Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Vấn Đề Của Viện Trợ Chính Thức

02/08/201702:11:00(Xem: 4116)
...an ninh lồng vào kinh tế trong chính sách bành trướng của Bắc Kinh, với Việt Nam nằm trên tuyến đầu.

Sau khi tiến hành đổi mới được 30 năm, kinh tế Việt Nam đã có nhiều thay đổi, Nhưng một thay đổi bất ngờ là từ giữa năm nay, Việt Nam hết được Ngân Hàng Thế Giới viện trợ như trước nên phải tìm nguồn tài trợ khác cho nền kinh tế. Nhân sự kiện này, Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu về sự lợi hại của hình thái việc trợ chính thức, thường được gọi tắt là ODA….

Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do và Nguyên Lam xin kính chào chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa trong tiết mục Diễn đàn Kinh tế tuần này. Thưa quý thính giả, từ Tháng Bảy này Ngân Hàng Thế Giới có thể chấm dứt viện trợ kinh tế cho Việt Nam vì kinh tế đã có cải thiện và Việt Nam được xếp vào thành phần quốc gia có lợi tức trung bình kể từ năm 2009 và sau này sẽ phải vay tiền trên thị trường. Song song, vào tháng trước, Thủ tướng Việt Nam kêu gọi Quốc hội Nhật Bản tiếp tục viện trợ cho công cuộc phát triển kinh tế xã hội Việt Nam, trong khi dư luận không quên khá nhiều tai tiếng về nạn tham nhũng khi sử dụng viện trợ. Vì vậy, thưa ông, kỳ này ta sẽ tập trung tìm hiểu hình thái viện trợ chính thức, là Official Development Assistance hay ODA. Ông thấy rằng thính giả của chúng ta nên ghi nhớ những gì về hiện tượng viện trợ ấy?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi lại xin nói ngược, rằng khi Việt Nam hết được viện trợ chính thức nữa thì đấy là một tin mừng. Nhưng trước hết, ta hãy tìm hiểu về bối cảnh đã.

- Thứ nhất, về định nghĩa và ngôn từ, “viện trợ” là hình thức trợ giúp tài chính và kỹ thuật do một cơ quan “cấp viện” cung cấp cho một quốc gia “cầu viện”. Cơ quan cấp viện có thể là một tổ chức quốc tế, như Ngân Hàng Thế Giới, Ngân Hàng Phát Triển Á Châu, hay một bộ phận chuyên môn của Liên Hiệp Quốc, hoặc là của một quốc gia như Hoa Kỳ hay Nhật Bản. Đó là khác biệt giữa “đa phương” và “song phương” mà đa phương cũng là do quyết định của quốc gia góp tiền cho các tổ chức quốc tế này. Thứ hai, ta có loại viện trợ nhân đạo cho các nước nhất thời bị thiên tai hay đói kém chẳng hạn, ở đây, ta chỉ quan tâm đến loại viện trợ kinh tế, và tập trung vào hình thái gọi là “viện trợ phát triển” qua các chương trình hay dự án nhất định.

- Thứ ba, khi nói đến “viện trợ phát triển”, ta cần nhớ là các nước ít khi cho không mà thường là cho vay, tức là viện trợ tài chính, nhưng với ba điều kiện dễ dãi, là lãi suất thấp hơn lãi suất thương mại trên thị trường, thời gian ân hạn là từ khi cho vay tới ngày bắt đầu trả tiền lời là nhiều năm, và sau cùng là kỳ hạn cho vay kéo dài có thể vài chục năm. Giới kinh tế kết hợp ba điều kiện ưu đãi ấy để tính ra “giá trị tặng dữ” hay “grant element”, và cho rằng yếu tố tặng dữ tức là cho không, phải ở khoảng một phần ba khi so với việc đi vay thông thường trên thị trường thì mới được gọi là viện trợ chính thức.

Nguyên Lam: Ông vừa trình bày là chừng một phần ba ngạch số của viện trợ chính thức phải là yếu tố tặng dữ hay cho không thì tại sao ông lại cho rằng Việt Nam khi hết được viện trợ chính thức là một tin mừng? Nguyên Lam xin ông giải thích cho nghịch lý đó.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thực chất kinh tế của việc đi vay là để tiêu sớm, nên khi tiêu thì phải cân nhắc yêu cầu trả nợ sau này. Nếu cứ quen đi vay với điều kiện ưu đãi dễ dãi thì sẽ có ngày mang họa. Vì vậy, yếu tố then chốt là kỷ luật chi tiêu. Nhưng vấn đề còn phức tạp hơn vậy, là vì sao lại có hiện tượng cấp viện? Vì sao lại có quốc gia viện trợ cho xứ khác?

