Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

The Vietnam War, Một cuốc chiến tranh bị áp đặt và bội ước

31/10/201714:38:00(Xem: 4645)

                                            “One war victory is made by thousands and thousands of dried bones.”

                                     “Làm kẻ thù với Mỹ thì dễ nhưng làm bạn với Mỹ thì khó.” –  TT Nguyễn văn Thiệu


Xin được ghi ra đây vài sự kiện có liên quan và vài ý kiến đóng góp về bộ phim The Vietnam War để rộng đường dư luận. Kính. TTT

             Sau khi xem xong bộ phim mất cả mười năm và tốn hằng tiệu Mỹ kim The Vietnam War, đa số ngừơi xem nhận thấy sự mất cân đối và mất công bằng rõ rệt trong cái nhìn của nhà làm phim. Đành rằng bộ phim chủ yếu dành cho khán giả Mỹ nhưng đã trình bày cách lệch lạc, mất cân xứng về cuộc chiến mà thực chất không giản dị như bộ phim được trình bày.

Theo ông Peter Zinoman, Giáo sư Lịch sử và Đông Nam Á Học, thuộc ĐH Cailfornai, Berkely ,(19 tháng 9, 2017), thì:

“... với cuộc chiến ở Việt Nam, chúng ta có thể biện luận rằng người Việt xứng đáng đóng vai chính trong câu chuyện.  Xét cho cùng, từ 1 đến 3 triệu người Việt đã bị bỏ mạng trong chiến tranh, lớn hơn rất nhiều ( gấp từ 20  đến 60  lần) con số khoản 58.000 người Mỹ chết trong cuộc xung đột...  Hệ quả của cuộc chiến đối với người Việt lớn hơn so với ngừơi Mỹ cũng được thể hiện rõ qua khoảng thời gian trung bình mà mỗi bên phải trải qua.  Trong khi phần lớn ngừơi Mỹ tham chiến tại Việt Nam khoảng trên dưới một năm trong giai đoạn giữa  1965 và  1973 thì người Việt sinh ra sau Thế Chiến thứ Hai đa số phải sống trong thời chiến suốt ba mươi năm ròng rã từ 1945 đền 1975.

Xét sự nổi trội về con số ngừơi Việt lẫn tầm mức thiệt hại không thể sánh được mà họ là nạn nhân, việc đặt người Việt vào trung tâm trong giai đoạn lịch sử đen tối này, ít ra cũng phải là một nghĩa vụ đạo đức nên có ...”

              Theo Khải Đơn  gởi tới dài BBC từ Tp HCM, ngày 17  tháng 9, 2017, trong buổi ra mắt phim lại TLS Mỹ tại TP HCM hôm 25    tháng 8, nhiều khán giả đã đựơc gặp và trao đổi ý kiến với đạo diển Lynn Novick và nhà văn Nguyên Ngọc  (của Hà Nội), người đã cung cấp những dữ kiện về cuộc chiến cho nhóm làm phim, có một cô gái rất trẻ giơ tay hỏi ĐD Lynn Novick:  “ Tại sao trong những đoạn trích đựơc chiếu, tôi chỉ thấy những nhân vật được phỏng vấn là từ miền Bắc Việt Nam?  Vậy trong bộ phim tài liệu sắp chiếu có mhững người từ miền Nam đựơc phỏng vấn không?” “ Đó không phải là người đầu tiên đặt câu hỏi đó trong buổi trình chiếu giới thiệu bộ phim.  Câu hỏi này đại diện cho rất nhiều vết nứt hồ nghi và ngờ vực của những khán giả trẻ đã có mặt tại TLS quán Mỹ tại Sàigòn hôm ấy.  Họ muốn tìm kiếm một diện mạo khác của cuộc chiến đã đóng vẫy trên thân thể mình suốt hàng chục năm dài.” (lời của ).

