Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Tháng Tư Gợi Nhớ Bài Thơ Cũ

22/04/201700:01:00(Xem: 4942)

THÁNG TƯ GỢI NHỚ BÀI THƠ CŨ


Trong số khoảng 100 dịch giả nổi tiếng nhất suốt 5, 6 thế kỷ qua, kể từ nhà tiên tri Nostradamus (1503-1566) cho đến giữa đường thế kỷ 18, 19 như thi hào Charles Baudelaire (1821-1867) và bước sang thời hiện đại như văn hào Samuel Beckett (1906-1989) hoặc còn sống sờ sờ như nhà văn Nobel Cao Hành Kiện, lãnh tụ Hồi giáo Ali Khameinei, nhà văn Nhật Bản Haruki Murakami… thì dịch không chỉ là chuyển ngữ mà dịch là “viết lại bằng một ngôn ngữ khác”!

Với 100 dịch giả nổi tiếng có tên tuổi đã được ghi vào văn khố đó, thì đã có hơn 90 vị đã làm công việc dịch thuật trong lĩnh vực tương ứng của mình. Nghĩa là thi sĩ thì dịch thơ, nhà văn thì dịch văn và học giả thì dịch sách vở trong phạm vi nghiên cứu, tham khảo của mình. Nếu không phải là những thi tài như Đoàn Thị Điểm hay Phan Huy Ích thì ai mà dịch tới mức… siêu quần bạt tụy đọc muốn lạnh người như những câu thơ từ Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn nguyên tác bằng chữ Hán từ đầu cho đến cuối như :


Thiên địa phong trần

Hồng nhan đa truân,

Du du bỉ thương hề thùy tạo nhân…


mà lại dịch tung hoành như sấm dậy – hay tuyệt vời mà không mất ý – thế nầy:

Thuở trời đất nổi cơn gió bụi

Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên

Xanh kia thăm thẳm từng trên

Vì ai gây dựng cho nên nỗi này…


Dịch như thế nầy thì không phải là “viết lại bằng một ngôn ngữ khác”mà lại là tái sáng tạo: giữ nguyên được cảm xúc của ý, hương vị của lời và lưu được bầu khí sống động của ngữ cảnh.  

Thế giới gồm nhiều giống dân, nhiều nền văn hóa và hơn 3 nghìn ngôn ngữ,. Mỗi dân tộc đều có ngữ âm, ngữ cảnh và phương ngữ khác nhau nên rất đa đoan cho sự trao đổi, thông tin, liên lạc. Tuy nhiên, vấn đề càng khó thì sức bật của con người càng lên cao khi nhu cầu thông tin liên lạc trở thành điều kiện ắt có và đủ cho cuộc sống thể chất và tinh thần.

Hơn bốn mươi lăm năm trước, từ giã những ngày học chữ Nôm, chữ Hán với mấy cụ ở làng, với Văn khoa và Sư phạm, tôi càng có cơ hội làm quen với hệ thống ngôn ngữ phương Tây mà đặc biệt là tiếng Anh và mom mem tiếng Pháp mới hiểu và học hỏi thêm vì sao các bậc tiền bối đã cho rằng “Traduttore, traditore” - Dịch là phản (Traduire, c’est trahir – translator, traitor). Và, đâu cũng mươi lăm năm về trước, được gặp Giáo sư – nhà thơ J. Balaban, người đã có nhiệt tình dịch thơ Hồ Xuân Hương ra tiếng Anh. Tôi đã nói với Balaban rằng, có những phạm trù thi ca ở mức độ tinh diệu của ngôn ngữ như cách nói lái, chơi chữ, nhập âm, biến âm, đảo ngữ, tục thanh, đối ngẫu thì không nên đụng vào. Về nghệ thuật chơi chữ xuất quỷ nhập thần như thơ Hồ Xuân Hương thì giới nghệ sĩ và dịch giả đã cho rằng: khi gặp những bản văn không thể dịch được (untranslatable version/terminology) thì đừng cố gắng dịch vì trong trường hợp đó thì “dịch là diệt”! Cầm bản dịch thơ Hồ Xuân Hương của Balaban lên đọc, tôi đã phát biểu có thể làm mất lòng dịch giả, rằng: “Ôi! Anh bạn mình đã biến Disneyland muôn màu muôn vẻ thành Vườn Bách Thú bình thường rồi!”

