Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Tìm Về Phật Giáo Chiêm Thành Qua Thánh Địa Đồng Dương

24/02/200500:00:00(Xem: 4964)
Nói đến người Chàm là phải nói đến nền văn hóa và tín ngưởng của họ như Bà La Môn, Bà Ni và Đạo Hồi. Theo các nguồn sử liệu trên thế giới có liên quan, thì Bà La Môn giáo trong thời cực thịnh, đã ảnh hưởng rất lớn đối với Chiêm Thành, một vương quốc nằm trên bờ đông của bán đảo Đông Dương,tồn tại từ đầu thế kỷ thứ I sau TL, tới năm 1693 thì mất nước, có lãnh thổ chạy dài từ đèo Ngang vào tới ranh giới Nam Phần. Tất cả những gì còn lưu dấu hiện nay, qua việc người Chàm thờ các thần thánh trong Ấn giáo như Brama. Visnu, Siva và quan trọng nhất vẫn là việc các triều đại Chiêm Thành, dùng các địa danh cũng như triều hiệu vua chúa Ấn Độ, để đặt tên đất và vương miếu, tôn miếu,miếu hiệu của mình như Amaruvarti, Sinhapura, Indrapura, Vijaya..Ngoài ra Phạn ngữ-Sankri cũng như lịch cổ Liy Saka đã được xử dụng rất sớm tại vương quốc này từ thế kỷ thứ II-XIII sau TL. Ảnh hưởng của Ấn giáo còn tìm thấy tại hầu hết các đền tháp của người Chàm , suốt dọc các tỉnh Trung Phần từ Thừa Thiên vào tới Bình Thuận, qua kiến trúc theo trường phái tôn giáo Meru. Tuy nhiên đây không phải là một sao chép nguyên vẹn, mà là sự hòa điệu được kết hợp với văn hóa bản địa, đặc biệt qua quá trình phát triển tôn giáo phồn thực,dần thay ba vị thượng đẳng thần trong Ấn giáo cổ xưa, bằng ba anh hùng dân tộc Chàm là Pô Naga (Nử vương xứ sở) và hai vị minh quân có công lớn với đất nước như vua Pô Klong Girai và Pô Rômê..Trong âm nhạc với những vũ điệu mềm mại, uyển chuyển, qua sự hoá thân vào nghệ thuật của vũ nử thiên thần Apsara trong huyền thoại Ấn Độ, đã tạo nên những tác phẩm bất hủ trong nền văn hoá Chàm. Thánh địa Mỹ Sơn trong tỉnh Quảng Nam, tuy không phải là kinh đô của vương quốc thời đó (Trà Kiệu) nhưng lại là một trung tâm tín ngưỡng , thờ cúng các đấng thiêng liêng , qua nhiều thế kỷ đã chứng kiến những thời kỳ hưng thịnh rực rỡ cũng như suy vong của dân tộc. Song song với Ấn giáo còn có ảnh hưởng của văn hoá hồi giáo qua hai hệ phái Bani tại Khánh-Ninh-Bình thuận và Hồi giáo chính thống của người Chàm sống tại Sài Gòn và các tỉnh Nam phần, qua kinh Côran viết bằng chữ Arab, những thánh đường Hồi giáo khắp nơi có tín đồ, nghi thức trong tháng chay Ramanda, tục kiêng cử thịt heo và thủ tục mai táng..Như vậy trong nền văn hóa rực rỡ của người Chàm bàng bạc qua mười mấy thế kỷ, Phật giáo đã có ảnh hưởng gì tới vương quốc này " sự tìm hiểu lại càng khó khăn hơn vì Phật viện Đồng Dương, một trung tâm Phật giáo Chiêm Thành, còn được biết qua cái tên Lakzmidra-Lokesvara đã bị chiến tranh biến thành bình địa, hơn nữa Chiêm Thành không có các sách chuyên biệt về lịch sử, cho nên người ta chỉ phỏng định qua các tài liệu của các lân bang trong vùng Đông Nam Á và các di vật còn sót lại, trong đó có nhiều pho tượng Phật làm bằng đồng, sắt nổi tiếng. Ngoài ra nhờ sự hiện diện của ngôi cổ tự Trung Phường, của con đường tơ lụa trên biển, kế cận Phật viện Đồng Dương, được người Việt khi tới tiếp thu Châu Indrapura vào thế kỷ thứ X, bảo quản và gìn giữ, đã góp phần lớn trong việc bắt một nhịp cầu cho hậu thế tìm đến nguồn ngọn của ngưởng cửa Phật giáo Chiêm Thành, xuất hiện trong thế kỷ thứ 4 STL nhưng thật sự phát triển rực rở và thịnh hành suốt thế kỷ thứ IX, rồi tàn lụn khi vương quốc thiên đô vào Chà Bàn(Bình Định).