Đây là một câu hỏi nói lên sự phiến diện và thiếu công bằng của nhà làm phim.  Tại sao không có cuộc phỏng vấn nào của thương phế binh, của người lính Cộng Hoà chiến đấu đến giờ phút cuối cùng, của người vợ của binh lính Cộng Hoà, của bà mẹ người lính miền Nam về sự mất mát nhân mạng của con mình trong chiến tranh?  Hay là sự tổn hại của binh lính và thường dân miền Nam, tất cả đều  không đáng để nói đển hay sao? Khán giả chỉ nghe và thấy khoản độ ba hay bốn người, quân và dân, của miền Nam được phỏng vấn trong phim với ý kiến chỉ nặng về trường hợp và hoàn cảnh cá nhân, còn lại phần lớn là người của bên Bắc Việt và MTGPMN.  Đa số lý luận của phía bên kia  -  chỉ trừ lời phát biểu khá thẳng thắn và khách quan của một cán binh Bắc Việt:“ Chiến tranh không ai thắng hay thua hết. Những ông không bao giờ đánh nhau mới bàn luận ai thắng ai thua.”) -   đều nặng mùi “đắc thắng” và có tính cách tuyên truyền.  Người ta không thấy những cuộc phỏng vấn các chiến sĩ Cộng hoà đã tử thủ ở An lộc, chiến thắng ở Cồn Thiên và trận tái chiếm lại Cổ thành Quảng Trị? Tại sao không có cuộc phỏng vấn các cán binh cs được chiêu hồi? Hình ảnh thảm sát ở Huế chỉ phớt qua và không có cuộc phỏng vấn nào của các nạn nhân trong khi lại chiếu và nói về hình ảnh vị Thiếu tướng VNCH xử bắn tại chiến trường tên đặc công ( tên Bảy Lốp) mà nhà làm phim không giải thích rõ cho khán giả Mỹ biết là mới đó hắn đã giết nhiều người dân và hình ảnh em bé gái bị phỏng cả người vì bom lửa khi chiến trận đang xãy ra tại nơi đó, thật là bất lợi cho quân đội miền Nam và  làm sôi sục thêm tinh thần phản chiến tại Mỹ. ( Chắc ta vẫn còn nhớ việc người phóng viên chụp bức ảnh vị tướng này đang điều động cuộc đánh bật quân cs ra khỏi Sàigòn hành quyết tên đặc công đã làm hại đến uy tín của ông và cuộc chiến của quân đội CH và đã lên tiếng xin lỗi vị tướng này sau năm 75. Phần này không thấy có đề cập đến trong bộ phim.)  Đâu là tinh thần khách quan của người làm phim?  Các người làm phim có biết là người ta thấy trên các chiến xa trong trận đánh năm 72, xác chiến binh cs bị xích và cỗ súng trên xe tăng để không đánh thì cũng chết.  Hay nếu gia đình nào có con trai mà không đi bộ đội vào Nam thì sẽ bị cắt hộ khẩu cấp lương thực? Phải nhận rằng sự dẫn giải trình bày tập phim của họ phải nói là phiến diện!  

               

                  Một cuộc chiến tranh bị áp đặt

Theo lời của Tiến sĩ NTH,  cựu Tổng Trưởng Kế Hoạch VNCH từ 1973 đến 1975, là năm 1961,  sau khi bị lảnh đạo Liên Xô Nikita Khrushchev thách thức tại cuộc họp Thượng đỉnh ở Vienna, TT Kenedy, sau hai cuộc thất bại tại Lào và bị thảm bại khi đổ bộ lên Cuba, đã quyết định chọn Việt Nam làm nơi đọ sức với Liên Xô ... Ông đã đôn quân vào Việt Nam...Đây là điểm lịch sử cần làm sáng tỏ (mà bộ phim The Vietnam War không thấy nói đến) : Mỹ mang quân và trái với ý muốn của TT Ngô Đình Diệm.  Muốn trung thực thì bắt buộc phải chiếu hình ảnh và phỏng vấn về điểm này ( lời Ts/ NTH).  Ông Diệm chỉ yêu cầu – vì chống cộng là quyền lợi hổ tương của cả hai nước -  Hoa kỳ yểm trợ phương tiện vật chất, hoặc là hai bên đi tới một hiệp ước quốc phòng song phương thay vì mang quân đội vào ...  Cũng theo Ts NTH, trong cuốn sách A Death in November, tác giả Ellen Hammer kể lại là có lần TT Diệm phàn nàn với ĐS Pháp Roger Lalouette: “Tôi không bao giờ yêu cầu những quân nhân (Mỹ) này tới đây.  Họ cũng chẳng có hộ chiếu nữa.” … Phim không nói tới sự kiện là trước bối cảnh đó, TT Diệm ngỏ ý muốn Mỹ rút bớt cố vấn đi.  ĐS Pháp Lalouette cho rằng: “ lý do chính đưa tới quyết đnh của Mỹ loại bỏ ông Diệm là vì vào tháng Tư năm 1963, ông đã toan tính yêu cầu Mỹ rút cố vấn.”

