Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Quân Bình Ngoại Hối: Bán Công Khố Phiếu Mỹ

15/02/201700:00:00(Xem: 5514)

...thị trường Công khố phiếu đó của Hoa Kỳ trị giá gần 14 ngàn tỷ đô la...

Từ một tháng nay, một số quốc gia, đứng đầu là Trung Quốc và Nhật Bản, đã bán ra Công khố phiếu của Hoa Kỳ khiến nhiều người lo ngại là các chủ nợ không muốn cho nước Mỹ vay tiền nữa và hậu quả có thể là những biến động về ngoại hối, với Mỹ kim sẽ lại lên giá. Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu sự kiện này.

Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do và Nguyên Lam xin kính chào chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa. Thưa ông, sau khi Hoa Kỳ có lãnh đạo mới với vị Tổng thống thứ 45 là ông Donald Trump thì trong tháng qua các thị trường tài chính thế giới bỗng chú ý đến việc nhiều quốc gia lặng lẽ bán số Công khố phiếu Mỹ mà họ đã mua vào từ trước. Tại sao lại có hiện tượng này, phải chăng là các quốc gia chủ nợ không cho nước Mỹ vay tiền nữa, và liệu rằng thế giới có gặp những động ngoại hối hay chăng?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Nhiều người cho rằng các quốc gia xưa nay vẫn đầu tư vào thị trường Công khố phiếu Hoa Kỳ thấy không yên tâm về chính sách kinh tế mới của Chính quyền Donald Trump nên mới bán tháo tài sản đã mua của Mỹ. Tôi lại nghĩ khác và xin giải thích một chút.

- Thứ nhất, từ Tháng 11 vừa qua, quốc gia chủ nợ số một của Hoa Kỳ là Nhật Bản chứ hết là Trung Quốc vì Nhật đang làm chủ khoảng một ngàn 100 tỷ đô la Công khố phiếu Mỹ so với một ngàn tỷ trong tay Trung Quốc. Thứ hai, thị trường Công khố phiếu đó của Hoa Kỳ trị giá gần 14 ngàn tỷ đô la thì có gần sáu ngàn tỷ là trong tay nước ngoài, tức là ngoại quốc làm chủ khoảng 43% số công trái chính thức của Hoa Kỳ, nếu họ có bán ra vài chục vài trăm tỷ đô la trong số nợ này thì cũng không là điều đáng ngại. Thứ ba, Trung Quốc bán ra nhiều nhất vì lý do nội tại của họ chứ không vì thiếu tín nhiệm vào chính sách kinh tế của Chính quyền Trump. Thứ tư, nếu có nước bán ra thì cũng lại có nước mua vào và chính là giới đầu tư Hoa Kỳ cũng mua lại nên sự tình không nguy ngập như người ta báo động. Sau cùng chiều hướng bán Công khố phiếu Mỹ cũng chỉ là chuyện bình thường khi Hoa Kỳ và các nước đang có thay đổi lớn để tiến tới một thế quân bình ngoại hối khác.

Nguyên Lam: Thưa ông, chúng ta có thể đi lại từ đầu là sự kiện đáng chú ý tại Á châu, kể cả Việt Nam, là các ngân hàng Á châu, đứng đầu là Trung Quốc và Nhật Bản, lại giữ một khối dự trữ rất lớn bằng Đô la Mỹ, nhất là dưới dạng Công khố phiếu, là nợ chính thức của nhà nước Hoa Kỳ. Vì sao lại có hiện tượng ấy và hậu quả sẽ ra sao khi người ta bán ra các tài sản ấy?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Trước hết, tôi xin được nói là chúng ta đã chứng kiến một hiện tượng tôi gọi là “phân công lao động” trong ngoặc kép, giữa một bên là Á châu có sức tiết kiệm cao, cứ thắt lưng buộc bụng xuất khẩu tối đa vào Mỹ, và bên kia là Hoa Kỳ, có mức tiêu thụ quá lớn, cả tư nhân lẫn chính quyền, và rộng rãi mua hàng Á châu. Kết quả là Mỹ bị nhập siêu, các nước Á châu được xuất siêu và có dự trữ lớn bằng đô la. Thế thì họ dùng Mỹ kim đó làm gì? Họ đầu tư lại vào Hoa Kỳ, chủ yếu dưới hình thức Công khố phiếu. Kỳ trước, ta đã có dịp nhắc đến khái niệm kế toán tài chính là một nước bị nhập siêu về thương mại thì cũng nhập khẩu luôn tư bản của xứ khác. Hoa Kỳ tiếp nhận đầu tư của các nước trong ý hướng đó.

