Hôm nay,  

Áp dụng mô hình Trung Quốc vào các nước đang mở mang

23/01/201818:11:00(Xem: 4948)

“Tại Đại hội toàn quốc lần thứ 19 của đảng Cộng sản hồi tháng 10 vừa qua, chủ tịch Tập Cận Bình đã trình bày hệ thống cai trị của Trung Quốc như một hình mẫu để các quốc gia khác mô phỏng theo. Các nhà lãnh đạo muốn “thúc đẩy sự phát triển trong khi vẫn duy trì nền độc lập của mình” nên nhìn vào Trung Quốc như “một lựa chọn mới”, ông Tập nói” [1].


Câu hỏi đặt ra là Trung Quốc phát huy mô hình đó như thế nào ra quốc tế?

Tuy chưa có tài liệu phân tích từng bước chiến lược của Bắc Kinh trong lãnh vực này, nhưng diễn biến tại nhiều nước đang mở mang ở Đông Nam Á, Nam Á, Phi Châu và tại những nước công nghệ ở Âu và Úc Châu cho thấy một kế sách lâu dài đang được định hình.


Nhưng trước hết, thế nào là mô hình Trung Quốc?


Mô hình Trung Quốc có một số đặc điểm chủ yếu, bao gồm chế độ cai trị chuyên chế dựa trên ý niệm về sự ổn định; chính sách công nghiệp và tài chính do nhà nước dẫn dắt; đầu tư lớn vào cơ sở hạ tầng; công nghiệp hóa nông thôn hậu thuẫn bởi nông nghiệp quy mô nhỏ; và sự mở cửa cho thương mại và công nghệ nước ngoài” [2].


Bắc Kinh không áp dụng toàn bộ nhưng chọn lọc vài chủ điểm trong mô hình trên mang ra áp dụng một cách thuần nhất vào các nước đang phát triển như sau:

  1. Chế độ cai trị dựa trên ý niệm về sự ổn định (tức là cộng sản, độc tài hay dân chủ đều o.k. miễn là có nền chính trị ổn định để buôn bán với Trung Quốc).

  2. Chính sách công nghiệp và tài chính do nhà nước dẫn dắt (tức là kinh tế do nhà nước dẫn dắt càng nhiều thì càng thuận lợi cho Trung Quốc thao túng).

  3. Đầu tư lớn vào cơ sở hạ tầng (tức là tạo thuận lợi để Trung Quốc đầu tư vào hạ tầng của mỗi quốc gia trong kế hoạch Nhất Đới Nhất Lộ).

  4. Mở cửa cho thương mại và công nghệ nước ngoài (tức là tạo thuận lợi cho Trung Quốc khai thác tài nguyên và bán hàng tiêu dùng).


Chủ trương của Trung Quốc là không can thiệp chính trị và quân sự nhằm vận động quảng bá cho một ý thức hệ. Nếu diễn giải theo ngôn từ của Tập Cận Bình thì lập trường này trái ngược với Tây Phương vốn quảng bá sự phát triển của nền dân chủ tư do (liberal democracy) qua các tổ chức quốc tế như IMF, World Bank, NATO, và các tổ chức phi chính phủ như Human Rights Watch, Ký giả không biên giới, v.v. khiến nhiều quốc gia mất đi sự độc lập của mình trong đó có các nước Đông Âu, Thổ Nhĩ Kỳ, Iran, Phi Luật Tân (Phillipines), Mã Lai (Malaysia), Thái Lan, Cam-Bốt, Bangladesh, Pakistan… Chỉ khi nào không bị xáo trộn đột ngột về chính trị thì các quốc gia mới có ổn định xã hội để phát triển kinh tế.


Chủ trương nói trên không chỉ nhằm hấp dẫn các nhà độc tài vốn không muốn bị áp lực phải thay đổi, mà còn dựa trên kinh nghiệm quá khứ của chính Trung Quốc qua cuộc Cách Mạng Văn Hóa đẫm máu, và bài học hiện tại từ các cuộc Cách Mạng Hoa Nhài dẫn đến thảm họa nhân đạo ở Syria, Lybia và kinh tế trì trệ ở Ai Cập, Tunesia… Nói một cách khác, Bắc Kinh ngày nay không chống đối nền dân chủ nhưng phản đối việc can thiệp thực hiện nền dân chủ như một mô hình đồng nhất (one size fits all) lên mọi quốc gia mà không quan tâm đến các đặc thù văn hóa, lịch sử và xã hội.


