn là biểu lộ tâm tình ẩn náo trong lòng người làm thơ. Còn lại thiệt sự có thể kể ra chừng năm bảy chục tập thôi. Nếu coi số lượng đó là gia tài văn chương chữ Hán của người Việt Nam thì thiệt là quá ít, nghĩa là nghèo bàn, khiêm tốn. Thế mà chúng ta không mấy ai biết đến chúng một cách tường tận trong khi thơ Lý Bạch, Đỗ Phủ và các thi nhân sau đó có cả trăm nhà với cả chục ngàn bài mà quá nhiều người biết, quá nhiều tập thơ dịch công phu và tài hoa… Chuyện của nước người sao mà nhanh nhẩu, còn chuyện của nước ta sao mà thờ ơ thế. Đã đến lúc nên suy nghĩ lại, có đáng chăng bỏ phí thời giờ và tâm huyết vô lo cho đứa con của hàng xóm có cha mẹ đầy đủ trong khi vợ chồng mình thiếu trước hụt sau lại chẳng lo cho con mình?


Thơ chữ Hán của các thiền sư đời Lý (Khánh Hỷ, Bảo Giác, Huyền Quang, Pháp Loa, ..), các vị minh quân đời Trần (Trần Thái Tôn, Trần Thánh Tôn, TRần Nhân Tôn, Trần Minh tôn…) và gần đây là các thi sĩ thứ thiệt như Nguyễn Du, Nguyễn Trải, Nguyễn Xuân Ôn, Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh, Lê Quang Định (Gia Định Tam Gia), Kiều Oánh Mậu, Kỳ Đồng, Ngô Thế Vinh, Ngô Đình Thái,  Dương Khuê, Dương Bàng…vẫn chưa được dịch hết, đó là chưa kể có tác giả chưa từng được dịch bài nào, khiến cho cái tên ta nghe tường chừng họ là người Trung Quốc..…

Cái khổ ta là nước nhỏ, văn hóa thì chịu ảnh hưởng của nước lớn, chữ viết cũng lấy của họ làm của mình trong thời gian dài. Bây giờ thì con cháu dầu xa lạ với thứ chữ đó nhưng gia sản văn hóa của ông cha không thể xổ toẹt, coi như không có. Ai có chút Hán học, phải bỏ công dịch tác phẩm chữ Hán của người Việt Nam ra chữ quốc ngữ.

Đó là chuyện phải làm.

Đã đến lúc ta nên quay trở về góp công sức để giới thiệu nền văn hóa của dân tộc, ít nhứt là với người Việt Nam ta, nếu sau nầy có điều kiện, các học giả Việt của thế hệ di dân 2, 3, 4…n,… viết và giới thiệu bằng ngôn ngữ nơi họ sinh sống thì còn gì đáng vui mừng bằng. Và quyển sách dịch thơ của Cao Bá Quát  của Giáo Sư Thái Trọng Lai cung cấp cho chúng ta những điều cần thiết đó. Ông dịch một tác giả Việt Nam bậc thầy và dịch bài nào cũng hay cũng lột hết ý của tác giả….

Thơ văn Cao Bá Quát đã được dịch nhiều lần rồi, không kể thời tiền chiến ở Bắc mỗi người dịch một ít, thời Việt Nam Cộng Hoà, Sa Minh Tạ Thúc Khải dịch gần như toàn bộ rồi, và gần đây Trung Tâm Nghiên Cứu Quốc Học ở Sàigòn cũng dịch lại nữa.

Tại sao lại còn có công trình của Giáo Sư Thái Trọng Lai? Theo tôi có  thể là ông thấy tác giả nầy quả thiệt như đời xưng tụng là thánh thơ, nghĩa là ý tứ cao thâm, từ ngữ vi diệu mà mỗi người chỉ cảm nhận được một ít, thiệt chẳng bỏ công  dịch lại lần nữa, chú lại lần nữa.

Đọc thơ văn chữ Hán hiểu hết ý tại ngôn ngoại là điều thích thú nhưng rất hiếm. Chẳng hạn như bài Quỳnh Hải Nguyên Tiêu của Nguyễn Du trongThanh Hiên Thi Tập, tác giả tả trăng coi đó là người con gái đẹp chứ không phải như người con gái đẹp, bây giờ đêm rằm tháng Giêng nàng đang soi sáng nhà ai, có soi sáng nơi vợ mình ở xa xôi chăng (nhớ vợ), có thấy cảnh huynh đệ mình ly tán chăng (thương gia đình mình), có soi được tấm lòng buồn bã của mình bây giờ đây sau những biến đổi chăng (tự thương thân). Nguyễn Du dùng chữ nhữ 汝 (mày, nhà ngươi, em) để chỉ mặt trăng mà có người dịch lại cho rằng chữ nhữ 汝 chỉ vào chính Nguyễn Du!