Nguyên Lam: Nhưng thưa ông, vì sao lại có cái thế phân công kỳ lạ đó?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chiều hướng phân công ấy đang chấm dứt và có khi ta trở lại một thế quân bình khác khi Hoa Kỳ không muốn bị nhập siêu nữa và điều ấy sẽ ảnh hưởng đến thị trường ngoại hối trong tương lai. Còn về cái thế tôi tạm gọi là “phân công lao động” này thì nguyên do sâu xa thuộc diện văn hóa và xã hội, khiến dân chúng Á châu luôn luôn có phản ứng tiết kiệm, bình quân có thể lên tới 30% số thu nhập, thậm chí còn cao hơn vậy tại Trung Quốc. Bất ổn xã hội, loạn lạc hay cả nỗi lo thất nghiệp có thể giải thích điều đó. Ngược lại, cũng thuộc diện văn hóa, thì dân Mỹ vốn lạc quan với tương lai nên ưa xài trước kiếm sau cho tới nay mới nghĩ lại. Hiện tượng ấy thực ra mới chỉ có chừng một thế kỷ thôi. Vào giữa thế kỷ 19, chính Nhật đã học kinh nghiệm và thói quen tiết kiệm của dân Mỹ để phát triển ra mạng lưới tiết kiệm rộng lớn mà họ có ngày nay. Nguyên nhân gần hơn là cuộc khủng hoảng kinh tế Đông Á vào các năm 1997-1998 khiến các nước Á Châu cần thuyết phục thị trường về nền móng tài chính ổn định bằng cách tích lũy một khối dự trữ ngoại tệ rất lớn. Gần hơn nữa thì có một lý do là từ năm 2001, Mỹ liên tục cắt giảm lãi suất để kích thích tiêu thụ và đối phó với bất ổn kinh tế xảy ra vì nạn khủng bố năm đó, trong khi các nước Đông Á lại bị suy trầm kinh tế. Sau cùng thì có nạn Tổng suy trầm năm 2008-2009 với hậu quả bất lợi cho tới nay vẫn chưa dứt.

- Có một lượng dự trữ lớn lao nằm dư dôi trong kho bạc thì không có lời, vì vậy, người ta mới lấy một phần dự trữ này đầu tư vào nơi an toàn và có lời nhất: đây là lý do mà họ giữ một tỷ lệ Mỹ kim rất cao trong khối dự trữ và đầu tư lại vào thị trường tài chính Mỹ. Kết quả là Á châu thắt lưng buộc bụng bán hàng cho Mỹ, thu hút đầu tư từ bên ngoài và lấy được tiền Mỹ thì lại gửi ngược vào thị trường Mỹ để tài trợ số thâm hụt thương mại của Mỹ. Trong câu hỏi nêu lên, ta cần phân biệt các ngân hàng thương mại với ngân hàng trung ương và phân biệt cả việc mua Công khố phiếu lẫn đầu tư vào Mỹ. Vì Trung Quốc chưa có chế độ tự do hối đoái nên vấn đề ta đang nói tập trung trước hết vào chính sách của ngân hàng trung ương, vào khối dự trữ ngoại tệ của Bắc Kinh.


