Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Maurizio Liberati Kiện Vn Airlines

25/04/200500:00:00(Xem: 4880)
LTS: Trong thời gian khoảng 10 năm trở lại đây, CSVN đã mở rộng cửa cho tư bản ngoại quốc đầu tư, đồng thời tìm cách thâm nhập vào thị trường kinh tế thế giới. Tuy nhiên, phần vì CS vẫn duy trì đường lối chính trị độc tài, tạo điều kiện cho phe đảng tham nhũng hối lộ; phần vì dốt nát, đã lười học hỏi, lại kiêu căng ngạo mạn, không chịu lắng nghe lời hay lẽ phải, nên trong thời gian 10 năm qua, kinh tế VN luôn chịu những thiệt thòi vô lý, hậu quả từ việc không am tường luật pháp, và thái độ vô trách nhiệm, cha chung không ai khóc của cán bộ CS. Từ vụ công ty Trung Nguyên mất thương hiệu ở Mỹ, nước mắm Phú Quốc mất thương hiệu ở Thái Lan, đến những tranh tụng quanh vụ cá basa, hay vụ xuất khẩu tôm sang Mỹ, hoặc vụ tàu Cần Giờ bị giam giữ tại Tanzania... đã chứng tỏ, CSVN làm kinh tế theo kiểu chụp giật, bất chấp hậu quả. Đặc biệt hơn là vụ luật sư Maurizio Liberati kiện Hàng Không VN kéo dài nhiều năm, nhưng do lãnh đạo chóp bu của HKVN đều gốc bộ đội, từng lái phi cơ xâm lăng Căm Bốt, (như Tổng Giám Đốc HKVN Nguyễn Xuân Hiển hiện nay, nguyên là đại tá trung đoàn trưởng trung đoàn 18 không quân), nên họ đã có quyết định ngu ngốc, không tham dự phiên xử. Hậu quả, tòa án tại Ý đã phải xử khuyết tịch, và đi đến bản án khuyết tịch buộc HKVN phải bồi thường hơn 5 triệu Euro theo yêu cầu của nguyên đơn. Mặc dù hiện tại, tòa đã chấp thuận đơn kháng án của HKVN, và tương lai, có thể có nhiều thuận lợi, nhưng rõ ràng, trong một thế giới văn minh, thượng tôn luật pháp hiện nay, quyết định không tham dự phiên xử của lãnh đạo HKVN, là một quyết định dại dột, của những người chỉ quen sống trong rừng rú, chỉ biết tôn thờ sức mạnh, tôn thờ chân lý "chính quyền đến từ nòng súng". Sau đây, Sàigòn Times trân trọng giới thiệu cùng qúy độc giả bài viết của LS Lê Đình Hồ, trình bầy những khía cạnh pháp lý quan trọng và cần thiết quanh vụ kiện HKVN của luật sư Maurizio Liberati.

I. DIỄN TIẾN VỤ KIỆN

Vào khoảng tháng 11 năm 1992 Công Ty Hàng Không Việt Nam [HKVN] ký kết với Công Ty Falcomar của Ý để làm đại diện cho HKVN. Công Ty Falcomar bèn thuê mướn luật Sư Liberati làm việc cho họ, nhưng sau đó công ty Falcomar đã sa thải luật sư Liberati.
Vào tháng 9 năm 1994, luật Sư Liberati bèn nộp đơn khiếu kiện tại Tòa Án La Mã để đòi công ty Falcomar và HKVN trả tiền công còn thiếu cho ông ta, và số tiền ông ta khiếu nại đòi bồi hoàn lên đến 573 triệu lira (tiền Ý tương đương $340,000 đô la). Ngày 1 tháng 11, 1994, tòa án La Mã qua tòa đại sứ của Ý tại Hà Nội, gửi giấy báo hầu tòa cho HKVN, và ngày xử được ấn định là 30.11.1995. Tuy nhiên, các giới chức có trách nhiệm của HKVN khi nhận được giấy triệu thỉnh ra hầu tòa thì đã quyết định không tham dự phiên tòa, vì theo họ, đây là chuyện giữa công ty Falcomar và luật sư Liberati, HKVN không có liên quan gì đến chuyện kiện tụng này. Quyết định không ra hầu tòa, giới chức hữu trách của HKVN tin rằng có thể làm chuyển đổi tình hình, hoặc ít ra có thể hạn chế được sự thiệt hại cho chính mình.