... TT Diệm thấy tình hình như vậy, muốn tìm giải pháp hoà bình ... điều đình, hiệp thương với miền Bắc rồi từng bước tiến tới thống nhất hòa bình.  Thời điểm ấy, miền Bắc đang gặp khủng hoảng về lương thực trầm trọng.  Theo người môi giới giữa hai bên là ĐS Ba lan là ông Mieczyslaw Maneli, trong phái đòan kiểm soát đình chiến, thì chính phủ miền Bắc sau cả năm suy nghỉ đã đồng ý để hợp tác với TT Diệm và Mỹ để đi bước này... TT Kenedy được báo cáo là : “ ... đã cho thấy sư bất tương phùng căn bản đối với những mục tiêu của Hoa Kỳ.”   Các ký giả thiên tả như Sheehan, Halberstam, Brown, Sully và các vên chức Mỹ như Harryman, Forrestal, Ball, nhất là ĐS Henry Cabot Lodge đã đưa tới đảo chính và sát hại TT Diệm.  Biến cố này là điểm ngoặc dẫn đến xáo trộn và khủng hoảng chính trị ở Miền Nam trong hai năm sau đó.  Trước viễn tượng Miền Nam bị sụp đổ, TT Johnson mang đại quân vào để yễm trợ.  Cuộc chiến leo thang rất nhanh từ đó và thương vong, chết chóc cũng tăng lên rất nhanh.

Khi nói đây là “một cuộc chiến tranh áp đặt”  xin được thưa là không có nghĩa là  “bị cưởng bức phải đánh” mà mong được hiểu theo nghĩa “không được đánh theo lối của mình”! BT Quốc phòng Mac Namara và tường Mỹ lúc đó đánh giặc theo lối nhìn vào con số và “đếm xác chết” để đánh giá chiến trường.  Có không ít bất đồng về lối chỉ huy chiến trường giữa tướng và sĩ quan Miền Nam và Hoa kỳ nhưng hình như lúc nào phía Mỹ đều nắm ưu thế về phần quyết định.    Hai cái chết của Tướng Đổ Cao Trí và Tướng Nguyễn Viết Thanh trong cuộc hành quân qua Cam Bốt vẫn còn là một nghi vấn lớn có liên quan với phía Hoa Kỳ.  Hoa kỳ, với tiềm năng hùng mạnh về vật chất và võ khí, muốn áp dụng lối “chiến tranh quy ước”  vào cuộc chiến Việt Nam trong khi cuộc chiến ở đây diễn ra ở hình thức du kích chiến.  Các vị chỉ huy quân lực của Miền Nam hiểu rõ điều đó trong khi các cố vấn Mỹ và BT Quốc Phòng Mac Namara và các tướng Mỹ thì lại có cái nhìn khác !  Và như ta đã biết thì có nhiếu khi “khách” lại quyết định chến trường thay cho chủ nhà !!! Điều này làm nhiều người tự hỏi là bộ phim The Vietnam War này có nên đổi tên thành The American War hay “ The Vietnam War – A Failed War Strategy of the US ”  không?  