Nguyên Lam: Thưa ông, tại sao các nước đó không giữ khối dự trữ dưới dạng khác, như vàng hoặc các ngoại tệ mạnh, như đồng Euro, đồng Bảng Anh, đồng Phật lăng Thụy Sĩ chẳng hạn?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Yếu tố quyết định ở đây là rủi ro và lời lãi. Tài sản mà mình lưu trữ phải an toàn, có lời và không bị mất giá vì loạn lạc hay lạm phát chẳng hạn. Với bất ổn vì chiến tranh và khủng bố, hay khủng hoảng tài chính trong khối Euro của Âu Châu từ năm 2010 thì Hoa Kỳ vẫn là thị trường có triển vọng sinh lời cao và an toàn vì có cơ chế kinh tế tự do và luật lệ minh bạch. Ngoài ra, thị trường tài chính Mỹ có kích thước lớn nhất nên thừa khả năng chịu đựng những lượng tư bản cả trăm tỷ có thể rút ra hay trút vào, các thị trường kia không được như vậy. Sau cùng, Mỹ kim còn là phương tiện giao hoán phổ biến và lưu hoạt nhất vì được dùng để thanh toán các dịch vụ mua bán. Thí dụ như các thị trường dầu khí đều mua bán và yết giá bằng đô la Mỹ.

Nguyên Lam: Thưa ông, phải chăng Hoa Kỳ đã khai thác tình trạng ấy qua chính sách bội chi và phát hành công trái để thu hút đô la về Mỹ và nay đang đòi thay đổi, hết muốn bị nhập siêu và đang tìm cách quân bình lại ngân sách?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ rằng quan hệ kinh tế của thế giới và của riêng Hoa Kỳ quá sức phức tạp để một chính quyền hay một ngân hàng trung ương có thể chủ động đặt ra một chính sách theo hướng này hay hướng khác cho toàn thế giới, thí dụ như cố tình thu hút đô la về Mỹ. Thực tế thì nước Mỹ để cho quy luật cung cầu tác động. Khi bị nhập siêu quá lớn và bội chi quá nhiều thì tiền Mỹ phải sụt giá như đã từng bị. Nhưng ngày nay, tình hình kinh tế Mỹ đã khả quan hơn cả và lạm phát đang là mối quan tâm mới nên lãi suất tại Hoa Kỳ có thể tăng trong khi Chính quyền Trump lại sợ Mỹ kim lên giá sẽ gây bất lợi cho xuất khẩu. Trong tình trạng bất định giữa buổi giao thời này, người ta dễ có phản ứng hốt hoảng làm thị trường càng dễ biến động.

Nguyên Lam: Nếu như Hoa Kỳ không muốn bị nhập siêu nặng và Mỹ kim quá cao giá so với các ngoại tệ khác như ông Trump đã phát biểu thì có lúc nào mà các nước Á châu sẽ bán đô la để mua lại nội tệ của họ không, và lúc đó tình hình sẽ ra sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thật ra, trường hợp này khá hãn hữu. Từ gần 40 năm nay mới chỉ có hai lần mà các ngân hàng trung ương bán tháo công khố phiếu Mỹ. Lần đầu là năm 1979 khi vật giá Mỹ gia tăng và Mỹ đổi chính sách tiền tệ bằng cách thả nổi lãi suất và chỉ điều tiết khối tiền tệ lưu hành thôi; lần đó, các ngân hàng trung ương bán ra 22 tỷ đô la. Lần thứ hai là quãng 1999, khi Mỹ bớt phát hành trái phiếu và các ngân hàng trung ương e sợ rủi ro và tiền Mỹ mất tính lưu hoạt, họ bán ra năm tỷ đô la. Ngày nay, người ta đang sợ một đợt thứ ba, nhưng thật ra số lượng bán ra cũng chẳng nhiều so với 14 ngàn tỷ đô la Công khố phiếu. Nói về hậu quả thì về dài, có thể tiền Mỹ còn giảm đến 15%-20% so với các ngoại tệ khác thì mới gọi là cân bằng cung cầu nhưng ngược lại, cả lãi suất lẫn phân lời trái phiếu tại Mỹ sẽ tăng nếu Chính quyền Trump thực thi kế hoạch kinh tế đã hứa hẹn. Điều đáng ngại ở đây nằm trong lãnh vực khác, là hiện tượng đầu cơ tại các nước Đông Á, nhất là Trung Quốc.