Vào năm 1995, mặc dầu KHVN đã không cử đại diện ra hầu tòa, tòa vẫn xét xử. Đến năm 1998 công ty Falcomar tuyên bố phá sản, khiến vụ kiện tạm đình chỉ. Vào tháng 3 năm 2000, tòa tái thụ lý vụ kiện, phía bị đơn gồm có công ty Falcomar và HKVN. Trong thời gian đó công ty Falcomar đã tuyên bố phá sản, còn phía KHVN thì tiếp tục giữ quan điểm của mình là không nên ra hầu tòa để hạn chế sự thiệt hại.
Trong tình huống đó, tòa không còn sự lựa chọn nào khác hơn là đưa ra một “bản án khuyết tịch” [default judgment] theo lời thỉnh cầu của nguyên đơn, và phán quyết của Tòa trong phiên xử đó là buộc các bị đơn phải bồi thường cho nguyên đơn, Luật Sư Liberati, một số tiền là 4,300,000 Euros.
Vào tháng 5 năm 2002, khi hết hạn kháng án, HKVN đã nhận được thư của Luật Sư Liberati đòi phải trả số tiền 4.3 triệu Euros cho ông theo phán quyết trước đây của tòa. Giới chức Việt Nam vẫn không lưu tâm đến việc này.
Vào tháng 2 năm 2004, Ủy Ban Đòi Nợ và Tịch Biên của Pháp Quốc thông báo cho biết, Ủy Ban đã phong tỏa tài khoản 1,300,000 Euro của HKVN để thanh thỏa một phần phán quyết của Tòa Án La Mã được đưa ra trước đây. Đồng thời xác nhận rằng số tiền mà HKVN cần phải trả cho nguyên đơn cộng với tiền lời là 5,200,000 Euro.
HKVN đã phản ứng bằng cách nộp đơn xin được phép kháng án, và đơn kháng án của phía HKViệt Nam đã được chấp nhận. Vụ việc sẽ được xét xử lại vào tháng 1 năm 2006.
Ông Nguyễn Hải, nguyên là “Trưởng ban Tiếp Thị” (Marketing Manager) của HKVN, là người đã tham gia ký hợp đồng thương mại với Falcomar cho biết rằng hợp đồng đã tạo ra 3 lá chắn vững chắc cho HKVN.
Lá chắn thứ nhất là “phạm vi quyền hạn của đại lý” (Scope of Agent’s authority) quy định phía Việt Nam không có trách nhiệm gì đối với bất cứ thỏa thuận hay hợp đồng nào do đại lý ký kết. Lá chắn thứ hai là: Điều khoản về “trách nhiệm và miễn trừ” (Liability and Indemnity) quy định đại lý miễn trừ trách nhiệm cho phía Việt Nam và nhân viên của Việt Nam khỏi mọi tổn thất gây ra từ các hành động của đại lý trong khi thực hiện hay không thực hiện hợp đồng này. Lá chắn cuối cùng là “việc xét xử bằng trọng tài” (Arbitration) mà theo đó bất cứ tranh chấp nào nảy sinh từ hợp đồng này đều được phân xử bởi Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam.
Tình tiết của vụ kiện vừa nêu được thâu thập rải rác qua các phương tiện truyền thông điện tử. Vì thế, cá nhân chúng tôi không thể xác quyết về mức độ chính xác của các sự kiện vừa được trưng dẫn liên hệ đến vụ kiện.
Tuy nhiên, để tìm hiểu nguyên nhân của vụ kiện cũng như để xét xem (1) Liệu nguyên đơn, Luật Sư Liberati, có quyền khởi động tố quyền để đòi HKVN bồi hoàn số tiền vừa nêu hay không; và (2) Liệu Tòa Án tại La Mã có “thẩm quyền tư pháp” (jurisdiction) để xét đơn khiếu kiện của Luật Sư Liberati kiện HKVN hay không; cá nhân chúng tôi không còn cách nào khác hơn là buộc lòng phải suy đoán rằng tất các tình tiết của vụ kiện được đăng tải qua các phương tiện thông tin điện tử của nhà nước Việt Nam là đúng thật.
Trước khi đề cập đến các vấn đề vừa nêu, thiết nghĩ là quý bạn đọc cùng chúng tôi hãy lược sơ qua những nét khái quát về thủ tục tố tụng dân sự được áp dụng trên thế giới.