Nhân cảm hứng nói về khuynh hướng dịch - chuyển ngữ như một nhu cầu thiết thân và thường xuyên nhất của người Việt tha hương từ 30-4-1975 trong cuộc hành trình đầy bi tráng mà sử sách chưa ráo mực, tôi có tham gia đóng góp một số ý kiến trong những cuộc hội luận của các bạn già có, trẻ có được tổ chức nhiều nơi liên quan đến việc dịch thuật. Qua nhiều ý kiến của các dịch giả tài năng và với một chút xíu sự trải nghiệm của riêng mình, tôi nhận thấy ngoài 3 yếu tố là khả năng ngôn ngữ, kiến thức chuyên môn và mối đồng cảm giữa tác giả và dịch giả thì có 3 yếu tố khác không kém phần quan trọng là tuổi tác, hoàn cảnh xuất thân và môi trường văn hóa sẽ góp phần trực tiếp cho chất lượng của dịch phẩm. Như trường hợp khi được đọc Chiến Tranh và Hòa Bình của Leon Tolstoi qua bản dịch của Nguyễn Hiến Lê trước năm 1975 và bản dịch của Cao Xuân Hạo sau năm 1975, tôi mới cảm nhận thấm thía cái “chất dịch thuật” thấm đậm trong “chất nguyên tác” qua hai dịch giả tài năng trong hai bối cảnh và trải nghiệm khác nhau.

Hay tạm vái chào thế giới trời biển của chữ nghĩa nhân gian về dịch thuật, để tạm lấy một ví dụ rất nhỏ của một bài thơ để minh họa cho quan điểm tuổi tác, hoàn cảnh và con người trong phiên dịch mà tôi vừa nếm trải là đọc lại hai bản dịch ra tiếng Anh cho một bài thơ nhỏ bằng tiếng Việt của mình. Đó là khi bài thơ Anh Về Đây đã được hai người dịch.


Nguyên tác bài thơ tiếng Việt:


ANH VỀ ĐÂY                           

 

Anh đã về                                                       
Sau hơn ba mươi năm xa quê                     
Mẹ vắng bóng, con đường xưa mất hút      
Cô bé xóm Kên                                          

Mắt mờ tóc bạc                                          

Chuyện chúng mình                                   
Nhớ nhớ quên quên                                    

Anh đã về                                                   
Con đường cũ thay tên                               
Cầm tay em                                                
Như ngày xưa hò hẹn                                 
Bàn tay run                                                 
Thuở ấy vì tình bây giờ vì lạnh                  
Nắng hoàng hôn không ấm nỗi sương chiều

 

Quê hương mình                                        
Mẹ và em                                                       
Đều thay đổi quá nhiều                             

Duy chỉ có                                                  
Chiếc loa đầu đường                                  
Thì vẫn thế                                           

Sau gần bốn mươi năm                               
Loa loa loa; mồm loa mép dãi                   

Vẫn phát hoài                                             
Tiếng nói Việt Nam                                   

Dân chủ, Tự do                                           
Chỉ nói không làm                                      


` Anh đã về                                                   
Như cây gỗ gió xoang trầm                        
Chút võ vẽ những mảnh trời khai phóng    
Em nghe anh…                                           
Mỉm cười trông ngóng:                              


Làm được gì ngoài bán mộng tay không   

 

Dân chủ - Tự do                                         
Đả đảo hoan hô                                            
Hàng quốc cấm                                          

Chỉ được nhìn ngắm                                  

Không được sờ, không được đụng            

Giở nón chào ca tụng bâng quơ                

Muốn độc lập                                             

Phải có tự do                                               
Muốn tự do                                                 
Phải có dân chủ                                          
Muốn dân chủ                                             
Phải hóa sinh thân xác cũ                            
Chờ bao năm                                              
Xác ướp có linh hồn                                   

Anh về đây em                                           
Đường tự tình quê hương yêu dấu             
Chí lớn mang về chẳng từ Mỹ từ Âu         

Trong tim em                                              

Khát vọng dấy từ lâu                                 

Như giông bão                                           

Đang nằm sâu trong đất                               


Chờ đợi bao năm nên em cúi mặt                
Ngước lên nhìn!                                         

Triệu ánh mắt:                                           

Tìm nhau                                                   

Đừng đợi mãi bên cầu                               

 

              TRẦN KIÊM ĐOÀN



Bản dịch tiếng Anh của Thanh Thanh Lê Xuân Nhuận

Lê Xuân Nhuận là một tác giả có bề dày trong cả hai ngôn ngữ Việt và Anh.