- Trên diễn đàn này, tôi đã nhiều lần nói đến một thực tế nghiệt ngã là chẳng ai có thể lãnh đạo một mình mà cần chia chác quyền lợi cho các thành phần ủng hộ mình. Thực tế ấy xuất phát từ sự kiện là mọi chính trị gia đều nhắm vào ba mục tiêu, thứ nhất nắm quyền, thứ hai duy trì quyền lực đó, và thứ ba là quản lý được tối đa tài nguyên quốc gia để thực hiện hai mục tiêu đầu tiên là nắm quyền và giữ quyền. Tài nguyên quốc gia cần hiểu theo nghĩa rộng là tiền tệ, thuế khóa, đất đai và cả nhân lực, v.v…. Đấy là quy luật chung của mọi chế độ chính trị dù là dân chủ hay độc tài.

Nguyên Lam: Bây giờ Nguyên Lam xin đề nghị ông trình bày chân lý phũ phàng ấy trong lĩnh vực đối ngoại vì hình như ngày xưa ông từng là cố vấn cho Chính phủ Sàigòn về ngoại viện và đã nhiều lần thương thuyết về viện trợ cho miền Nam.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi xin đơn giản hóa vấn đề mà phân biệt chế độ dân chủ với độc tài.

- Tại các nước dân chủ, ưu tiên của lãnh đạo là tranh thủ quần chúng đã ủng hộ mình, sau đó về đối ngoại là tranh thủ các nước khác để có đồng minh. Viện trợ nằm trong loại mục tiêu tranh thủ đồng minh, nhưng bị giới hạn bởi yêu cầu ưu tiên về nội chính, và bị ràng vào cơ chế dân chủ nên thường trao quyền quyết định về viện trợ cho Quốc hội, gồm giới đại biểu vốn cũng có ưu tiên thỏa mãn cử tri đã bỏ phiếu cho họ. Vì vậy, viện trợ có các điều kiện ràng buộc nhằm bảo vệ quyền lợi của quốc dân và các địa phương; như Mỹ có điều kiện dùng tiền viện trợ mua thiết bị hay kỹ thuật Mỹ, viện trợ của Nhật là để tạo việc làm cho doanh nghiệp Nhật, Đức thì mua hàng Đức, v.v. Hào phóng như một nước Bắc Âu là Đan Mạch khi viện trợ dự án sửa phà trị giá 45 triệu đô la cho Bangladesh thì đòi đưa phà về sửa trong hải cảng Đan Mạch với phí tổn gấp bốn lần việc sửa ở tại chỗ, Bangladesh phản đối thì mất luôn số viện trợ ấy.


- Cái hợp lý éo le ở đây là của nước cấp viện phải ưu tiên lo cho người dân của họ. Một éo le khác là vì yêu cầu an ninh hay chiến lược, một nước dân chủ có thể viện trợ cho chế độ độc tài, mà đã là độc tài thì dân đen không được hưởng kết quả viện trợ vì chế độ độc tài cần ưu tiên ban phát quyền lợi cho tay chân và thân tộc ở trên cùng. May là nền dân chủ còn có báo chí và các tổ chức phi chính phủ hay NGO để nêu vấn đề và vận động thay đổi….

Nguyên Lam: Bây giờ, thưa ông, còn về các nước độc tài thì sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Các nước độc tài thì cần đồng chí và vì độc tài nên khó phát triển khiến cho việc viện trợ thật ra không nhiều. Ngày xưa, Liên Xô cũng từng viện trợ cho các nước đồng chí trong khối COMECON mà thực chất là phân công lao động để các chư hầu cầu viện thành vệ tinh và lụn bại trong cơ chế tập trung kế hoạch kiểu Xô viết. Ngoài ra cũng phải nhắc tới các khoản quân viện như Liên Xô hay Trung Quốc đã cho các chế độ độc tài để bành trướng chủ nghĩa cộng sản. Sau đó, các nước cầu viện vẫn phải trả nợ bằng cách này cách khác như người Việt Nam mới chỉ hiểu ra sau một cuộc chiến tương tàn. Ngày nay, khi Trung Quốc viện trợ cho các nước, như qua Sáng kiến Nhất Đới Nhất Lộ, thì mục tiêu vẫn là an ninh lồng vào kinh tế trong chính sách bành trướng của Bắc Kinh, với Việt Nam nằm trên tuyến đầu.