II. KHÁI QUÁT THỦ TỤC TỐ TỤNG DÂN SỰ

Thủ tục tố tụng dân sự, tại hầu hết các quốc gia trên thế giới, thường được khởi động bằng “đơn khiếu kiện” (Statement of Claim). Thông thường “Đơn khiếu kiện” được đệ nạp tại tòa án nơi nguyên đơn cư ngụ, hoặc tại tòa án được quy định bởi các bên đương sự khi ký kết hợp đồng, hoặc tại tòa án nơi mà sự tranh chấp xảy ra.
Trong “đơn khiếu kiện,” “nguyên đơn” (the Plaintiff) phải nêu rõ danh tánh và địa chỉ các “bị đơn” (the Defendant), lý do khởi kiện, và số tiền hoặc sự bồi hoàn mà nguyên đơn thỉnh cầu tòa cứu xét.
Thông thường thì đơn khiếu kiện được làm thành nhiều bản. Khi nguyên đơn đệ nộp cho tòa, đương sự phải trả lệ phí nộp đơn, tòa sẽ lưu lại một bản, những bản còn lại nhân viên của tòa sẽ đóng dấu của tòa và giao trả lại cho nguyên đơn. Nguyên đơn sẽ giữ lấy một bản, các bản còn lại đương sự sẽ tống đạt cho các bị đơn liên hệ.
Tại một vài nền tư pháp ở trên thế giới, khi nguyên đơn đệ nộp đơn khiếu kiện cho tòa, tòa sẽ thâu nhận đơn và yêu cầu nguyên đơn phải trả “lệ phí nộp đơn” (filing fees), đồng thời nguyên đơn phải đóng thêm lệ phí tống đạt cho tòa nếu nguyên đơn muốn tòa tống đạt đơn khiếu kiện cho bị đơn.
Sau đó, tòa sẽ tống đạt đơn khiếu kiện cho các bị đơn liên hệ và báo cho các bên đương sự lịch trình xét xử.
Sau khi tống đạt “đơn khiếu kiện” cho các bị đơn, người tống đạt phải nộp cho tòa “tờ khai hữu thệ về sự tống đạt” (affidavit of service) để chứng minh rằng “đơn khiếu kiện” đã được tống đạt cho bị đơn.
Khi nhận được “đơn khiếu kiện” bị đơn, hoặc các bị đơn có một thời gian, thông thường là 6 đến 8 tuần lễ hoặc có thể dài hơn tùy luật định, để đệ nộp cho tòa “Giấy Báo cho biết các Lý Do Biện Hộ” (Notice of Grounds of Defence). Giấy báo này sẽ được tống đạt cho nguyên đơn sau khi nộp một bản cho tòa.
Vào lúc nộp “Giấy Báo cho biết các Lý Do Biện Hộ”bị đơn hoặc các bị đơn có quyền nộp “đơn phản tố, hoặc đơn khiến nại ngược” (cross claim) để kiện lại nguyên đơn hầu đòi bồi hoàn bất cứ vấn đề gì liên hệ đến nguyên đơn.
Cũng vào lúc nộp “Giấy Báo cho biết các Lý Do Biện Hộ”bị đơn hoặc các bị đơn có quyền nộp đơn xin được thay đổi nơi xét xử, trong đơn hoặc trong tờ khai hữu thệ xin thay đổi nơi xét xử, bị đơn phải nêu rõ tòa án mà mình muốn vụ kiện được chuyển đến để xét xử.
Trước khi ấn định ngày xét xử, tòa sẽ cho phép và yêu cầu các bên đương sự thương lượng và cho tòa biết là liệu vấn đề có thể được giải quyết mà không cần đến sự can thiệp của tòa hay không"
Cuộc họp nhằm mục đích thương thảo để giải quyết vấn đề thường được gọi là “settlement conference.” Nếu các bên đương sự không đạt đến sự thỏa thuận để giải quyết vấn đề thì tòa sẽ quy định ngày giờ để vụ khiếu nại được tòa xét xử.
Trước khi ấn định ngày giờ xét xử, tòa yêu cầu các bên đương sự cho tòa biết là vụ kiện sẽ kéo dài bao lâu, mỗi bên sẽ đưa ra bao nhiêu nhân chứng, đồng thời tòa cũng quy định thời gian để hai bên tranh tụng phải liệt kê và đệ nộp các văn kiện hoặc tài liệu mà các bên tranh tụng sẽ trưng dẫn làm bằng chứng trong vụ tranh tụng, và ấn định thời gian để hai bên tranh tụng có quyền xem xét trước các bằng chứng và tài liệu này.