1-PHẬT GIÁO :Qua các tài liệu lịch sử, thì Phật giáo đã theo chân các thương buôn người Ấn vào Giao Chỉ Bộ trong thời Bắc thuộc, từ thế kỷ thứ 1 sau TL trước Nho giáo. Đến thế kỷ thứ II, các tăng sĩ thuộc Phật giáo đại thừa của cả hai phái Agama(A Hàm) và Thiền tông (Dhyana), mới chính thức tới đây truyền giáo, ròi theo thời gian bành trướng phát triển rực rỡ tới ngày nay. Xuất phát từ Ấn Dộ khoảng thế kỷ thứ VI-V trước tây lịch, Phật giáo đã lưu hành rộng rãi khắp nơi trên thế giới, từ Á-Phi cho tới Âu-Mỹ-Úc, nơi nào đạo Phật cũng hòa điệu và kết họp với văn hoá tín ngưởng bản địa, hình thành rất nhiều tông phái và học thuyết, ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống văn hoá và xã hội cuả nhiều dân tộc, trong đó có VN qua Phật giáo Hòa hảo. Ra đời vào một thời kỳ toàn thịnh của phong trào thần học và triết học tại Ấn Độ cũng như toàn thế giới, đồng thời với Bách Gia Chu Tử thời Xuân Thu của Trung quốc, học phái Ngụy biện tại Hy Lạp, đạo Zoroastre tại Ba Tư, tuy không gian xa cách nhưng giữa các học thuyết này gần như vẫn có sự liên hệ. Chính chế độ đẳng cấp đã làm suy yếu đạo Bà La Môn, mở đường cho trào lưu tư tưởng Sa Môn đua nở, hưng thịnh nhưng nổi bật có Phật giáo, Lokayata, Giaina giáo, Ajivika hay Tà mệnh ngoại đạo và Bất khả tri luận. Tóm lại các phái trong trào lưu tư tưởng Samôn đều có biểu hiện riêng nhưng thống nhất về phương diện phản đối sự độc tôn của Kinh Vệ Đà và đạo Bà La Môn cũng như học thuyết Phan Thiên sáng tạo thế giới, chống đối sự thống trị tinh thần và chế độ bất bình đẳng của đẳng cấp Bà La Môn, sự sát sanh và các nghi thức cúng tế rườm rà. Trên lý thuyết, Phật giáo là một trong những trào lưu tư tưởng của Samôn, ra đời trong khoảng từ thế kỷ thứ VI-V trước TL, do Phật Tổ là Siddhartha Gautama sáng lập. Theo kinh điển của Phật giáo, vào năm 623 trTL, mẫu thân của Đức Phãt là Hoàng hậu Maya Devi, trên đường về quê tại Rangram, đã hạ sinh ngài tại Lumbini. Bốn trăm năm sau, một cuộc hành hương của Hoàng đế Ashoka, người đã giúp cho Phật giáo từ Ấn bành trướng khắp nơi tại Đông Á.Chính ông là người đã đặt một tảng đá cùng dựng cột tại nơi sinh của Phật Tổ, đồng thời cho dựng nhiều đền đài Phật giáo tại đây. Nhưng hàng nghìn năm sau đó, chiến tranh và thiên tai đã tàn phá và xóa tên Lumbani, trong đó có ngôi đền Maya Devi, cách Kathmandu khoảng 240 km,được xây dựng cách đây gần 2600 năm. Và rồi hàng bao thế kỷ gần đây,những người hành hương khắp nơi trên thế giới đã không ngớt lùng sục khắp các chân đồi của dãy Hy Mã Lạp Sơn,với hoài mong tìm ra vị trí chính xác nơi sinh của Đức Phật, để chứng minh với công luận rằng Thích Ca Mâu Ni là một nhân vật lịch sử, giống như các dấng Jesus, Moham mad, Khổng Phu Tử..chứ không phải là các đấng thần thánh hoang đường, trong các tư liệu truyền kỳ của Trung Hoa,Ấn Độ còn lưu tới ngày nay. Khởi công từ năm 1895 cho tới ngày 18/2/1995 hai nhà khảo cổ Babu Khrishna Rijal của Nepal và Satoru Uesaka của Nhật Bản, sau đó được các chuyên gia Ấn Độ,Pakisan,Tích Lan..trước đây từng tuyên bố Đức Phật không phải sinh ra tại Nepal, mà là tại quận Gorakhpur, thuộc Bang Uttar Pradesh Ấn Độ đồng tình, đã công bố ngày 2-4-1996 là đã tìm được " tảng đá hoàn hảo" , đặt trên nền của ngôi đền được xây vào năm 249 TrTL, chính là nơi sinh của Đức Phật. Tảng đá có cở 45x15cm, cách cây cột Ashoka được tìm thấy năm 1895 khoảng 5m. Chính tảng đá trên đã tìm thấy trong một căn hầm, nằm trong số 15 phòng của một ngôi đền, được vua Ashoka xây dựng tại Lumbini. Việc xác định nơi sinh của Phật tổ chẳng những là một biến cố lớn trong dòng lịch sử nhân loại, mà còn có một tầm quan trọng đặc biệt đối với niềm tin của hơn 350 triệu tín đồ Phật giáo chính thống trên thế giới, đó là chưa kể hơn nửa tỷ người Hoa, Nhật, CaoLy, Việt Nam theo tam giáo, Thần đạo, Cao Đài,Phật giáo Hòa Hảo.. là các tôn giáo được hình thành từ Phật giáo và các nguồn tín ngưởng bản địa. Về năm sinh và ngày mất của Đức Phật, căn cứ vào tài liệu của các tông phái, thì gần như có hằng ngàn cách giải thích, chẳng hạn như của " Chúng Thanh Điểm Ký" do một môn đồ của Phật Tổ viết trong " Thiện kiến Tỳ Bà Sa Luật", được dịch ra Hán tự từ thời Nam Tề, thì Đức Phật mất vào năm 485 TrTL, nhằm đời thứ 35 vua Chu Kính Vương, thọ 80 tuổi, từ đó suy ra Phật Tổ sinh năm 565 TrTL. Với các quốc gia vùng Đông nam Á theo Phật giáo tiểu thừa, lại căn cứ vào "Miến Điện Phật Truyền" thì Đức Phật sinh năm 624 TrTL và mất năm khoảng năm 544-545 TrTL và cách giải thích này hiện nay hầu như được toàn thể Phật giáo đồ trên thế giới chấp nhận. Theo Phật sử, Đức Phật xuất gia lúc 29 tuổi với tâm nguyện đi tìm một sự giải thoát về tinh thần của thế nhân qua nổi thống khổ do sinh, lão, bệnh, từ gây nên. Năm 35 tuổi Ngài đắc đạo dưới gốc cây Bồ đề ở Buddahagaya, từ đó Phật qua danh xưng Thích Ca Mâu Ni bắt đầu thuyết giáo trong 45 năm tại Ấn Độ và mất tại thành Cusinara.