Nguyên Lam: Bây giờ chúng ta bước qua phần hai, Nguyên Lam xin ông giải thích vì sao mà Việt Nam không nên nhận viện trợ chính thức nữa?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Đầu tiên, nhiều người đi từ thái cực này qua thái cực khác khi mừng là được xứ này xứ kia viện trợ, rồi lại oán thán những ràng buộc họ gọi là bất lợi của viện trợ. Điển hình là của viện trợ Nhật Bản, quốc gia hào phóng nhất đã viện trợ cho Việt Nam từ 1992. Khi viện trợ cho Việt Nam thì tất nhiên Nhật đòi ta thuê công ty tư vấn Nhật, để họ yêu cầu Việt Nam áp dụng công nghệ Nhật mà mua thiết bị của Nhật, chứ chẳng lẽ Nhật viện trợ để làm lợi cho các doanh nghiệp Âu Châu hay Hoa Kỳ? Phải mất 25 năm mới hiểu ra sự thật này thì quả là thê thảm.

- Thứ nữa, loại viện trợ đa phương từ các định chế tài chính quốc tế có thể tránh được sức ép song phương của quốc gia cấp viện, nhưng cũng có nhược điểm của nó. Đó là ai quyết định về các ngân khoản hay mục tiêu viện trợ? Thành phần then chốt này là các chuyên gia thực chất là công chức quốc tế. Họ ưu tiên lo cho sự nghiệp của họ, kết tinh vào ngân khoản hay số dự án nhiều khi chẳng thích hợp cho nhu cầu thật của quốc gia cầu viện. Sau khi mãn hạn thì họ qua xứ khác phục vụ mà khỏi bị đánh thuế. Vấn đề chính là cách thẩm định kết quả thì vẫn gây thất vọng, điển hình là kế hoạch quy mô do Liên Hiệp Quốc phát động năm 2000, gọi là Mục Tiêu Phát Triển Thiên Niên Kỷ hay Millenium Developemt Goals, cho tới nay vẫn còn bị chỉ trích là không thích hợp cho yêu cầu thực tế của nhiều nước nghèo, thí dụ như về canh nông, nữ quyền, môi sinh hay nhân quyền, v.v…. Thành thử vấn đề chính ở đây là từng quốc gia phải tự lo lấy nhu cầu phát triển bền vững của mình và cố gắng thoát khỏi hoàn cảnh đi xin viện trợ.

Nguyên Lam: Nếu vậy thì có lẽ chúng ta phải đi xa hơn, là tìm hiểu về nhu cầu phát triển bền vững như ông vừa trình bày. Thưa ông, Nguyên Lam xin hỏi nhu cầu ấy là những gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi còn nhớ là khoảng 60 năm trước, hai nước Đông Á là Đài Loan và Nam Hàn đã có quốc sách là phải sớm giã từ viện trợ để tự lực tự cường nên nhắm vào ngoại thương hơn ngoại viện để tìm lực đẩy cho nền kinh tế quốc dân. Sau đó, cũng hai quốc gia này tự ý xây dựng nền dân chủ, chấp nhận đa đảng và bầu cử để rồi trở thành một nước “tân hưng” và ngày nay là cường quốc kinh tế có dân chủ. Ngẫm lại ta thấy ra một bài học căn bản là mọi lợi ích kinh tế đều phải nhắm vào người dân và khởi đi từ thành phần nghèo nhất ở dưới cùng.

- Chính sách kinh tế chỉ chú trọng đến đà tăng trưởng hay tiêu chí trừu tượng thường là do lãnh đạo từ trên ban xuống, dọc đường thì bị trưng thu hay cưỡng đoạt để củng cố quyền lợi của thiểu số ở trên bằng luật pháp hay tham nhũng, trong khi người dân ở giai tầng cuối thì vẫn khó thoát khỏi sự nghèo khốn. Ở cấp quốc tế cũng vậy, chính sách ngoại viện do các nước đề ra cũng nhắm vào những mục tiêu ở trên mà quên dân nghèo không có tiếng nói ở dưới cùng. Nếu có tự do dân chủ thì ít ra tiếng nói ấy không bị bóp nghẹt.