Vào ngày giờ quy định, các bên đương sự phải đến hầu tòa để vụ việc được xét xử. Nếu nguyên đơn không ra hầu tòa thì vụ kiện sẽ được hủy bỏ và tòa có thể sẽ đưa ra án lệnh buộc nguyên đơn phải trả án phí cho bị đơn.
Ngược lại, nếu bị đơn không chịu ra hầu tòa, thì tòa sẽ đưa ra phán quyết theo thỉnh cầu của nguyên đơn đã được nêu rõ trong đơn khiếu kiện.
Sau khi tòa đưa ra phán quyết, trong trường hợp này là “án khuyết tịch.” Nguyên đơn sẽ thông báo cho “bị đơn” biết về nội dung của phán quyết này. Thông thường “nguyên đơn” sẽ viết một bức thư cho “bị đơn” và đính kèm một phó bản phán quyết của tòa, đồng thời yêu cầu “bị đơn” phải thanh toán số tiền được đưa ra trong phán quyết cho “nguyên đơn” theo thời gian luật định.
Sau thời gian luật định, nếu “bị đơn” không chịu thanh toán số tiền được đưa ra trong phán quyết, thì “nguyên đơn” sẽ nộp đơn thỉnh cầu tòa án đưa ra án lệnh hoặc “trát chấp hành, hoặc trát thi hành” (writ of execution) để thanh thỏa số tiền trong phán quyết cho “nguyên đơn.” Đó là lý do tại sao tài khoản của HKVN tại Pháp đã bị phong tỏa.
Theo sự phỏng đoán của chúng tôi thì Luật Sư Liberati, khi nộp “đơn khiếu kiện” đòi bồi thường về sự sa thải trái phép đã cố liệt kê danh tánh của các bị đơn trong đó chắc chắn gồm có công ty Falcomar là “bị đơn thứ nhất” (The First Defendant) và HKViệt Nam là “bị đơn thứ hai” (The Second Defendant) trong “đơn khiếu kiện” của ông, với hy vọng chài mồi càng nhiều càng tốt, vì làm như thế các bị đơn sẽ trưng dẫn bằng chứng để đổ lỗi cho nhau và cuối cùng sẽ có người chịu trách nhiệm về sự bồi hoàn này. Trong Anh Ngữ, thuật từ pháp lý được dùng để diễn tả “hành vi chài mồi” này là “fishing expedition.”

III.Luật sư LIBERATI CÓ QUYỀN KIỆN HKVN HAY KHÔNG"

Để có thể trả lời câu hỏi, "Liệu nguyên đơn, Luật Sư Liberati, có quyền nộp đơn kiện HKVN hay không"" Chúng ta cần phải xét xem hợp đồng mà HKVN đã ký kết với công ty Falcomar là loại “hợp đồng nhân dụng” (contract of service), hay là loại “hợp đồng cung cấp dịch vụ) (contract for service), vì hậu quả pháp lý của hai loại hợp đồng này hoàn toàn khác biệt nhau.


contract of service (or contract of employment) (hợp đồng về sự phục dịch, hợp đồng nhân dụng) có thể được định nghĩa là hợp đồng theo đó một người [người làm công] đồng ý làm việc cho một người khác [người chủ] để nhận lương bổng từ người chủ. Theo hợp đồng này, người chủ có quyền kiểm soát đối với cách thức làm việc của nhân viên. Người chủ, theo hợp đồng này, chịu trách nhiệm về phương diện ủy thác đối với những việc làm sai trái phạm phải bởi nhân viên của đương sự trong quá trình làm việc. (Contract of service may be defined as a contract by which one person [the employee] agrees to work for another [the employer] in return for payment of salary from the employer. Under this contract, the employer has a right of control over the employee’s manner of doing the work. The employer, under this contract, is vicariously liable for torts committed by his employee during the course of employment).