Tiêu biểu cho lập trường này là quan hệ giữa Trung Quốc với Miến Điện: tuy trước đây Bắc Kinh hậu thuẩn cho chế độ quân phiệt, nhưng khi cánh dân chủ thắng thế thì Hoa Lục sẵn sàng làm việc với bà Aung San Suu Kyi để tiếp tục trao đổi mậu dịch. Khi bà Aung San Suu Kyi bị Tây Phương lên án mạnh mẽ vì không bảo vệ cho thiểu số đạo Hồi người Rohinya, Bắc Kinh im lặng thúc đẩy cho một giải pháp giữa Miến và Bangladesh, qua đó nâng cao vai trò của Trung Quốc vào lúc Âu-Mỹ cô lập Naypyidaw.


Nhìn ra tương lai, hiện Trung Quốc đang ủng hộ nhà cầm quyền độc tài tại Venezuala, nhưng nếu Tổng Thống Maduro bị lật đổ thì Bắc Kinh sẵn sàng làm đối tác thương mại lớn nhất để tiếp tục đầu tư và mua dầu từ chính quyền mới.


Tuy nhiên Bắc Kinh sẽ từ bỏ chính sách không can thiệp nếu quyền lợi chiến lược bị xâm phạm, chẳng hạn như Trung Quốc không thể nào chấp nhận cho Bắc Hàn hay Việt Nam thay đổi thể chế. Hoa Lục cũng sẵn sàng dùng quyền lực nhọn (sharp power) theo cách tung tiền chi phối nền chính trị nội bộ của Úc và Tân Tây Lan (New Zealand) nhằm thay đổi lập trường của hai nước này về Biển Đông theo hướng có lợi cho Trung Quốc; hay dùng áp lực kinh tế ra quốc tế nhằm cô lập Đài Loan và Đức Đạt Lai Lạt Ma; hoặc dùng mậu dịch để trừng phạt Na-Uy, Nhật, Nam Hàn và Phi Luật Tân khi có những va chạm về địa chính trị hay nhân quyền.


Một điểm cần quan tâm là sau Chiến Tranh Lạnh nhiều nước tuy độc tài nhưng vẫn phải khoát tấm bình phong dân chủ vì cần giao dịch với Âu-Mỹ. Nhưng chỉ trong hai năm gần đây, Tổng thống Duterte của Phi và Hunsen của Cam Bốt dựa vào chiếc dù thương mại và chi viện của Trung Quốc để không còn dấu giếm mà ra mặt đối kháng với Tây Phương nhằm thẳng tay đàn áp trong nước. Diễn biến tương tự nhưng ở góc độ khác biệt khi Edorgan của Thổ Nhĩ Kỳ, Viktor Orban của Hung Gia Lợi (Hungary) và Duda của Ba Lan chống đối mô hình dân chủ tự do (liberal democracy) của Tây Âu thay vào đó bằng mô hình dân chủ phi tự do (illiberal democracy) mang màu sắc Hồi giáo hay dân tộc chủ nghĩa.


Nói chung là sức mạnh kinh tế của các nước dân chủ không tăng trong khi Trung Quốc nhảy vọt. Lượng hàng hoá sản xuất từ Mỹ chiếm 50% toàn cầu năm 1945, đến nay còn 16% và dự trù chỉ 11% trong khi Hoa Lục sẽ là 30% vào 2050 [3]. Trái với nhận định của những chuyên gia Tây Phương, mô hình phát triển của Trung Quốc (tóm tắt bằng một chữ “sale”) có mãnh lực thu hút tưởng chừng không thể cưỡng lại để các nước đang phát triển có “một lựa chọn mới” nhằm ổn định chính trị và phát triển thành những nền kinh tế chư hầu (satellite economies) trong kế hoạch Nhất Đới Nhất Lộ của Bắc Kinh.


***


[1] [2] Trích nguyên văn từ: http://www.viet-studies.net/kinhte/ChinaSolitaryModel_Bardhan_trans.html – Người dịch: Huỳnh Hoa.

[3] Destined for war: Can America and China Escape Thucydides’s trap? – Tác giả: Graham Allison.