Nguyên Lam: Thưa ông, vì sao lại có hiện tượng này và hậu quả sẽ ra sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thế giới từng đơn giản hóa coi Á châu như là nơi có lời, nên trút tiền đầu tư vào đấy. Ngày nay thì tình hình đảo ngược, nhất là tại Trung Quốc khi tư bản tẩu tán ra ngoài và dự trữ ngoại tệ của xứ này trị giá từ gần bốn ngàn tỷ đô la thì tháng qua đã sụt dưới cái ngưỡng tâm lý là ba ngàn tỷ. Việc Ngân hàng Trung ương Bắc Kinh bán ra Công khố phiếu Mỹ từ Tháng Năm đến nay không có nghĩa là họ bỏ phiếu bất tín nhiệm kinh tế Hoa Kỳ hoặc muốn trả đũa nước Mỹ vì những tranh chấp ngoại thương mà vì nguyên do nội tại của họ. Chưa kể là nếu bán quá nhiều quá nhanh thì tài sản ấy lại mất giá khiến họ càng lỗ nữa, chứ việc họ bán tháo Công khố phiếu Mỹ chẳng làm thị trường Mỹ bị náo động như người ta vẫn cứ sợ.

Nguyên Lam: Vì thời lượng có hạn, Nguyên Lâm xin ông kết luận cho về một vấn đề quá phức tạp này...

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Hoa Kỳ đang cần điều chỉnh lại tình hình chi tiêu của mình, từ ngân sách đến ngoại thương, đã đành như vậy cho nên việc Mỹ kim có thể tuột giá nằm trong tiến trình điều chỉnh đó. Ngược lại, Á châu cũng cần điều chỉnh lại chiến lược phát triển, không quá chú trọng đến xuất khẩu bằng mọi giá nữa, nhất là khi Mỹ đang muốn hạn chế nhập khẩu và gia tăng xuất khẩu. Cho nên các quốc gia đông dân hoặc có nền kinh tế lớn cần nâng cao khả năng tiêu thụ của thị trường nội địa, cải tiến môi trường đầu tư trong nước để có phương tiện phát triển. Tiền của mình giúp cho giới tiêu thụ Mỹ mua hàng rẻ thay vì giúp cho kinh tế và xã hội mình thăng tiến thì chẳng là điều hay. Các nước Đông Á, nhất là Trung Quốc và Việt Nam, đã quên bài học chua xót của Nhật Bản khi dồn sức xuất khẩu mà lãng quên thị trường nội địa và gặp lại hiện tượng bể bóng đầu tư như Nhật Bản đã bị từ năm 1991 cho đến nay. Bảo rằng mình là chủ nợ của Mỹ thì niềm tự ái đó cũng chỉ là tượng trưng. Khi khủng hoảng xảy ra, có đổ lỗi cho Hoa Kỳ hay giới đầu cơ ngoại tệ thì cũng thừa.

Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do và Nguyên Lam xin cảm tạ chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa về cuộc phỏng vấn này.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Bàn về kinh tế không thể không nhắc đến tiền. Tiền không mua được hạnh phúc nhưng không có tiền thì…đói. Tiền mang lại tự do (có tiền mua tiên) hay biến con người thành nô lệ đồng tiền. Con nít lên 3 đã biết tiền dùng để mua bánh kẹo, vậy mà các kinh tế gia giờ này vẫn không đồng ý chuyện tiền để làm chi!
Sau ngày 30/4/1975, nếu phe chiến thắng đã có những chính sách mang lại sự hoà giải quốc gia, đối xử nhân bản với bên thua trận, thay vì cải tạo học tập, càn quét và thiêu huỷ văn hoá miền Nam, đánh tư sản mại bản, thì đã không có hàng triệu người bỏ nước ra đi và người Việt sẽ chẳng mấy ai còn nhớ đến một đất nước của quá khứ, tuy chưa hoàn toàn tự do dân chủ nhưng so với Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thì người dân đã được tự do hơn bây giờ rất nhiều.
Tất nhiên phải “thành công” vì đảng một mình một chợ, không có ai cạnh tranh hay đòi chia phần. Nhưng việc đảng chọn cho dân bầu chỉ để tuyên truyền cho phương châm “ý đảng lòng dân”, trong khi người dân không có lựa chọn nào khác mà buộc phải đi bỏ phiếu để tránh bị làm khó trong cuộc sống.
Âm nhạc dễ đi vào lòng người, với hình bóng mẹ, qua lời ca và dòng nhạc, mỗi khi nghe, thấm vào tận đáy lòng. Trước năm 1975, có nhiều ca khúc viết về mẹ. Ở đây, tôi chỉ đề cập đến những ca khúc tiêu biểu, quen thuộc đã đi vào lòng người từ ngày sống trên quê hương và hơn bốn thập niên qua ở hải ngoại.
Những bà mẹ Việt xưa nay rất chơn chất thật thà, rất đơn sơ giản dị cả đời lo cho chồng con quên cả thân mình. Sử Việt nghìn năm đương đầu với giặc Tàu, trăm năm chống giặc Tây. Những bà mẹ Việt bao lần âm thầm gạt lệ tiễn chồng con ra trận, người đi rất ít quay về. Những bà mẹ âm thầm ôm nỗi đau, nỗi nhớ thương da diết.
Trước công luận, Eisenhower lập luận là cuộc chiến không còn nằm trong khuôn khổ chống thực dân mà mang một hình thức chiến tranh ủy nhiệm để chống phong trào Cộng Sản đang đe doạ khắp thế giới. Dân chúng cần nhận chân ra vấn đề bản chất của Việt Minh là Cộng Sản và chỉ nhân danh đấu tranh giành độc lập cho Việt Nam; quan trọng nhất là phải xem ông Hồ chí Minh là một cánh tay nối dài của Liên Xô. Đó là lý do cộng đồng quốc tế cần phải tiếp tục hỗ trợ cho Pháp chiến đấu.
Dù vẫn còn tại thế e Trúc Phương cũng không có cơ hội để dự buổi toạ đàm (“Sự Trở Lại Của Văn Học Đô Thị Miền Nam”) vào ngày 19 tháng 4 vừa qua. Ban Tổ Chức làm sao gửi thiệp mời đến một kẻ vô gia cư, sống ở đầu đường xó chợ được chớ? Mà lỡ có được ai quen biết nhắn tin về các buổi hội thảo (tọa đàm về văn học nghệ thuật miền Nam trước 1975) chăng nữa, chưa chắc ông Nguyễn Thế Kỷ – Chủ Tịch Hội Đồng Lý Luận, Phê Bình Văn Học, Nghệ Thuật – đã đồng ý cho phép Trúc Phương đến tham dự với đôi dép nhựa dưới chân. Tâm địa thì ác độc, lòng dạ thì hẹp hòi (chắc chỉ nhỏ như sợi chỉ hoặc cỡ cây tăm là hết cỡ) mà tính chuyện hoà hợp hay hoà giải thì hoà được với ai, và huề sao được chớ!
Lời người dịch: Trong bài này, Joseph S. Nye không đưa ra một kịch bản tồi tệ nhất khi Hoa Kỳ và Trung Quốc không còn kiềm chế lý trí trong việc giải quyết các tranh chấp hiện nay: chiến tranh nguyên tử có thể xảy ra cho nhân loại. Với 8000 đầu đạn hạt nhân của Nga, khoảng 270 của Trung Quốc, với 7000 của Mỹ, việc xung đột hai nước, nếu không có giải pháp, sẽ là nghiêm trọng hơn thời Chiến tranh Lạnh.
Kính thưa mẹ, Cứ mỗi tháng 5 về, nước Mỹ dành ngày Chủ Nhật của tuần đầu tiên làm Ngày của Mẹ (Mother's Day), ngày để tôn vinh tất cả những người Mẹ, những người đã mang nặng đẻ đau, suốt đời thầm lặng chịu thương, chịu khó và chịu khổ để nuôi những đứa con lớn khôn thành người.
Khoảng 4.500 người đã được phỏng vấn, trong đó có khoảng 700 người gốc Á. 49% những người được hỏi có nguồn gốc châu Á đã từng trải qua sự phân biệt chủng tộc trong đại dịch. Trong 62 phần trăm các trường hợp, đó là các cuộc tấn công bằng lời nói. Tuy nhiên, 11% cũng bị bạo hành thể xác (koerperliche Gewalt) như khạc nhổ, xô đẩy hoặc xịt (phun) thuốc khử trùng.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.