contract for services (hợp đồng cung cấp dịch vụ) có thể được định nghĩa là hợp đồng theo đó một người đồng ý cung cấp dịch vụ cho một người khác. Người cung cấp dịch vụ trong hợp đồng này là một người thầu khoán độc lập. Vì thế, bạn không phải chịu trách nhiệm thế về sự sơ suất của người thầu khoán độc lập vì đương sự không phải là nhân viên của bạn. Ví dụ, nếu bạn trả tiền cho tài xế taxi chở bạn về nhà, người tài xế không phải là nhân viên của bạn, vì thế bạn không phải chịu trách nhiệm liên đới về những sai trái phạm phải bởi người tài xế. Ngược lại, nếu bạn mướn một người tài xế, và đương sự trở thành nhân viên của bạn, bạn phải chịu trách nhiệm về phương diện ủy thác đối với những sai trái phạm phải bởi người tài xế của bạn trong quá trình làm việc của đương sự. (Contract for services may be defined as a contract by which one person agrees to provide services to another. The person who provides services in this contract is an independent contractor. Thus, you are not vicariously liable for the negligence of an independent contractor as he or she is not employee. For example, if you pay a taxi-driver to drive you home, a driver is not your employee, therefore you are not vicariously liable for torts committed by the driver. On the contrary, if you employ a driver, and he becomes your employee, you are vicariously liable for torts committed by your driver during the course of his employment).
Dựa vào những sự kiện thâu thập qua phương tiện truyền thông điện tử chúng ta có thể thấy được rằng hợp đồng được ký kết giữa HKVN và công ty Falcomar là loại hợp đồng được thiết lập theo dạng “hợp đồng cung cấp dịch vụ” (contract for service), vì thế nguyên đơn hoàn toàn không thể khởi động tố quyền đòi HKVN bồi hoàn số tiền mà công ty Falcomar còn thiếu đương sự.
Ngay cả trong trường hợp hợp đồng mà HKVN ký kết với công ty Falcomar là loại hợp đồng có tính cách nhân dụng thì việc Luật Sư Liberati có quyền khiếu kiện HKVN hay không cũng còn tùy thuộc vào nhiều yếu có khác.

IV. TÒA ÁN ROME CÓ THẨM QUYỀN TƯ PHÁP ĐỂ XÉT XỬ VỤ KIỆN HAY KHÔNG"

Điều 3 của “Quy Ước Rome năm 1980” (the Rome Convention 1980) quy định về “quyền tự do lựa chọn” (Freedom of choice).
Điều 3 khoản 1 quy định rằng: “Hợp đồng sẽ bị chi phối theo luật lệ được lựa chọn bởi các bên đương sự. Sự lựa chọn phải được diễn đạt hoặc biểu hiện với sự tin chắc hợp lý theo những điều khoản của hợp đồng hoặc theo tình huống của từng trường hợp. Bằng sự lựa chọn của họ các bên đương sự có thể tuyển chọn luật lệ áp dụng cho toàn bộ hoặc chỉ áp dụng cho một phần của hợp đồng.” (A contract shall be governed by the law chosen by the parties. The choice must be expressed or demonstrated with reasonable certainty by the terms of the contract or the circumstances of the case. By their choice the parties can select the law applicable to the whole or a part only of the contract).
Thực ra quyền tự do lựa chọn luật pháp để giải quyết tranh chấp về hợp đồng đã được quyết định từ năm 1796 trong vụ Gienar v. Meyer (1796) 126 ER 728. Trong vụ đó, hợp đồng đã được ký kết tại “Hòa Lan” (Holland) giữa một thủy thủ và “viên thuyền trưởng người Hòa Lan” (a Dutch master of a vessel) liên hệ đến lương bổng. Hợp đồng quy định rằng luật pháp Hòa Lan sẽ được áp dụng nếu có tranh chấp xảy ra. Tuy thế, thủy thủ này đã kiện viên thuyền trưởng về vấn đề lương bổng tại tòa án của Anh Quốc. Tòa án Anh Quốc đã bác đơn kiện của thủy thủ này vì cho rằng việc thỉnh cầu tòa án Anh Quốc xét xử là vi phạm các điều khoản quy định trong hợp đồng.
Quyền tự do lựa chọn luật pháp để áp dụng khi ký kết hợp đồng đã được tất cả các “quốc gia thành viên của Cộng Đồng Âu Châu” (the member states of the European Community) chấp nhận từ nhiều năm nay. Tuy nhiên, quyền tự do chọn lựa này cũng cần phải được suy xét lại trong nhiều trường hợp. Vì vấn đề có thể trở nên phức tạp hơn khi các bên đương sự ký kết hợp đồng hành xử quyền tự do lựa chọn của họ để áp dụng nhiều luật lệ khác biệt nhau cho các phần riêng biệt của hợp đồng.