       Đạo diển Lynn Novick có nói về mục đích của cuốn phim là:

Chúng tôi muốn biết điều gì đã xãy ra ở nơi đây ... mô tả thực tại ... trung thực vởi những bi kịch , kể câu chuyện từ nhiều phía và tìm cách thể hiện rất nhiều kinh nghiệm của người Việt Nam đã trải qua trong cuộc chiến.”  Người ta để ý đến điểm nêu lên : “ kể câu chuyện từ nhiều phía” của người làm phim và sau khi xem xong bộ phim nhận thấy là tuy có phỏng vấn nhiếu bên nhưng  thực ra hầu như chỉ dành cho  hai phiá, cs và Mỹ nhiều hơn phía Cộng Hoà.  Ta không thấy những cuộc phỏng vấn tương xứng của các thành phần nằm trong cuộc chiến ở Miền Nam và số lượng dành cho các cuộc phỏng vấn này cũng ít hơn, và nhất là những người được phỏng vấn chưa đại diện đầy đủ cho những thành phần ở Miền Nam như đã được đề cập tới ở phần đầu như người vợ của lính CH, người lính chiến đấu ở An Lộc hay người có thân nhân bị thảm sát ở Huế v.v...   


    Theo Ts NTH, sau khi gởi bức thư ở “mức độ SOS” của tình hình Sàgòn, TT Thiệu, ngày 26 tháng Ba, 1975, nhờ chuyển ngay cho ĐS Graham Maritn để trình đến TT Ford, thì TT Ford lờ đi không hồi âm, mặc dù khi lên nhậm chức tổng thống thay cho Nixon vào muà hè 1974, ông đã viết cho TT Thiệu ngay ngày là việc đầu tiên tại Toà Bạch Ốc:

Những cam kết mà Mỹ đã hứa với Việt Nam Cộng Hoà trong qúa khứ vẫn còn hiệu lực và sẽ được hoàn toàn tôn trọng trong nhiệm kỳ của tôi.”

TT Ford đã nhận được thư SOS của TT Thiệu và của Lưỡng Viện Việt Nam Cộng Hoà, lại được nghe ĐS G. Martin từ Saìgòn về bao cáo về tình hình nguy ngập của Sàgòn.  Trong cuốn hồi ký A Time to Heal (1979), ông viết :

“ ... Chẳng ai biết tình hình miền Nam nó nguy kịch như thế nào...”(!) [Xin được ghi nhận về TT Ford.  Vào những ngày cuối tháng Tư, trước tình hình cực kỳ nguy ngập của VNCH, TT Ford có ra trước Quốc Hội xin viện trợ bảy trăm hai mươi triệu cho miền Nam nhưng bị QH từ chối.]


            Một ví dụ điển hình về “ bỏ rơi” của Hoa kỳ là trong cuộc hải chiến Hoàng Sa, Thiếu tá Ngụy Văn Thà chỉ huy chiếc số  10, “Nhật Tảo”, và  Chỉ Huy phó là Đại uý Trí trong trận hải chiến năm 1974 với một hải đoàn của Trung cộng.  Trong trận này Thiếu tá Thà đã anh dũng chết theo tàu và sau đó Đại uý Trí cũng chết vì bị trọng thương trong khi người chỉ huy hải đoàn xin rời chiến trường đang giao tranh vì lý do khẩu đại bác 90 li trên tàu của mình bị trở ngại tác xạ!   Hơn 50 chiến sĩ hải quân bị thương dùng hai tàu phao lên đênh trên biển nhiều ngày và sau đó cặp được vào Qui Nhơn. Người ta nhận thấy rằng trong trận hải chiến này không hề có sự can thiệp, yểm trợ gì của hải quân Hoa kỳ.