2-SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHẬT GIÁO :
Giáo lý cơ bản của Phật Giáo nguyên thủy bao gồm Thuyết Tứ Đế, Thuyết Duyên Khởi, Thuyết Ngũ Uẩn và Thuyết Vô Thường-Vô Ngã. Tóm lại Đạo Phật cho rằng mọi việc trên cõi đời do DUYÊN mà sinh ra, sinh diệt biến hoá, do đó PHẢN ĐỐI ta hay linh hồn, đều là nguyên nhân tận cùng của thế giới, theo quan niệm của Bà La Môn. Với Phật Giáo bề ngoài như phản đối TA hay LINH HỒN nhưng vẫn đồng tình thuyết Luân Hồi Nghiệp Báo của đạo Bà La Môn, làm thiện gặp thiện, ở ác gặp ác, tóm lại theo đạo Phật, chỉ có tu hành mới có thể giải thoát được luân hồi.Sự công nhận CHỦ THỂ của luân hồi, về sau trở thành sự tranh luận giữa các tông phái của Phật Giáo.. Từ thế kỷ thứ IV-III TrTL, đã thấy có sự phân hoá khi kết hợp lần thứ hai (Tỳ Xá Lệ) và chính lần này, Phật giáo thật sự chia làm TIỂU THỪA ( Thượng Tọa Bộ) và ĐẠI THỪA ( Đại Chúng Bộ). Riêng trong hai phái, lại còn phân thành nhiều Bộ..

* SỰ KHÁC BIỆT GIỮA ĐẠI THỪA VÀ TIỂU THỪA: Phật Giáo Đại Thừa hưng khởi trong thế kỷ thứ I TrTL, tương đương thời kỳ Ấn độ chuyển từ chế độ Nô Lệ sang chế độ Phong Kiến. Về phương diện lý luận, mỗi thừa thực tiển đều có sự khác biệt trong cách tu trì. Đại Thừa (MAHAYANA) hay Đại Thăng, chủ trương không câu chấp và nô lệ giáo điều và kinh sách, tự tu, tự độ và phổ độ chúng sanh. Tóm lại Đại Thừa chủ trương không luận, dung hòa, chẳng có mà cũng chẳng không. Trung đạo là tinh hoa của Phật học đại thừa. Tiểu thừa (HINAYANA) chủ trương tự tu, tự độ, trong văn tự kinh điển, làm đúng lời Phật dạy. Dùng kinh điển bằng tiếng Pali, về phương diện nhận thức vẫn chưa vượt khỏi hiện tượng luận đề, vào bản thể luận như PG đại thừa. Nói chung, Đại Thừa chủ trương Ngã Pháp Lưỡng Không tức là Ta và Pháp cả hai đều không, còn Tiểu Thừa thì bảo Ngã Không Pháp Hữu có nghĩa Ta không Pháp Có. Tiểu Thừa gần như tin rằng Phật Tổ là một nhân vật lịch sữ, có thật còn Đại Thừa thì nhân cách hóa Phật thành một Chân Lý Tuyệt Đối để mọi người sùng bái vô hạn. Trong vấn đề tu trì để đạt tới Phật Quả thành Phật thì Tiểu Thừa tu theo Giới,Định,Tuệ, trọng về lợi kỷ. Riêng Đại Thừa ngoài con đường của tiểu thừa còn tu thêm Sáu Bà La Mật để phổ độ chúng sinh, đó là bố thí, thủ giới,nhẫn nhục, tinh tiến,tọa thiền và trí tuệ. Nói chung Đại Thừa chủ trương Lợi Tha, tức là làm lợi cho người. Đại Thừa có hai phái chủ yếu là Trung Quán (Không Tông) và phái Yoga (Hữu Tông). Ngoài ra trong Phật Giáo vào thế kỷ thứ VI-VII Sau TL tại Ấn Độ, còn xuất hiện Mật Tông phái hay Kim Cương Thừa, là sự kết hợp của Phật Giáo Đại Thừa, Bà La Môn và Tín ngưỡng dân gian. Đầu thế kỷ thứ XI STL, quân Đột Quyết theo Hồi giáo từ Trung Á xăm chiếm miền bắc Ấn, Đạo Phật từ đó cũng lần hồi theo các biến chuyển chính trị và chiến thắng của Hồi Giáo mà tàn lụn dần trên đất Ấn.

*PHẬT GIÁO TRUYỀN BÁ TRÊN THẾ GIỚI : Cái nôi của Phật Giáo là miền trung lưu vực sông Hằng và bành trưởng mạnh mẽ vào thời vua Asôca của vương quốc Maurya`, đông tới Miến Điện, Tích Lan, tây tới tận Syria,Ai Cập, phía bắc tới Ba Tư,Trung Á rồi từ đó theo con đường tơ lụa vào Trung Quốc, truyền sang Cao Ly, Nhật Bản,Việt Nam. Tại phương Nam, Phật Giáo chủ yếu là Tiểu Thừa từ Tích Lan vào Miến Điện,Thái Lan,Lào,Phù Nam,Chân Lạp, Vân Nam. Mặt khác Phật Giáo Đại Thừa cả Tiểu Thừa cũng theo con đường tơ lụa trên biển truyền sang các tiểu quốc trên đảo Sumatra,Java,Bali..thuộc Nam Dương và chính từ đó Phật Giáo Đại Thừa mới truyền vào Vương quôc Chiêm Thành từ thế kỷ thứ IV STL nhưng thật sự khởi sắc và phát triển rực rở vào thế kỷ thứ X STL.