- Sau cùng, quy luật tài chính căn bản là có vay có trả, khi đi vay trên thị trường thì việc trả nợ trở thành ưu tiên nên đòi hỏi kỷ luật trong việc sử dụng. Khi được viện trợ thì ta bị ràng buộc vào điều kiện của cơ quan cấp viện, lại ỷ vào yếu tố tặng dữ mà quên hẳn kỷ luật chi thu. Nếu đi vay trên thị trường tự do với giá đắt hơn thì các nước phải thận trọng hơn khi sung dụng tài nguyên quốc dân. Sự cẩn trọng ấy sẽ tránh được nhiều lãng phí, hết dần cái cảnh cha chung không ai khóc. Kết luận ở đây là chẳng nên oán quốc gia cấp viện mà nên thay đổi cái nhìn của giới cầm quyền trong các nước cầu viện. Đã đến lúc người Việt Nam nên nhìn ra sự thật đó.

Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do và Nguyên Lam xin cảm tạ chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa về bài phân tích này.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Phe Biden sẽ dựa vào ngoại giao, thương thuyết và liên minh (alliance) thay vì đánh bài thấu cáy như Trump. Ngược lại cánh diều hâu cho rằng Mỹ thương thuyết bị gạt từ 30 năm nay trong lúc liên minh kiểu ASEAN đã bị Bắc Kinh bẻ gãy. Mỹ không dễ dàng trở lại TPP khi bị cả hai cánh tả Bernie Sander lẫn hữu chống đối. Phần Trump chẳng nhờ cậy nước nào mà lại dấu kín lá bài tủ nên không ai biết Mỹ sẽ giải quyết căng thẳng với Trung Quốc như thế nào, thế giới lo sợ trâu bò húc nhau ruồi muỗi chết.
Ngày xửa ngày xưa, dưới chân Hy Mã Lạp Sơn có một vương quốc trù phú tên gọi Thắng Man. Dù là một vương quốc giàu mạnh nhưng lòng người ở đây không thành thật, sống trên những giá trị giả dối, phù phiếm. Tại ngôi chợ bên ngoài hoàng thành có một người đàn ông sống bằng nghề bán mũ. Mũ của anh chàng này rất đẹp nhưng không hiểu sao hàng ế ẩm nên anh chàng toan tính bỏ nghề, tìm nghề khác sinh sống.
Theo dõi các cuộc tranh luận cộng đồng trên các trang mạng xã hội, có lẽ cũng dễ dàng nhận ra một điều rằng: cộng đồng mạng của người Việt khá bạo lực. Một dạng bạo lực tâm lý, từ trong tâm tưởng và thể hiện qua những mẩu viết, lời bình trên Facebook hay dưới các bài báo. Đặc biệt khi liên quan đến các vấn đề chính trị xã hội, như về chính trường Hoa Kỳ hiện nay chẳng hạn.
Hôm nay, 6 tháng 8 năm 2020, thế giới kỷ niệm lần thứ 75 ngày hai quả bom nguyên tử được ném xuống hai thành phố lớn của Nhật bản: Hiroshima và Nagasaki. Tưởng không cần phải nhắc lại những thiệt hại về người, của và tinh thần người dân Nhật Bản và những hệ quả tai hại khôn lường từ 75 năm qua. Điều cần nói đến là sự quên lãng của nhân lọai về một tai họa nhãn tiền, một tai họa đã xẩy ra cách đây 75 năm, nhưng cũng có thể xẩy ra lần nữa vào bất cứ lúc nào và ở bất cứ nơi đâu.
Sau khi triều đại nhà Thanh sụp đổ và trước năm 1950, khu vực tương ứng với Vùng Tự Trị Tây Tạng (TAR) ngày nay thực tế là một quốc gia độc lập. Đất nước này [Tây Tạng] lúc đó đã tự phát hành tiền tệ và tem, và duy trì các mối quan hệ quốc tế. Tây Tạng tuyên bố có 3 tỉnh (Amdo, Kham và U-Tsang), nhưng chỉ kiểm soát tỉnh Kham phía tây và U-Tsang.