         Chúng ta hẵn còn nhớ hình ảnh TT Thiệu phẩn uất đến độ gần rơi nước mắt khi đọc bài diển văn cuối cùng trên Đài TH Vietnam về sự bội ước của Hoa kỳ vào giờ phút hấp hối của VNCH.  Trong khi phe cs được yểm trợ tối đa của Nga- Hoa thì viện trợ cho VNCH bị cắt tối đa chỉ còn tối thiếu xăng dầu , súng đạn thì làm sao cầm cự được khi người bạn “đồng minh tháo chạy ”?!                    .          Trong cuộc phỏng vấn TT Thiệu của tờ tuần báo lớn nhất Châu Âu, tờ Der Spiegel, được thực hiện tại Anh năm  1979, tại London, Anh quốc, Ô. Thiệu tuyên bố:  “ Người Mỹ đã phản bội chúng tôi.”  Trong bài phỏng vấn này Ô. Thiệu có đề cập rất nhiều lần đến vai trò “đi đêm” mờ ám và “ở thế lép vế khi điều đình với Bắc Việt” của Ts Kissinger.  Ô. Thiệu nói: “... một nhân vật như tiến sĩ Kissinger, đại diện một cường quốc và có tiếng là một nhà thương thuyết thượng thặng, lại tin tưởng là quân đội Bắc Việt sẽ ngừng xâm nhập miền Nam...”  Nói về lời hứa của TT Nixon với ông là vẫn giúp VNCH sau khi Hoa kỳ rút quân , Ô. Thiệu trả lời câu hỏi là ông có nghi ngờ là khi cần thiết, Hoa kỳ sẽ rút quân đơn phương không, Ô. Thiệu trả lời: “Tôi cũng có sự hoài nghi, song lúc đó vẫn tin tưởng vào đồng minh Mỹ lớn mạnh.”

                Trong bộ phim, người ta không thấy có cuộc phỏng vấn nào với Ts Kissinger về vai trò “chuyên môn đi  (lén ban)  đêm”  của ông ta trong các cuộc điều đình với Bắc Việt đã dành cho phía Bắc Việt nhiều ưu thế và cưởng đặt VNCH vào thế bất lợi về mặt thương thảo.  Rồi việc gì xãy ra cho VNCH vào Tháng Tư, 1975 chỉ là hậu quả của một sư bội ước của “ người bạn đồng minh”!

      Đúng như là câu trả lời khi đựơc phỏng vấn về mục đích của bộ phim The Vietnam War, Ô. Burns đã nói là bộ phim này không đưa ra trả lời mà làm người ta đặt ra nhiều câu hỏi.  Câu hỏi có thể được nêu lên đây là phía VNCH có nắm phần chủ động trong cuộc chiến hay không hay do phía Hoa kỳ quyết định và đây có phải là một cuộc chiến tranh bội ước để sau cùng đồng minh với mình bị bức tử hay không?  