TÍCH LAN : Phật Giáo Tiểu Thừa truyền vào Tích Lan từ thế kỷ thứ III TrTL, lập phái Đại Tự ghi chép kinh điển PG khẩu truyền bằng văn tự địa phương. Đầu thế kỷ thứ I STL, Hòa Thượng Pháp Hi lập thêm phái Vô Úy, thế kỷ thứ IV có thêm phái Kỳ Đa Lâm nhưng quan trọng nhất là việc nhà sư Ấn Độ tên là Giác Âm vào thế kỷ thứ V tới đây chú thích các kinh điển Phật Giáo, trong đó có Tăng Già La của Tam Tạng và biên soạn thêm Thanh Tịnh Đạo Luận..tất cả đều bằng tiếng Phạn-Pali. Từ đó Phật Giáo Tiểu Thừa được hệ thống hoá và truyền khắp Nam Á tới ngày nay. Từ cuối thế kỷ thứ XIX, Đạt Ma Bà La lập Đại Bồ Đề, dấy lên phong trào chấn hưng và bảo vệ các di tích cổ xưa của Phật Giáo, biên soạn kinh điển bằng tiếng Pali, càng làm cho Phật Giáo Tiểu Thừa thêm rực rỡ ở Nam Á. Năm 1945, Tích Lan độc lập và PG tiểu thừa trở thành quốc giáo với môn đồ chiếm hơn 94%, chùa chiền có trên 5600 ngôi khắp cả nước.

MIẾN ĐIỆN: Buổi đầu Phật Giáo Đại Thừa và Kim Cương Thừa thịnh hành tại đây. Giữa thế kỷ XI STL, đời vua Anawrahta, thuộc vương triều Pagan, thống nhất Miến Điện và trở thành một quốc gia sùng bái Phật Giáo tiểu thừa, xây dựng hàng loạt chùa chiền, trong đó nổi tiếng nhất là Chùa Vàng Cung Thụy Hải còn truyền tới ngày nay. Năm 1557, quốc vương Bayingnaung , thuộc triều đại Tangku, đúc chuông lớn có khắc kinh văn bằng tiếng Pali,Miến và Thái tự để truyền thế. Các vị vua đời sau tiếp tục coi Phật Giáo Tiểu Thừa là quốc giáo, dựng Tháp Phật Đa Lộc, tu sữa Chùa Vàng, thu tập lại các văn bia của Phật Giáo, hiệu đính lần thứ 5 kinh Tam Tạng và đem khắc lên 729 bia đá, làm thành một bộ kinh điển độc nhất vô nhị trên thế giới.

THÁI LAN: Còn có tên là Xiêm La, từ thế kỷ thứ XIII STL theo Phật Giáo Đại Thừa từ Vân Nam truyền vào. Năm 1361 thời vua T'ammaraja Lu T'ai thứ năm của vương triều Xukhôthai, tiếp nhận thêm Phật Giáo Tiểu Thừa.Từ đó về sau loại bỏ dần phái Kim Cương Thừa do Mông Cổ mang tới khi chiếm nước này, đồng thời kết hợp với Phật Giáo Đại Thừa, làm thành Phật Giáo Thái Lan với hai phái chính Thuyết Giáo ở thành phố và phái Tập Thiền ở mền sơn cước. Thế kỷ thứ XIV người Xiêm chiếm Chân Lạp và đem Phật Giáo Tiểu Thừa truyền vào nước này. Hiện Thái Lan coi Phật Giáo Tiểu Thừa là quốc giáo với 95% tín đồ. Các đời vua thuộc dòng họ Rama, từ năm 1919-1928 đã hoàn thành bộ kinh Tam Tạng và Điển Tích Tạng Ngoại bằng tiếng Pali, khắp nước có hơn 30.000 ngôi chùa . Ngoài ra còn có một nhóm người Hoa sống ở đây theo Phật Giáo Đại Thừa, hệ phái Luật Tông Pháp có nhiều chùa chiền .

PHÙ NAM VÀ KAMPUCHIA: Không biết Phật Giáo đã truyền vào Phù Nam từ lúc nào nhưng căn cứ vào Trung Hoa sử và các bia ký tìm thấy hiện nay, thì dân chúng Phù Nam theo Phật Giáo lẫn Bà La Môn và năm 503, một tăng già người Phù Nam tên Bà La , đã tới miền nam Trung Hoa truyền đạo và giúp vua Lương Vũ Đế dịch 11 bộ kinh đại thừa, điều này chứng tỏ Phù Nam theo PG Đại Thừa và chính nước này đã truyền Đạo Phật vào vương quốc Chiêm Thành. Cuối thế kỷ thứ VI STL, Chân Lạp tiêu diệt Phù Nam, chiếm trọn vùng Thủy Chân Lạp (Nam Phần ngày nay), trong nước sùng bái Phật Giáo cả Ấn Giáo, dung hợp thành Phật Giáo Chân Lạp, sùng bái Tam Vị Nhất Thế là Phật,Liên Hoa Mục và Liên Hoa Sinh theo quan niệm của Ấn Giáo ( Siva,Vishnu và Brahama). Từ thế kỷ thứ XII Chân Lạp là một cường quốc ở Đông Nam Á đồng thời Phật Giáo cũng đạt tới đỉnh cao. Năm 1150 Dharanindravarman II làm vua Chân Lạp, đã có công loại dần Ấn Giáo vốn chiếm địa vị lâu dài ở Chân Lạp, thống nhất Phật Giáo và đưa PG tiểu thừa lên làm quốc giáo cho tới ngày nay. Thánh tích tại Angkor ngoài là một kỳ quan của thế giới, còn là chứng tích của Phật Giáo cổ xưa trong sự dung hợp Bà La Môn và PG tiểu thừa. Hiện Kampuchia có hai hệ phái PGTT là Phái Đại Tông chiếm 90% và phái Pháp Tông chỉ gồm thành phần quý tộc.

LÀO : Theo sử Lào,vào thế kỷ XIV cháu vua Xuyên Đông nước Lào là Phạ Ngừm , đã mang Phật Giáo tiểu thừa từ Kampuchia vào phát triển tại Lào,dựng chùa, in kinh Phật và trở thành quốc giáo của nước này. Vua Duy Tô thuộc vương triều Duy Tô Nạp Lạp ( 1520-1550) đã dựng chùa Duy Tô cực kỳ to lớn, dịch Tam Tạng kinh từ Phạn ngữ sang tiếng Lào. Vua Tất Đạt Lạp đã dựng Tháp Đại Xá Lợi hùng vĩ, hình vuông với phong cách độc đáo đặc sắc nổi tiếng trên thế giới. Phật Giáo Lào gồm ba hệ phái Đại Bộ và Pháp Tương Ứng (PG tiểu thừa) và Phật Giáo đại thừa của Hoa Kiều-Việt Kiều sống tại đây.