Vấn đề theo tôi không nằm trong sự đúng sai mà là do người dịch đã chọn chữ không thuyết phục được người xem. Đọc suốt quyển sách Tuyển Dịch Thơ Chữ Hán Cao Bá Quát của Thái Trọng Lai tôi không có nhiều sự-bực-mình-vì-không-đồng-ý tương tợ như sự kiện trên. Đó là ưu điểm lớn, kế bên ưu điểm thơ ông dịch có nhiều thi vị. Hai ưu điểm trên nói thì coi như nhỏ nhưng thực sự muốn đạt được điều nầy người dịch phải có nội lực chữ Hán thâm hậu và có khả năng vận dụng vần điệu thiệt tân kỳ, dễ như lấy chữ trong túi, giúp cho người đọc dễ lý hội, từ đó hiểu rõ hơn con người phản kháng Cao Bá Quát mà thơ Nôm của ông chỉ là những vệt nắng soi qua khóm lá của ánh sáng mặt trời…

Và đây là điều hân hạnh cho người giới thiệu…

 

Nguyễn Văn Sâm  (Victorville, CA, Sept.15, 2012)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Nói một cách tóm tắt, hiểm hoạ lớn nhất của Việt Nam không phải là chế độ độc tài trong nước hay âm mưu xâm lấn biển đảo của Trung Quốc mà là sự dửng dưng của mọi người. Chính sự dửng dưng đến vô cảm của phần lớn dân chúng là điều đáng lo nhất hiện nay.
Bà Vivien Tsou, giám đốc Diễn đàn Phụ nữ Mỹ gốc Á Thái Bình Dương, cho biết: “Mặc dù trọng tâm là sự thù ghét người gốc Á, nhưng tất cả đều bắt nguồn từ quan điểm da trắng thượng đẳng, và bất cứ ai cũng có thể trở thành “Con dê tế thần bất cứ lúc nào”.
Tổ chức Người Bảo Vệ Nhân Quyền cho biết hiện có 276 tù nhân lương tâm đang bị giam giữ tại Việt Nam. Nhà đương cuộc Hà Nội đối xử với họ ra sao? Tồ Chức Ân Xá Quốc Tế nhận định: “Các nhà tù ở Việt Nam có tiếng là quá đông và không đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế tối thiểu. Vietnamese jails are notoriously overcrowded and fail to meet minimum international standards.”
Nếu so sánh ta sẽ thấy các cuộc biểu tình giữa Việt Nam và ba nước kia khác nhau: ở Việt Nam, yếu tố Trung Quốc là mầm mất nước, nguyên nhân chánh làm bùng phát các cuộc biểu tình. Còn ở Miến Điện, Hồng Kông và Thái Lan, nguyên nhân thúc đẩy giới trẻ xuống đường là tinh thần dân chủ tự do, chống độc tài.
Ma túy đang là tệ nạn gây nhức nhối cho toàn xã hội Việt Nam, nhưng Đảng và Nhà nước Cộng sản chỉ biết tập trung nhân lực và tiền bạc vào công tác bảo vệ Chủ nghĩa Mác-Lenin và làm sao để đảng được độc tài cầm quyền mãi mãi.
Tôi sinh ra ở Sài Gòn, nơi vẫn được mệnh danh là Hòn Ngọc Viễn Đông. Chỉ tiếc có điều là ngay tại chỗ tôi mở mắt chào đời (Xóm Chiếu, Khánh Hội) thì lại không được danh giá hay ngọc ngà gì cho lắm.
Một ngày không có người Mexican có thể sẽ không dẫn đến tình trạng xáo trộn quá mức như cách bộ phim hài "A day without a Mexican" đã thể hiện nhưng quả thật là nước Mỹ sẽ rất khó khăn nếu thiếu vắng họ. Xã hội sẽ bớt phần nhộn nhịp vì sự tươi vui và tràn đầy sức sống của một sắc dân phần lớn là chân thật và chăm chỉ.
Công cuộc chống độc tài vẫn đang tiếp tục và đang trả những cái giá cần phải trả cho một tương lai tốt đẹp hơn. Chị là một trong số những người chấp nhận tự đóng góp vào những phí tổn đó cho toàn dân tộc. Chị là: NGUYỄN THÚY HẠNH.
Dưới thể chế Việt Nam Cộng Hòa người dân không chỉ bình đẳng về chính trị mà còn có cơ hội bình đẳng về kinh tế, nên mặc dù chiến tranh khoảng chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị, giữa những người ở thành thị với nhau không mấy khác biệt.
Nếu so sánh với nuôi con thì có 2 việc là cho ăn và dạy dỗ. Ăn uống phải đầy đủ và điều độ (không mặn, ngọt, béo v.v…) để cơ thể khỏe mạnh. Giáo dục không gò bó thì trẻ hoặc hư hay cương cường tự lập, trái lại rầy la đánh đập hay nuông chiều thì trẻ sinh ra nhút nhát, kém tự tin hoặc ỷ lại. NHTƯ ví với bàn tay Midas nuôi dưỡng thức ăn (tiền) cho nền kinh tế, trong khi bàn tay hữu hình (hay thô bạo) của nhà nước (gồm Hành Pháp và Quốc Hội ở Mỹ) có quyền hạn thả lỏng hay siết chặc thị trường.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.