 
Nguồn trên net: TS Nguyễn Tiến Hưng, GS Peter Zinoma, Khải Đơn

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Ma túy đang là tệ nạn gây nhức nhối cho toàn xã hội Việt Nam, nhưng Đảng và Nhà nước Cộng sản chỉ biết tập trung nhân lực và tiền bạc vào công tác bảo vệ Chủ nghĩa Mác-Lenin và làm sao để đảng được độc tài cầm quyền mãi mãi.
Tôi sinh ra ở Sài Gòn, nơi vẫn được mệnh danh là Hòn Ngọc Viễn Đông. Chỉ tiếc có điều là ngay tại chỗ tôi mở mắt chào đời (Xóm Chiếu, Khánh Hội) thì lại không được danh giá hay ngọc ngà gì cho lắm.
Một ngày không có người Mexican có thể sẽ không dẫn đến tình trạng xáo trộn quá mức như cách bộ phim hài "A day without a Mexican" đã thể hiện nhưng quả thật là nước Mỹ sẽ rất khó khăn nếu thiếu vắng họ. Xã hội sẽ bớt phần nhộn nhịp vì sự tươi vui và tràn đầy sức sống của một sắc dân phần lớn là chân thật và chăm chỉ.
Công cuộc chống độc tài vẫn đang tiếp tục và đang trả những cái giá cần phải trả cho một tương lai tốt đẹp hơn. Chị là một trong số những người chấp nhận tự đóng góp vào những phí tổn đó cho toàn dân tộc. Chị là: NGUYỄN THÚY HẠNH.
Dưới thể chế Việt Nam Cộng Hòa người dân không chỉ bình đẳng về chính trị mà còn có cơ hội bình đẳng về kinh tế, nên mặc dù chiến tranh khoảng chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị, giữa những người ở thành thị với nhau không mấy khác biệt.
Nếu so sánh với nuôi con thì có 2 việc là cho ăn và dạy dỗ. Ăn uống phải đầy đủ và điều độ (không mặn, ngọt, béo v.v…) để cơ thể khỏe mạnh. Giáo dục không gò bó thì trẻ hoặc hư hay cương cường tự lập, trái lại rầy la đánh đập hay nuông chiều thì trẻ sinh ra nhút nhát, kém tự tin hoặc ỷ lại. NHTƯ ví với bàn tay Midas nuôi dưỡng thức ăn (tiền) cho nền kinh tế, trong khi bàn tay hữu hình (hay thô bạo) của nhà nước (gồm Hành Pháp và Quốc Hội ở Mỹ) có quyền hạn thả lỏng hay siết chặc thị trường.
Bắt đầu từ đây thì xu hướng nịnh nọt nở rộ và tràn lan ra khỏi lãnh vực thơ văn, vào đến tận nhà vệ sinh công cộng – theo ghi nhận của nhà báo Bút Bi : Thấy tóc sếp đen thì nịnh: “Anh lo nghĩ nhiều mà giữ được tóc đen vậy thì tài tình quá!”, tóc sếp bạc thì âu lo: “Anh suy tư công việc nhiều quá nên để lại dấu ấn trên mái tóc anh”. Sếp ốm: “Quanh năm suốt tháng lo cho người khác nên anh chẳng nghĩ đến tấm thân gầy guộc của mình”. Sếp mập: “Anh quả là khổ, làm việc nhiều quá đến không có thời gian tập thể dục...”
Mau quá anh nhỉ! Mới đó đã hai mươi chín năm. Không ngờ đi ăn cưới người cháu vợ ở Cali, gặp lại anh ở phố Bolsa sau gần ba mươi năm. Nhớ ngày nào bốn anh em: Ngọc, Nhất, Tâm, Thể, coi như tứ trụ vây quanh người anh đầu đàn, anh Lê Văn.
Sáng 30 tháng 4, khoảng 6 giờ 30, lệnh gọi tất cả sĩ quan và nhân viên chiến hạm đang sửa chữa tại Hải-Quân Công-Xưởng tập họp tại Bộ-Tư-Lệnh Hạm-Đội. Một sĩ quan cao cấp Hải-Quân tuyên bố rã ngũ. Từ Bộ-Tư-Lệnh Hạm-Đội trở lại HQ 402, với tư cách sĩ quan thâm niên hiện diện, Trung-Úy Cao Thế Hùng ra lệnh Thiếu-Úy Ninh – sĩ quan an ninh – bắn vỡ ổ khóa phòng Hạm-Trưởng, lấy tiền trong tủ sắt phát cho nhân viên để họ tùy nghi. Nhân viên ngậm ngùi rời chiến hạm, chỉ còn một hạ sĩ, một hạ sĩ nhất, một hạ sĩ quan tiếp liệu, vì nhà xa không về được.
Vấn đề, chả qua, là cả ba nhân vật thượng dẫn đều không thích cái thói xu nịnh và đã thẳng thắn nói lên những lời trung thực khiến ông Nguyễn Phú Trọng (và cả giới cầm quyền nghịch nhĩ) nên họ đành phải chịu họa – họa trung ngôn – giữa thời buổi nhiễu nhương. Trong một xã hội mà không có nhân cách người ta vẫn sống (thậm chí còn sống béo tốt hơn) thì những người chính trực bị giam trong Viện Tâm Thần … là phải!
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.