NAM DƯƠNG : Tình hình Phật Giáo tại đây không có tài liệu ghi chép rõ ràng,đại ý là vào đầu thế kỷ V STL, Sumatra và Java sùng bái Bà La Môn, còn đạo Phật rất yếu kém. Từ năm 424 , Phật giáo đại thừa nhờ sự công nhận của Hoàng gia, nên bắt đầu phát triển mạnh qua ảnh hưởng của các tăng nhân Ấn Độ và Trung Hoa. Từ thế kỷ thứ V về sau, Phật Giáo Nam Dương tại Sumatra, Java, Bali.. là sự pha trộn giữa Đại Thừa,Tiểu Thừa và tín ngưỡng địa phương. Theo ghi chép trong "Nam Hải Ký Quy Truyện" của cao tăng Trung Quốc là Nghĩa Tịnh, tác phẩm vừa được các nhà khảo cổ tìm thấy và xác nhận giá trị, thì nói chung sau thế kỷ thứ VII, trên các đảo tại Nam Dương, Phật Giáo tiểu thừa chiếm đa số thuộc hệ phái Nhất Thiết Hữu Bộ và Chính Lương Bộ) và thiểu số theo PG.Đại Thừa. Thế kỷ thứ VIII Phật Giáo từ vương quốc Srivijaya ở Sumatra truyền vào bán đảo Mã Lai, trong khi đó vương triều Xailendra ở trung bộ Java, phát triển Phật Giáo Mật Tông , do PD Đại Thừa và Bà La Môn kết hơp. Thánh tích hiện nay của Phật Giáo này là ngôi đền lớn Borobudu tại Java, được coi như một trong những kỳ quan của thế giới hiện nay. Cũng theo tài liệu của Cao Tăng Nghĩa Tịnh dẫn trên, chính Phật Giáo Mật Tông tại Trung Bộ Java đã theo đường biển vào bành trướng tại Vương quốc Chiêm Thành trong thời gian này. Từ thế kỷ thứ XV, Hồi Giáo truyền vào Nam Dương, Phật Giáo gần như bị tàn lụn và diệt vong tại đây nhưng sau Thế chiến II,Phật Giáo lại được trung hưng , nhất là ở đảo Java, nơi có nhiều Hoa Kiều sinh sống, hiện có trên 600 ngôi chùa với hơn 3 triệu tín đồ Phật Giáo Dại Thừa và Tiểu Thừa.

TRUNG Á-ĐÔNG Á : Phật Giáo từ Ấn Độ truyền sang các nưóc Trung và Bắc Á chủ yếu bằng đường bộ, ngã thứ nhất từ vùng tây bắc vào miền Trung A Phú Hản, vượt cao nguyên Pamia vào Tân Cương, Hà Tây tới các kinh đô Trường An, Lạc Dương rồi từ đó bành trướng sang Cao Ly,Nhật Bản, Việt Nam. Đường thứ hai từ Ấn Độ tới Nepal, Tây Tạng, Mông Cổ và các tiểu quốc vùng Tây Bá Lợi Á.

TRUNG QUỐC : Phật Giáo vào Trung Hoa khoảng thế kỷ thứ I STL, đầu thời Đông Hán và phát triển cũng như trở thành tôn giáo đại chúng vào các thời Nam-Bắc Triều. Thời Tùy-Đường , Phật Giáo đã hoàn thành nhiều tông phái và các học phái lớn có ảnh hưởng tới văn minh Trung Quốc.Thời Tống-Minh , Phật Giáo có xu hướng dung hòa với Nho-Lão, ngoại trừ hai tông phái Thiền Tộng và Tịnh Độ Tông. Thời nhà Thanh, Phật Giáo cố gắng cải cách cho hợp với sự phát triển của xã hội nhưng rồi bị khựng lại kể từ nắm 1949 khi Trung Cộng áp đặt chủ nghĩa vô thần trên khắp đất nước này.

TRIỀU TIÊN : Trước thế kỷ thứ X STL,bán đảo Triều Tiên gồm ba nưóc Cao Ly,Bách Tế và Tân La. Theo đó đạo Phật cũng truyền vào xứ này vào các tời kỳ khác nhau, Cao Ly năm 372 STL, nước Bách Tế năm 384 và Tân La vào thời kỳ vua Nột Kỳ (417-418).Năm 936 Vương Kiến thống nhất bán đảo Triều Tiên ,lập vương triều Cao Ly, dựng lên nhiều chùa chiền khắp nơi trong nước và ban hành " Huấn yếu thập điều ", khôi phục lại Phật Giáo bị suy yếu vì chiến tranh .Từ đó về sau, tuy Cao Ly tôn Nho như Trung Quốc, nhưng vẫn phù trợ Phật Giáo, bảo trì Ngũ Giáo-Cửu Sơn, cho tới đời Nghĩa Thiên (1009-1101) lại xướng xuất Giáo Thiền Nhất Trí, dựng Thiên Đài Tông, thay Ngũ giáo Cửu Sơn thành Ngũ giáo Lưỡng Tông, Điều quan trọng trong Phật Giáo Cao Ly là xuất bản được kinh Đại Tạng bằng tiếng Triều Tiên, tổng cộng 5024 quyển vào thời vua vua Hiển Tông,Tuyên Tông (1021-1087)., năm 1251 tu chính sau khi bị quân Mông Cổ cướp phá, tăng số kinh lên tới 6558 quyển, ngoài ra còn có 5448 quyển Tục Tạng Kinh.. Từ năm 1392 về sau, các đời vua Triều Tiên Lý Thị sùng Nho phế Phật, giảm chùa, bắt sa môn hoàn tục, thậm chí vua Yến Sơn Quân (1495-1506) còn làm nhục Phật Giáo thậm tệ bằng cách lấy nhiều chùa chiền trong nước, biến thành kỹ viện. Đời Tuyên Tổ ( 1567-1607), nhờ tăng lữ và các tín đồ Phật Giáo đồng tâm với quân đội, diệt ngoại xâm Nhật Bổn nên Phật Giáo được phục hưng nhưng chỉ một thời gian ngắn , rồi lại bị cấm chỉ không còn gượng dậy được từ năm 1660 trở về sau. Chiến tranh Thế giới thứ 2 chấm dứt, Triều Tiên độc lập và Phật Giáo cũng được phục hưng. Theo thống kê năm 1970, Nam Hàn có tới 18 tông phái, 2300 ngôi chùa và hơn 5 triệu tín đồ.