Anh sinh năm 1930 và vẫn là một cây bút năng nỗ và sống động trong suốt 60 năm qua và ở tuổi đời 87 hiện tại với nhiều tác phẩm thơ, văn, kịch, chính luận, biên khảo, dịch thuật. Anh có tác phẩm trong 40 tập thơ tiếng Anh đã xuất bản tại Mỹ. Đồng thời anh cũng là một nhân vật đã giữ nhiều đặc vụ và trọng trách thời Việt Nam Cộng Hòa.

Ghi lại đôi giòng tiểu sử của anh như một sự minh họa về thân thế và sự nghiệp của một dịch giả thế hệ đàn anh đã trải nghiệm về những giá trị hiện thực của cuộc đời, sự nghiệp và nghệ thuật.


blank



HERE I HAVE COME BACK

 

Back here I have come     
After over thirty years home away from.
Mom absent, the old way lost in the whirl.
The once Ken Hamlet girl

With dim eyes and grey hair,

About her personal affair
Remembered and forgot in confusion.

Back here I have come. No illusion.
The former street has changed its name.
I held your hands all the same
Like I did those days we were on a date;
Your hands shook blate
In the past by love but now by cold, true,
The setting sun couldn’t warm the dusk dew.

 

Our fatherland land:
Have had too many changes to stand   
Mother and sister.

Except that the blister
The street corner’s loud speaker 
Is the same as always a squeaker.

After nearly forty years
Garrulous, loquacious, verbose to all ears,

Still broadcast forever, never calm,
The Voice of Vietnam.

Democracy, Liberty: none!
Only said never done.


I have come back to make good.
As an old tree catching wind of agarwood 
Dabbling a little in bits of liberated life 
You listened to me while evil is rife
Smiled, looking forward with a gleam…
Empty-handed to act: to sell one’s dream!

 

Democracy! Liberty!  (blah)
Down with! Long live! Hurrah! 
Forbidden merchandise

Only to look, contemplate, for one’s eyes

Not allowed to touch let alone to hold.

Hats off for a salutation vague and cold.

Independent to be
You must be free.
To be free (not hypocrisy)
There must be democracy.
To be democrat
You must renovate the old life flat. 
How many years to expect in whole
For a mummified body to have a soul?

Back here I have come
With deep feelings for our country glum.
Just cause is not from US or Europe smart,

But it does exist in your very heart.

Aspiration so far arisen urging to perform

Like a storm

Has been lying in the earth profound.


So long in wait to stoop you were bound. 
Now, raise your head, look up to see

Millions of eyes in glee

Are seeking one another in a world wider:

Start off! No longer remain an outsider!

 

Translation by THANH-THANH


**

*


Bản dịch của Trần Thị Kiêm Nguyên


Bé Na là con gái út dịch thơ Bố già. Mẹ có bầu bé Na tại Việt Nam, sinh tại Hồng Kông (1982). Bé Na lớn lên tại Mỹ, hiện làm bác sĩ Nhãn khoa và cũng thích viết lách, thơ thẩn như Bố già 71 tuổi. Cũng xin ghi lại đôi dòng riêng tư về bé Na để minh họa cho một lối dịch của thế hệ đàn em – hàng con cháu – trong sinh hoạt văn bút hiện nay của người Việt ở nước ngoài.



blank


I HAVE COME BACK HOME


I have come home

After being away for over 30 years.

Mom is gone, along with the names of familiar roads.

The young girl from Hamlet Ken

Now has dim eyes and grey hair.

Her personal affairs befuddled

Wavering between remembering and forgetting.


I have come home

To old streets with new names.

I hold your hands

Like when we used to date.

Your hands shook

In the past from love, but now from the cold

The setting sun fails to warm the chill at dusk.


Our fatherland

And our mothers and sisters

Have gone thru too many changes

Yet what remains

Is the street corner’s loud speakers

With the same commotion

After nearly forty years

Blaring, blaring, blaring, boisterous messages,

Continually delivering broadcasts.

The Voice of Vietnam.

Democracy, Liberty!

But these are words, with no action.


I have come home.

As the old agarwood, absorbing passively.

Dabbling a bit in the life of liberation

You have listened to me

With a gleaming smile

Unable to do anything except sell fruitless dreams.


Democracy! Liberty!  


Down with! Long live! Hurrah!

Forbidden merchandise

Only to look at and admire

Not to touch, let alone hold.

Hats off for an empty salutation

To salute, but praising nothing.

To be independent

There must be freedom

To be free

There must be democracy

To be a democrat

There must be reform of the past

How many years of waiting

Until a mummy gains a soul?


I have come home

On an emotional road for our beloved country.