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Làm thế nào để ngăn chặn Trung Quốc tiến hành một cuộc xâm lược quân sự toàn diện nhằm chiếm Đài Loan bằng vũ lực? Sau đây là một số suy nghĩ cá nhân về vấn đề quan trọng này, tôi trình bày với tư cách là một học giả về Trung Quốc và không phải là đại diện chính thức của chính phủ Úc...
Tôi không thân thiết, và cũng chả quen biết chi nhiều với Trương Văn Dũng (TVD). Thản hoặc, mới có chút chuyện cần – cần phải trao đổi đôi ba câu ngăn ngắn – thế thôi. Tuy thế, tôi hoàn toàn không ngạc nhiên khi nghe ông bị “túm”, và bị kết án tù. Dù rất ngại làm mất lòng thiên hạ (và cũng rất sợ gạch đá tán loạn, từ khắp bốn phương) nhưng tôi vẫn phải khách quan mà nhìn nhận rằng ông Tô Lâm chưa hề bắt “lộn” một nhân vật bất đồng chính kiến nào (ráo trọi) nhất là trường hợp của TVD!
Khi bài này đến với độc giả thì Tổng Bí thư đảng CSVN, Nguyễn Phú Trọng đã vắng mặt gần một tháng mà không có lời giải thích nào của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Lần gần nhất công chúng Việt Nam nhìn thấy ông Trọng là khi ông tiếp Tổng thống Putin thăm Hà Nội ngày 20/06/2024. Sau đó ông đã vắng mặt tại các buổi họp quan trọng...
Không ai biết chắc khi nào một đế chế sẽ sụp đổ. Chẳng ai có thể xác định chính xác thời điểm Đế chế La Mã, Bồ Đào Nha, Ottoman hay Anh kết thúc. Trong bài thơ "Waiting for the Barbarians", nhà thơ Hy lạp Constantine P. Cavafy nhiều lần khẳng định rằng những kẻ man rợ sẽ đến hôm nay. Người ta chờ đợi, như thể đây là chuyện thường nhật như việc một công ty sẽ phá sản, hay một buổi lễ ra trường vậy. Nhưng một đế chế thì sao? Liệu vào thời của mình, nhà thơ Hy Lạp Cavafy có thuộc về một đế chế nào đáng để gọi là đế chế không?
Tôi hoàn toàn (và tuyệt đối) không có năng khiếu hay tham vọng gì ráo trong lãnh vực thơ văn/thi phú. Suốt đời chỉ ước mong sao có sách báo để đọc, để thưởng thức những lời hay ý đẹp của giới văn nhân thi sỹ, là vui thích lắm rồi. Sở thích, cùng niềm vui, tuy giản dị thế thôi nhưng đôi lúc tôi vẫn bị lôi thôi vì những câu cú (vô cùng) tối nghĩa:
Tệ nạn “dưới đẩy lên, trên đùn xuống” và “vô trách nhiệm” không mới trong cán bộ, đảng viên CSVN, nhưng số người “sáng vác ô đi tối vác về” vẫn khơi khơi trong hệ thống cầm quyền mới là điều lạ. Tổng Bí thư đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng từng nói:“Ai không làm thì đứng sang một bên cho người khác làm”, nhưng không ai muốn về vườn vì chứng bệnh nan y “tham quyền cố vị” đã có trong máu thịt Đảng...
Đảng CSVN đang bối rối về câu hỏi: Tại sao phải kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh để xây dựng đất nước? Lý do đơn giản, vì đảng sợ “dân chủ”, nhát “tự do” và lo phải đối phó với tình trạng “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong nội bộ đảng, đe dọa sự sống còn của chế độ...
BBC ái ngại loan tin: “Hôm 8/6, Đài Truyền hình Việt Nam (VTV) đã phát một video (‘Thông tin xuyên tạc ẩn tu của ông Thích Minh Tuệ’) có độ dài 3 phút 40 giây … Sau khi phóng sự được đăng tải trên các trang báo, cũng như các trang mạng xã hội, có không ít người nghi ngờ về độ chân thực của video”.
Hội nghị thượng đỉnh về hoà bình cho Ukraine tại Bürgenstock, Thụy Sĩ vào ngày 15 và 16 tháng 6 năm 2024 được coi là một thành công khiêm nhường cho Ukraine. 80 nước đã lên tiếng ủng hộ mạnh mẽ cho chính nghĩa đấu tranh của Ukraine, nhưng tiếp tục phát huy thành quả này sẽ là không chắc chắn.
Cảnh người Mỹ tranh cãi và dọa dẫm kiện tụng liên quan đến “Thập giới” lại làm tôi nghĩ đến “Thập cửu giới” – tức “Mười chín điều đảng viên không được làm” trên đất Việt. Trên phương diện sử học thì “Thập giới”, hay “Mười điều răn”, chính là bộ luật hình sự đầu tiên của nhân loại. Theo Cựu ước thì bộ luật này được Thượng Đế ban cho Nhà tiên tri Moses trên đỉnh núi Sinai để thiết lập trật tự cho cộng đồng Do Thái. Cũng trên phương diện sử học thì Cựu ước chính là một “đại tự sự” – một “câu chuyện lớn” tương tự câu chuyện về Bốn ngàn năm văn hiến hay con Rồng cháu Tiên của chúng ta v.v.. – với ý hướng tạo một bản sắc chung để kết hợp các bộ lạc Do Thái lại với nhau.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.