NHẬT BỔN: Nói chung Phật Giáo chính thức truyền vào nước này thời Khâm Minh Thiên Hoàng thứ 13 (552) và được Bộ Tộc Tô Ngã đang nắm quyền hành, ủng hộ nên phát triển rực rở. Năm 645 bùng nổ phong trào đại hoá canh tân, triều đình ban bố chiếu thư công nhận Phật Giáo làm quốc giáo, bổ nhiệm Thập Sư, thiết lập Pháp đầu, cấp đất đai xây cất chùa chiền nên đến thế kỷ thứ VII toàn quốc có tới 540 ngôi chùa . Năm 710 , Nhật thiên đô về Nại Lương, dựng lên bảy ngôi đại tự nổi tiếng, hoàn thành Nam Đô Lục Tông. Từ năm 1192-1603 là thời kỳ hổn loạn chính trị tại Nhật nên cũng đã làm thay đổi Phật Giáo tại đây, với sự hình thành của Tịnh Thổ Chân Tông và Nhật Liên Tông có hình thức dân tộc.. Tịnh thổ chân tông đặt niềm tin nơi Phật A Di Đà,đề xuất thuyết Ác Nhân Chính Cơ, cho phép nhà sư ăn thịt lấy vợ, nghi thức đơn giản, giới luật khoan dung , nên thu hút nhiều tín đồ nhất, hiện có tới 15 triệu tín đồ, 15 phái nhưng quan trọng nhất là hai phái Bản Nguyên và Đại Cốc.. Riêng Thiền Tông từ Trung Quốc cũng truyền vào Nhật , qua hái phái Lâm Tế và Tào Động, từ thế kỷ thứ XII. Năm 1889 thời Minh Trị Thiên Hoàng, ban bố hiến pháp và tự do tín ngưỡng , Phật Giáo nhờ đó cũng phục hưng hợp pháp , hiện Nhật có hơn 80 triệu tín đồ.

VIỆT NAM: Theo sử liệu, Phật Giáo từ Trung Quốc truyền vào VN từ thế kỷ thừ II STL, và phát triển mạnh từ khi dành được độc lập từ năm 939 thời nhà Ngô và trở thành quốc giáo qua các nhà Đinh,Tiền Lê,Hậu Lý,Trần và mất dần uy thế từ nhà Hậu Lê trong thế kỷ thứ XV, khi Nho được tôn làm quốc giáo. Tóm lại Phật Giáo đại thừa khi vào VN đã dung hợp với các tín ngưỡng địa phương, trở thành những nét đặc trưng. Hiện cả nước có hơn 30 triệu người theo PG đại thừa, đó là chưa kể một số lớn theo đạo thờ cúng ông bà, thờ Phật..Tại Nam Phần có chừng 4 triệu người , phần lớn là Việt gốc Khmer theo PG tiểu thừa, với các tông phái như PG nguyên thủy (Theravada-Tiểu thừa), Cổ truyền,Hoa Tông và Tịnh Độ tông. Riêng Thiền Phái gồm Thảo Đường, Trúc Lâm (Do vua Trần nhân Tôn sáng lập), Tào Động,Liên Tôn,Lâm Tế và Liễu Quán.

NEPAL : Là quê hương của Phật Tổ, nên sau khi đắc đạo Ngài đã cùng đệ tử về đây truyền bá đạo Phật. Mấy thế kỷ đầu sau TL, Phật Giáo tiểu thừa thịnh hành.. Thế kỷ thứ IV, Phật Giáo đại thừa phát triền và trở nên hoàng kim vào thế kỷ thứ VII. Năm 633 Huyền Trang khi thỉnh kinh Tây Vức, ghé thăm Nepal và viết Đại Đường Tây Vực Ký. Từ thế kỷ thứ XI-XIII Hổi giáo xấm chiếm bán đảo Ấn Độ, các tín đồ PG vùng Bắc Ấn,Bangadesh đem kinh điển và bảo vật chạy sang Nepal, nhờ đó được bảo tồn tới ngày nay. Hiện Ấn giáo chiếm đa số tại đây nhưng PG tiểu thừa vẫn có nhiều tín đồ.

MÔNG-TẠNG : Đạo Phật truyền vào Mông Tạng khoảng thế kỷ thứ VII STL, vào thời Quốc Vương Tán Phổ Tùng Tán, do ảnh hưởng của hai người vợ là công chúa Văn Thánh của Đại Đường và công chúa Nepalicodi, khi xuất giá đã mang theo nhiều kinh Phật vào Tây Tạng.và phát triển manh từ thế kỷ thứ X gọi là Lạt Ma Giáo. Đạo này truyền vào Mông Cổ từ thé kỷ XIII, thời Thành Cát Tư Hãn và ngày nay trở thành quốc giáo của hai dân tộc.

TẠI ÂU-MỸ : Lịch sử Phật Giáo tại các nước Âu Mỹ có hơn 150 năm nhưng sự hiểu biết của người Tây Phương thì rất sớm, từ thời Alexandre vào năm 328 TrTL, hiện nay ở các nước thuộc LX củ có 500.000 tín đồ, Châu Mỹ La Tinh gần 1 triệu, Bắc Mỹ trên 5 triệu, Châu Âu 3 triệu, Châu Úc và Châu Phi chừng 1 triệu tín đồ.