With strong will not born from America or Europe

But existent in the heart’s core

Inspiring a call for action.

The strong desire arising from a long dormancy

Like a storm

That lies deep within the earth.


From many years of waiting, your head cowers.

But rise up to witness

The glistening eyes of millions.

Find each other!

Rather than waiting, undecided, on the other side.


Translation by: TRAN THI KIEM NGUYEN


Khi người sáng tác, người dịch và người đọc có mối đồng cảm về nội dung nói lên được điều muốn nói, ngôn từ diễn cảm được điều đang nói và khung cảnh ghi dấu được bóng dáng của thế giới nhỏ trong bài thơ là bài dịch qua tới được “bờ bên kia” của một công trình dịch thuật.


Sacramento, giữa mùa tháng Tư 2017

Trần Kiêm Đoàn




Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Tại sao photon di chuyển nhanh như ánh sáng? Tại sao từ đốm lửa diêm, ngọn đuốc, ngọn đèn, một tinh cầu phát nổ v.v… phóng ra, photon lập tức đạt tốc độ nhanh nhất trong Vũ Trụ? Câu trả lời có rồi, giản dị và không đòi hỏi những kiến thức vật lý cao siêu. Nhưng nói ngay thì bạn sẽ bỡ ngỡ, hoang mang, và rồi thắc mắc rất nhiều, mất vui. Vậy ta kiên nhẫn đi từng bước một. Chậm nhưng mà chắc. Đường trường lên thác xuống ghềnh, băng rừng lội suối, lạc tới lạc lui trong núi thẳm rừng sâu… kẻ dò đường này đã lãnh hết. Giờ sông sâu đã bắc cầu, đường xuyên rừng đã khai quang chờ đón bạn.
Cùng với số phận chung của Thế giới, nạn dịch Covid-19 đã phủ mây mù lên nền kinh tế của Việt Nam trong 7 tháng đầu năm 2021. Khoảng 80,000 Doanh nghiệp đóng cửa và hàng chục triệu công nhân mất việc làm. Việt Nam đã nhập siêu 2,7 Tỷ Dollars trong thời gian này, trong khi tình hình dịch Covid-19 vẫn còn nghiêm trọng.
Mười một năm trời ròng rã, mỗi lần nghĩ tới anh là tôi nghĩ tới Nelson Mandela, chỉ ra được khỏi tù sau 27 năm, vì những người khác đã tranh đấu thành công để có một cuộc thay đổi toàn diện trong xã hội. Ngay sau khi ra tù, Mandela đã được bầu làm lãnh đạo một cuộc thương nghị với nhà cầm quyền cho vấn đề hòa giải dân tộc.
‘Tổng thu nhập một tháng trên một khẩu của chúng tôi là 40.000 đồng …’ 40.000 đồng có giá trị như thế nào lúc này. Đó là giá của 2 bát phở, giá của 4 lít xăng, giá của hai xuất cơm trưa văn phòng, giá của một cuốc xe ôm trên đoạn đường 10km, giá của hơn một bao thuốc lá 555, giá của 3 ly cà phê… Tôi biết sẽ có rất nhiều người không thể tin rằng tổng thu nhập hàng tháng của một khẩu trong hầu hết những gia đình nông dân lại chỉ với một con số ‘kinh hoàng’ như thế.”
Các lãnh tụ của Đảng Cộng Hòa có thể tiếp tục than phiền về tình trạng kinh tế khó khăn và các chương trình của Biden có khuynh hướng xã hội, nhưng khi nhìn những thống kê về dư luận quần chúng thì rõ ràng quan điểm của Đảng Cộng Hòa không phản ảnh đúng với nhận thức của đa số dân Mỹ.
Nhạc Sĩ Tô Hải và Cựu Đại Tá Bùi Tín là hai nhân vật đã có dịp theo dõi và tham gia cuộc sống trong thời gian hai biến cố kể trên xảy ra, đã phục vụ chính quyền Cộng Sản trong Quân Đội Nhân Dân, trong văn nghệ và báo chí, sau đó đã đổi thái độ. Ngày 11/8/ 2018, hơn một tuần lễ trước ngày có thể coi là mở đầu cho định mệnh của hai ông, hai ông cùng qua đời, cùng ở tuổi 91. Câu hỏi được đặt ra là hai ông đã nhận định ra sao về ngày 19/8/1945 này? Người viết xin vắn tắt ghi lại sau đây để người đọc tiện theo dõi và hiểu rõ hơn quan điểm của hai ông, đồng thời cũng xin ghi thêm một vai chi tiết liên quan tới ngày 19/8/1945 ít được mọi người biết tới hay chỉ biết mơ hồ, trong đó có chuyện tấm ảnh của Tướng Cọp Bay Chennault ký tặng Hồ Chí Minh, chuyện Việt Minh lấy đồ trong cung vua đem ra chợ bán, chuyện bốn tấn bạc người Nhật trả lại cho Chính Phủ Việt Nam, chuyện Việt Minh tịch thu của cải của nhà giầu...