Trong trường hợp các bên đương sự không hành xử quyền lựa chọn, hoặc họ đã lựa chọn các hệ thống pháp luật khác biệt nhau, mà khi sự tranh chấp xảy ra tòa đã không thể áp dụng các luật lệ đó được vì có sự mâu thuẫn, thì các bên đương sự phải chấp nhận áp dụng luật lệ để giải quyết tranh chấp như trong trường hợp không có sự lựa chọn. Trong những trường hợp đó, tòa có thể suy đoán ý định của các bên đương sự vào lúc ký kết hợp đồng để áp dụng luật lệ liên hệ như đã được xét xử trong vụ Liverpool and Great Western Steam Company v Phoenex Insurance Company 129 US 397 (1889).
Trong vụ đó, chiếc tàu hàng chở vải và thịt heo ướp muối đi từ Nữu Ước đến Liverpool. Hóa đơn vận chuyển đã trưng dẫn bằng chứng của hợp đồng chuyên chở có ghi điều khoản miễn trừ trách nhiệm cho thủy thủ đoàn và các viên chức liên hệ khỏi phải chịu trách nhiệm về việc mất mát hoặc thiệt hại gây ra do sự bất cẩn của thủy thủ đoàn vì sự nguy hiểm của biển khơi.
Vì sự bất cẩn của thủy thủ đoàn, chiếc tàu đã bị mắc cạn và phần lớn hàng hóa đã bị mất, phần còn lại bị thiệt hại nặng. Điều khoản miễn trừ trách nhiệm cho thủy thủ đoàn và các viên chức liên hệ không có hiệu lực pháp lý đối với luật lệ của Nữu ước, nhưng có hiệu lực đối với luật lệ của Anh Quốc. Tuy nhiên, trong hợp đồng các bên đương sự đã không quy định luật lệ của quốc gia nào sẽ được áp dụng trong trường hợp có sự tranh chấp xảy ra. Vì thế, vấn đề được đặt ra trong vụ này là luật lệ nào sẽ được áp dụng để giải quyết sự khiếu nại này. Luật lệ của Nữu Ước hay luật lệ của Anh Quốc"
Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ đã đưa ra phán quyết rằng luật lệ của Nữu Ước phải được áp dụng, vì thế điều khoản miễn trừ trách nhiệm không có hiệu lực pháp lý và chủ tàu phải chịu trách nhiệm.
Tòa quyết định luật lệ Nữu Ước phải được áp dụng không phải chỉ vì luật lệ của Nữu Ước là “luật lệ của nơi mà hợp đồng đã được ký kết” (the law of a place where the contract was made [lex loci contractus]), mà còn là luật lệ của nơi mà hợp đồng có sự quan hệ gần gủi nhất trên thực tế.
Qua phương tiện thông tin điện tử quốc tế chúng tôi biết được rằng khi ký kết hợp đồng với công ty Falcomar, phía HKVN đã dự liệu biện pháp hòa giải bằng trọng tài khi có tranh chấp xảy ra, theo đó bất cứ tranh chấp nào nảy sinh từ hợp đồng này đều được phân xử bởi Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam.
Trong các hợp đồng thuộc loại này các bên đương sự thường chọn lựa hệ thống luật pháp để giải quyết các tranh chấp, dù phương thức giải quyết đó sẽ được thực hiện bằng thủ tục trong tài hay là do tòa án quyết định.
Tuy nhiên, trong vụ này, chúng tôi chưa tìm thấy được điều khoản quy định việc áp dụng luật pháp của quốc gia nào khi có tranh chấp xảy ra. Ông Nguyễn Hải chỉ cho báo chí biết rằng mọi tranh chấp sẽ được phân xử bằng thủ tục trọng tài bởi Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, nhưng không đề cập đến luật pháp của quốc gia nào sẽ được áp dụng trong việc phân xử bằng thủ tục trọng tài đó.
Việc xử dụng thủ tục trọng tài chỉ là một hình thức để giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế, vì việc giải quyết các tranh chấp quốc tế qua thủ tục phân xử bằng trọng tài là một hình thức đơn giản và ít tốn kém nhất.