3-PHẬT GIÁO CHIÊM THÀNH :
Vào giữa thế kỷ thứ VIII, miền bắc Chiêm Thành có nhiều biến động, nên nước này đã thiên đô về tận miền Nam, xây dựng vương triều Panduranga ở Khánh Hòa và Phan Rang, kéo dài hơn 1 thế kỷ với 6 đời vua và xây dựng thánh địa Pônagar, còn gọi là Tháp Bà, thờ các vị thần Bà La Môn. Từ giữa thế kỷ thứ IX, trung tâm cuả Chiêm Thành lại chuyển về miền Bắc, để tránh sự xâm chiếm của Chân Lạp, lúc đó là một cường quốc rộng lớn, bao gồm nước Phù Nam , tức là vùng Thủy Chân Lạp . Đây là vương triều Đồng Dương hay là Indrapura, tồn tại từ giữa thế kỷ thứ IX cho đến cuối thế kỷ thứ X,gồm 9 đời vua. Theo thư tịch Trung Quốc, từ đây người Chàm gọi nước họ là Chiêm Thành, do phiên âm từ phạn ngữ Champapuru. Kinh đô của Vương triều này đóng tại Đồng Dương, nằm trên một nhánh sông Thu Bồn, gọi là Ly Ly, cách kinh đô Trà Kiệu cũ chừng 15 km, về phía đông nam. Theo nghĩa của tiếng Chàm, thì Indrapura là chiếu đầy hào quang. Đặc điểm của vương triều này trong dòng lịch sử Chiêm Quốc là Phật Giáo đại thừa được phát triển thành quốc giáo, trong khi đạo Bà La Môn dù bị thất thế, vẫn không bị bài xích.Các sử gia đã gọi vương triều Đồng Dương là vương triều của Phật Giáo. Sau này qua nhiều lần khai quật, đã tìm thấy nhiều tượng Phật bằng đồng rất nổi tiếng cùng nhiều bia ký trong đó nói tới giáo lý của đạo Phật như sinh,tử,lão,bệnh, luân hồi,niết bàn và công xã tăng ni. Khác với Mỹ Sơn và Trà Kiệu trước đây đã phân chia rõ ràng chốn thờ phụng thần thánh tôn nghiêm và nơi đế kinh phồn hoa đô hội, trái lại Đồng Dương là nơi tập hợp cả cung điện và đền chùa, hiện còn tìm thấy gần 30 công trình kiến trúc, ngoài một số lớn chùa thờ Phật, còn có cả tháp thờ thần Bà La Môn.

Phật viện Đồng Dương đánh dấu thời kỳ hưng thịnh của Phật Giáo Chiêm Thành.Sau đó ,khi Phật giáo trở nên tàn lụn vì người Chàm lại thiên đô về Chà Bàn và tôn sùng đao Bà La Môn trở lại, thì cũng gần đó, Trung Phường lại được tạo dựng để thay thế Đồng Dương và rất may mắn cho ngôi đền cổ , còn tồn tại tới nay do sự bảo quản cuả người Việt. Trung Phường nay thuộc xã Duy Hải, quận Duy Xuyên, Tỉnh Quảng Nam, nằm kế cửa Đại là nơi sông Thu Bồn và các phụ lưu gặp nhau, để chảy ra biển đông. Đây là một thương cảng chính của Chiêm Thành, trên con đường tơ lụa biển của tàu thuyền từ Ấn Độ, Mã Lai, Sumatra, Java tới Trung Hoa, Nhật Bổn, điểm bắt buộc phải ghé khi đi qua chính là Trung Phường. Cửa này hiện đã bị lấp nhưng nhiều di tích vật dụng như neo,gạnh, ván thuyền còn đầy rẫy trong bầu. Khó có thể biết đích xác chùa Trung Phường đưọc dựng năm nào, nhưng căn cứ vào lịch sữ phát triển đạo Phật Chiêm Thành trên vùng đất thuộc châu Amaravati, thì chùa xây vào thời Indrapura,do vua Indravarman II sáng lập. Theo sữ liệu còn lưu trữ tại Chùa Phươc Hải, tên mới của Trung Phường thì lối kiến trúc của ngôi chùa này, cũng giống các chùa tháp tại Phật viện Đồng Dương, có kích thước rất lớn, dài 32m,rộng 28m, xây bằng gạch Chàm không dùng hồ vựa, tường dày 0,60m với nhiều trụ .Riêng về mái chùa, đầu tiên được khép kín bằng lối xây gạch hình tháp,nhưng khi người Việt tới tiếp quản, thì phá bỏ và lợp ngói. Theo một nhật ký mới tìm thấy năm 1959, cho thấy người Việt đã trùng tu chùa Trung Phường rất sớm,dùng vôi tô trét hai mặt tường , tạo nên một kiến trúc mới, che lấp bản sắc cốt lõi Chàm.Riêng lần trùng tu cuối cùng là năm Cảnh Hưng nguyên niên, tiếc thay chùa đã bị hũy hoại vì bom đạn năm 1969. Vì ngôi chùa nằm trên một thương cảng sầm uất lúc đó,nên có rất nhiều khách thập phương từ nhiều nước lui tới và họ đã tặng cho nhà chùa rất nhều tậng vật , đáng kể là các tượng Phật. Theo tư liệu, thì trước năm 1945, trong chùa có tới 350 tượng, gồm 28 tượng đồng,80 tượng gổ và 282 tượng đất., trong số này phần lớn ø tượng Phật nguyên gốc là của người Chàm. Trong số này, quý giá nhất là một pho tượng Phật đúc bằng chì màu đen thẳm, mà theo các nhà khảo cổ có niên đại cùng với các pho tượng Phật tại Phật viện Đồng Dương. Ngoài ra còn co ùhai tượng bằng đá cẩm thạch được phát tạc hết sức đơn sơ, mang tính tượng hình cách điệu của nghệ thuật Chàm,nên không nhận rõ là vị thần thánh nào. Ngoài ra còn phải kể tới nhiều tượng bằng gốm cũng của người Chàm tạo ra,rỗng ruột, xương gốm mãnh nhưng chắc, nhẹ .Tóm lại đây là ngôi chùa thờ Phật cổ nhất tại miền Trung còn sót lại, vừa làø di tích, vừa là chứng tích cuả Phật Giào Đại Thừa duy nhất trong dòng lịch sử Chiêm Thành.
Con người sinh ra ai cũng phải chết vì cõi thế vốn vô thường, kể cả cỏ cây sắt đá. Nhớ lại một thoáng lịch sử, bổng thấy như mình đang đứng trên một vùng đất Đồng Dương,Trung Phường nào đó của thời xa lắc, bên tai âm hưởng cảnh rộn rịp trên bến dưới thuyền và tiếng chuông chùa ngân nga mời gọi thế nhân , bước vào cõi mênh mông biển dâu, buồn ơi là buồn ./-
cuối đông 2002
HỒ ĐINH