Tuy nhiên, khi Chính phủ áp dụng giãn cách nhà với nhà, người với người, cấm ra đường nếu “không có lý do chinh đáng”, khoanh vùng, lập chốt kiểm soát cho tới ban hành lệnh giới nghiêm tại Sài Gòn từ 6 giớ tối đến 6 giớ sáng thì tình hình kinh tế và xã hội xáo trộn rất nhanh. Đời sống người dân bị đảo lộn, gặp muôn vàn khó khăn do mất việc, giảm việc, cạn kiệt tài chính vì dù không có việc làm nhưng vẫn phải ăn để sống, vẫn phải trả tiền thuê nhà, điện nước v.v…
Tôi tha phương cầu thực đã lâu nên tiếng mẹ đẻ không khỏi có phần giới hạn. Bữa qua, đứng xếp hàng ở chợ chờ trả tiền thùng bia, chợt nghe loáng thoáng dăm câu đối thoại của mấy người đồng hương mà không khỏi có đôi chút băn khoăn: Vậy chớ chị thuộc diện gì? Nào có “thuộc diện” gì đâu. Mình chỉ là loại … ăn theo thôi mà! Về nhà, xem qua tự điển thì thấy Soha định nghĩa (“ăn theo”) thế này: Khẩu ngữ: Được hưởng hoặc có được nhờ dựa theo cái khác, người khác, không phải do tự bản thân có hoặc làm nên: “Nước lên cá đuối ăn theo, Lái buôn hết gạo bỏ neo cầm chừng.” (Cdao)
Lời người dịch: Các lý giải của Jude Blanchette và Richard McGregor về sự ra đi và kế vị của Tập Cận Bình trong tương lai là một đóng góp hữu ích cho độc giả quan tâm đến sự nghiệp chính trị của Nguyễn Phú Trọng và sự thống trị của ĐCSVN, vì không có sự khác biệt to lớn trong hệ thống chính trị của Trung Quốc và Việt Nam. Nhưng hai tác giả không nêu lên một khía cạnh thời sự đang tác động cho tình thế là dịch bịnh COVID-19. Cả hai ĐCSTQ và ĐCSVN đều luôn tự hào về các thành tích kinh tế toả sáng mà không cần cải cách tự do chính trị và tự tuyên dương là “cường quốc chống dịch bịnh” hữu hiệu hơn các nước dân chủ phương Tây. Hiện nay, biến chuyển thảm khốc về dịch bịnh tại Việt Nam cho thấy một sự thật khác hẳn và giúp cho người dân có một cơ hội để nhận định đúng đắn hơn về sự lãnh đạo của ĐCSVN.
Ở độ cao hơn 46,000 feet tức là cao hơn 14 kilomets trên vùng sa mạc khô cằn của tiểu bang New Mexico, chiếc phi thuyền không gian màu trắng và bạc đã được hỏa tiễn phóng lên hướng về bầu khí quyển của Trái Đất, cỡi lên một chòm khói khí đốt và nhiên liệu cao su cứng đang cháy rực, theo ký giả Michael Greshko của báo National Geographic. Một vài phút sau, 2 phi công và 4 hành khách của phi thuyền, gồm tỉ phú Richard Branson, đã trôi trên bề mặt của hành tinh chúng ta hơn 53 dặm, tức hơn 85 cây số là độ cao đủ để nhìn thấy độ cong của Trái Đất và trượt qua mối ràng buộc của hấp lực, trong vòng ít nhất vài phút. Chiếc phi thuyền lấp lánh đó -- Virgin Galactic’s V.S.S. Unity – được phóng vào không trung từ một chiếc máy bay lớn hơn để đạt tới độ cao hơn 53 dặm trên bầu trời. Khi nó hoàn tất đường phóng lên, nó xoay cặp đuôi của nó lại, sắp xếp lại hình dạng chiếc phi thuyền để cho phép nó rơi trở lại thượng tầng khí quyển như một trái banh vũ cầu. 15 phút sau khi tách khỏi phi thuyền mẹ,
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.