Tuy nhiên, quyết định của trọng tài thường không được các cơ quan tài phán tôn trọng, đặc biệt là khi bên đương sự nhận được phán quyết bất lợi và yêu cầu vấn đề phải được xét xử bởi cơ quan tài phán quốc tế.
Ngoại trừ quyết định được đưa ra bởi các cơ quan trọng tài nổi tiếng quốc tế chẳng hạn như “Hiệp Hội Trọng Tài Hoa Kỳ” (the American Arbitration Association), “Phòng Thương Mãi Quốc Tế” (the International Chamber of Commerce), “Tòa Án Trọng Tài Quốc Tế Luân Đôn” (the London Court of International Arbitration), “Phòng Thương Mãi Stockholm” (the Stockholm Chamber of Commerce), hoặc “Trung Tâm Quốc Tế Giải Quyết các Tranh Chấp về Đầu Tư” (the International Centre for the Settlement of Investment Disputes), tất cả các quyết định khác được đưa ra có tính cách cục bộ đều không được các cơ quan tài phán lưu tâm đến.
Chúng tôi không có nội dung của bản hợp đồng trong tay nên không thể đoan chắc được rằng luật pháp của quốc gia nào sẽ được áp dụng" liệu tòa án Rome có thẩm quyền để xét xử vụ việc khi nhận được đơn khiếu kiện của Luật Sư Liberati hay không" Liệu Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam có thẩm quyền áp dụng luật pháp Việt Nam để phân xử mọi tranh chấp bằng thủ tục trọng tài theo sự quy định của hợp đồng hay không" Tất cả những câu hỏi này sẽ được trả lời khi chúng tôi có được văn bản của hợp đồng.

IV. KẾT LUẬN

Dựa vào sự kiện, luật lệ cũng như các phán quyết vừa trưng dẫn chúng ta có thể thấy được rằng việc Luật Sư Librati kiện đòi HKVN bồi hoàn số tiền tổng cộng 5,200,000 Euro là điều không tưởng NẾU, và CHỈ NẾU, những điều ông Nguyễn Hải trình bày với báo chí tại quốc nội là đúng với sự thật. Cá nhân chúng tôi khó có thể đưa ra một kết luận quyết đoán về phán quyết chung thẩm của tòa kháng án, ngoại trừ chúng tôi có trong tay hồ sơ của vụ kiện.
Để rút tỉa kinh nghiệm, trong vụ Liberati kiện HKVN, sau này khi nhận được đơn khiếu kiện hoặc giấy triệu thỉnh ra hầu tòa thì chính quyền Việt Nam hoặc cơ quan liên hệ phải cử đại diện, hoặc luật sư đại diện ra tòa để bảo vệ quyền lợi cho mình. Vì nếu sự khiếu kiện không có lý do chính đáng thì luật sư của mình sẽ yêu cầu tòa đưa ra án lệnh buộc nguyên đơn phải trả án phí.
Nếu vì không thông hiểu được thủ tục pháp lý, hoặc vì bất cứ lý do nào đó mà không chịu ra hầu tòa, thì khi nhận được “phán quyết khuyết tịch” của tòa, các giới chức thuộc cơ quan liên hệ phải cử luật sư đại diện cho mình nộp đơn thỉnh cầu tòa hủy bỏ “bản án khuyết tịch” đó để nội vụ được xét xử lại.
Theo thủ tục thông thường thì khi nộp đơn khiếu nại đòi nợ, đòi bồi thường hoăëc đòi bị đơn thi hành một nghĩa vụ nào đó, nếu đơn khiếu kiện đã được làm đúng theo thủ tục, và nguyên đơn có thể chứng minh cho tòa rằng bị đơn hoặc các bị đơn đã được tống đạt và biết được rằng họ đang bị khiếu nại. Nếu sau đó bị đơn không chịu tuân hành theo thủ tục để bảo vệ cho quyền lợi của họ, và nhất là không chịu ra hầu tòa khi được triệu thỉnh thì tòa buộc lòng phải đưa ra phán quyết theo những đòi hỏi của nguyên đơn. HKVN đã không chịu tuân hành thủ tục luật định này, đó là lý do tại sao tòa buộc lòng phải đưa ra phán quyết theo thỉnh cầu của nguyên đơn.
Đây là một bài học cho các cán bộ ngoại thương và các viên chức cao cấp của chính quyền khi thương lượng để ký kết hợp đồng với các công ty ngoại quốc.