Như nhiều người khác, sự quý mến và ngưỡng mộ ông của tôi có lý do. Xem phim và đọc về ông, thỉnh thoảng lại dịch các bài viết xuất sắc của ông vốn dễ bắt gặp thì chúng thường là các bài nói chuyện sâu sắc, ý nghĩa, lan truyền niềm cảm hứng đến giới trẻ, người dân. Đặc biệt là những diễn từ với giới trẻ, tại các lễ ra trường đại học vào mỗi mùa bãi trường hàng năm.
Tiếng Việt của ta rất phong phú và có ý nghĩa thâm sâu. Khi áp dụng vào chính trị thì nghĩa chữ càng tím ruột, lộn gan lên đầu. Tỷ dụ như khi báo Nhân Dân, tiếng nói chính thức của Đảng và Nhà nước CSVN nghêu gao rằng “dân chủ là bản chất chế độ xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước” (ngày 10/07/2020) thì dân Nam Kỳ Lục Tỉnh biết ngay đó là xạo ke, ba xạo, ba đía, hay là chuyện tào lao thiên địa, bá láp bá xàm.
Trong lịch sử cách mạng tranh đấu giành Độc lập Việt nam gần đây, có 2 Đảng Cách mạng có tuồi thọ cao nhứt là Việt nam Quốc dân Đảng và Đại việt Quốc dân Đảng. Đảng cộng sản tuy xuất hiện năm 1930, sau Việt nam Quốc dân Đảng, nhưng không phải là đảng tranh đấu cách mạng cho Độc lập dân tộc, mà tranh đấu cho quyền lợi của phong trào cộng sản quốc tế. Vì người cộng sản không có dân tộc và không có đất nước riêng của họ.
Đại dịch Vũ hán do virus cộng sản Bắc Kinh gây ra chưa dứt thì nhiều tổ chức, nhiều nước đã lập hồ sơ kiện Xi và đảng cộng sản Trung Quốc về tội dấu xử thật. Trong lúc đó, chánh phủ một số các nước khác cũng bị dân chúng khiếu kiện về tội không bảo vệ hữu hiệu xửc khỏe và đời sống dân chúng.
Sự tăm tối và độ hoang tưởng của các chú – xem ra – cũng ngang ngửa với các bác, chứ chả kém cạnh gì. Cỡ Lê Duẩn, Đỗ Mười, Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Xuân Phúc… e cũng chỉ “ngoan cố” và “ngu dốt” đến cỡ đó là cùng. Tuổi trẻ và những năm du học, ngó bộ, không giúp cho các chú đỡ “gù” hơn các bác bao nhiêu. Vậy mà các chú vẫn được coi như những ngôi sao đang lên (rising stars) trên chính trường nước Việt, một đất nước là vô phúc. Thiệt là họa vô đơn chí!
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.
Người Việt Phone
Không còn nghi ngờ gì nữa, khẩu trang đã đóng một vai trò trung tâm trong các chiến lược đối đầu với dịch bệnh COVID-19 của chúng ta. Nó không chỉ giúp ngăn ngừa SARS-CoV-2 mà còn nhiều loại virus và vi khuẩn khác.
Hôm thứ Hai (06/07/2020), chính quyền Mỹ thông báo sinh viên quốc tế sẽ không được phép ở lại nếu trường chỉ tổ chức học online vào học kỳ mùa thu.
Đeo khẩu trang đã trở thành một vấn đề đặc biệt nóng bỏng ở Mỹ, nơi mà cuộc khủng hoảng Covid-19 dường như đã vượt khỏi tầm kiểm soát.
Trong khi thế giới đang đổ dồn tập trung vào những căng thẳng giữa Mỹ với Trung Quốc, thì căng thẳng tại khu vực biên giới Himalaya giữa Trung Quốc và Ấn Độ vào tháng 05/2020 đã gây ra nhiều thương vong nhất trong hơn 50 năm.
Ủy ban Tư pháp Hạ viện Mỹ cho biết các CEO của 4 tập đoàn công nghệ lớn Amazon, Apple, Facebook và Google đã đồng ý trả lời chất vấn từ các nghị sĩ Quốc hội về vấn đề cạnh tranh trong ngành công nghệ.