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Lời dịch giả: Đây là bức tâm thư của cựu tổng thống George W. Bush gởi người dân Mỹ trong lúc cả nước đang sôi sục sau cái chết của George Floyd.
NYC với mình như căn nhà thứ hai, thế mà đã hơn một năm rồi mới lên lại. Thường thì hay lên mùa Giáng Sinh, hay Tháng Hai mùa đông để coi tuyết ở Central Park, và tháng Mười Một để coi lá vàng. Lần nầy chỉ mới tháng ba, nhưng có lý do
Xúc động với kỷ niệm. Thơ và nhạc đã nâng cảm xúc về những cái đẹp mong manh trong đời... Đêm Nhạc Người Về Như Bụi, và buổi ra mắt Tuyển Tập 39 Văn Nghệ Sĩ Tưởng Nhớ Du Tử Lê đã hoàn mãn hôm Thứ Ba 14/1/2019.
chiều rớt/xanh/ lưỡi dao, tôi khứng! chờ ... mưa tới. Hai câu cuối trong bài “chiều rớt/xanh/lưỡi dao” anh viết cuối tháng 9/2019 như một lời giã biệt. Và, cơn mưa chiều 7.10.2019 đã tới, anh thay áo mới chân bước thảnh thơi trở về quê cũ. Xin từ biệt anh: Du Tử Lê!
trong nhiều năm qua, lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng trưởng ở mức hai con số, nhưng tỷ lệ quay trở lại thấp (chỉ từ 10% đến 40%) . Chi tiêu của khách du lịch quốc tế tại Việt Nam không cao
Theo bảng xếp hạng chỉ số cảm nhận tham nhũng của Tổ Chức Minh Bạch Quốc Tế năm 2018, Việt Nam đứng hạng 117/ 180 với mức điểm 33/100. Bao giờ mà chế độ hiện hành vẫn còn tồn tại thì “nạn nhũng nhiễu lạm thu” sẽ vẫn còn được bao che và dung dưỡng khắp nơi, chứ chả riêng chi ở Bộ Ngoại Giao
Chính phủ Hoa Kỳ đã hứa tài trợ 300 triệu đô la để làm sạch môi trường bị nhiễm chất độc da cam của phi trường Biên Hòa và hôm 5 tháng 12 là bắt đầu thực hiện việc tẩy rừa tại khu vực này, theo bản tin hôm 6 tháng 12 của báo Tuổi Trẻ Online cho biết như sau.
Hơn 1.000 người có thể đã bị giết bởi lực lượng an ninh ở Iran trong các cuộc biểu tình gần đây, theo một quan chức cấp cao của bộ ngoại giao cho biết hôm Thứ Năm
Bốn người được báo cáo đã bị giết chết hôm Thứ Năm sau một vụ cảnh sát rượt đuổi qua nhiều quận đã kết thúc trong trận đấu súng trên đường Miramar Parkway theo sau một tên cướp có vũ khí tại Coral Gables, tiểu bang Florida.
Mỗi năm lên tuổi già đi, tưởng đâu đã được an nhàn, nào ngờ đảng Cộng sản Việt Nam vẫn phải tối mắt đấu tranh để tồn tại vì các chứng nan y: Suy thoái tư tưởng; Đạo đức xuống cấp; Tham nhũng; và, Lợi ích nhóm trong trong cán bộ,đảng viên.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.
Người Việt Phone
Không còn nghi ngờ gì nữa, khẩu trang đã đóng một vai trò trung tâm trong các chiến lược đối đầu với dịch bệnh COVID-19 của chúng ta. Nó không chỉ giúp ngăn ngừa SARS-CoV-2 mà còn nhiều loại virus và vi khuẩn khác.
Hôm thứ Hai (06/07/2020), chính quyền Mỹ thông báo sinh viên quốc tế sẽ không được phép ở lại nếu trường chỉ tổ chức học online vào học kỳ mùa thu.
Đeo khẩu trang đã trở thành một vấn đề đặc biệt nóng bỏng ở Mỹ, nơi mà cuộc khủng hoảng Covid-19 dường như đã vượt khỏi tầm kiểm soát.
Trong khi thế giới đang đổ dồn tập trung vào những căng thẳng giữa Mỹ với Trung Quốc, thì căng thẳng tại khu vực biên giới Himalaya giữa Trung Quốc và Ấn Độ vào tháng 05/2020 đã gây ra nhiều thương vong nhất trong hơn 50 năm.
Ủy ban Tư pháp Hạ viện Mỹ cho biết các CEO của 4 tập đoàn công nghệ lớn Amazon, Apple, Facebook và Google đã đồng ý trả lời chất vấn từ các nghị sĩ Quốc hội về vấn đề cạnh tranh trong ngành công nghệ.