Một số giới chức đề nghị là nên thương lượng để tránh bớt sự thiệt hại. Ý kiến này hoàn toàn không phù hợp với nội dung và tình tiết của vụ kiện, vì theo các sự diện được đăng tải trên các phương tiện truyền thông điện tử thì lý do khởi kiện của luật sư Liberati hoàn toàn không đứng vững.
Các viên chức trách nhiệm phải hỏi các luật sư đại diện cho HKVN đang phụ trách việc kháng án cho biết lý do tại sao chúng ta không thành công trong vụ kháng án này. Ngoại trừ bị bác đơn xin được phép kháng án vì “thời hiệu bị triệt tiêu” (statute-barred), bằng ngược lại một khi tòa đã đồng ý cho phép kháng án thì KHVN không có lý do để thua kiện trong vụ này.
Nếu nội dung của hợp đồng được ký kết đúng theo lời trình bày của ông Nguyễn Hải thì tòa kháng án không còn cách nào khác hơn là phải hủy bỏ quyết định trước đây của tòa sơ thẩm.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Trong mọi hoàn cảnh Anh vẫn không ngừng hoạt động, Anh vẫn cứ đứng ở ngoài nắng - chữ của Mai Thảo. Với tôi, Nhật Tiến - Én Nhanh Nhẹn RS, vẫn cứ mãi là một Tráng Sinh Lên Đường
Lời dịch giả: Đây là bức tâm thư của cựu tổng thống George W. Bush gởi người dân Mỹ trong lúc cả nước đang sôi sục sau cái chết của George Floyd.
NYC với mình như căn nhà thứ hai, thế mà đã hơn một năm rồi mới lên lại. Thường thì hay lên mùa Giáng Sinh, hay Tháng Hai mùa đông để coi tuyết ở Central Park, và tháng Mười Một để coi lá vàng. Lần nầy chỉ mới tháng ba, nhưng có lý do
Xúc động với kỷ niệm. Thơ và nhạc đã nâng cảm xúc về những cái đẹp mong manh trong đời... Đêm Nhạc Người Về Như Bụi, và buổi ra mắt Tuyển Tập 39 Văn Nghệ Sĩ Tưởng Nhớ Du Tử Lê đã hoàn mãn hôm Thứ Ba 14/1/2019.
chiều rớt/xanh/ lưỡi dao, tôi khứng! chờ ... mưa tới. Hai câu cuối trong bài “chiều rớt/xanh/lưỡi dao” anh viết cuối tháng 9/2019 như một lời giã biệt. Và, cơn mưa chiều 7.10.2019 đã tới, anh thay áo mới chân bước thảnh thơi trở về quê cũ. Xin từ biệt anh: Du Tử Lê!
trong nhiều năm qua, lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng trưởng ở mức hai con số, nhưng tỷ lệ quay trở lại thấp (chỉ từ 10% đến 40%) . Chi tiêu của khách du lịch quốc tế tại Việt Nam không cao
Theo bảng xếp hạng chỉ số cảm nhận tham nhũng của Tổ Chức Minh Bạch Quốc Tế năm 2018, Việt Nam đứng hạng 117/ 180 với mức điểm 33/100. Bao giờ mà chế độ hiện hành vẫn còn tồn tại thì “nạn nhũng nhiễu lạm thu” sẽ vẫn còn được bao che và dung dưỡng khắp nơi, chứ chả riêng chi ở Bộ Ngoại Giao
Chính phủ Hoa Kỳ đã hứa tài trợ 300 triệu đô la để làm sạch môi trường bị nhiễm chất độc da cam của phi trường Biên Hòa và hôm 5 tháng 12 là bắt đầu thực hiện việc tẩy rừa tại khu vực này, theo bản tin hôm 6 tháng 12 của báo Tuổi Trẻ Online cho biết như sau.
Hơn 1.000 người có thể đã bị giết bởi lực lượng an ninh ở Iran trong các cuộc biểu tình gần đây, theo một quan chức cấp cao của bộ ngoại giao cho biết hôm Thứ Năm
Bốn người được báo cáo đã bị giết chết hôm Thứ Năm sau một vụ cảnh sát rượt đuổi qua nhiều quận đã kết thúc trong trận đấu súng trên đường Miramar Parkway theo sau một tên cướp có vũ khí tại Coral Gables, tiểu bang Florida.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.