Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Nói Chuyện Về Dân Việt Tị Nạn Với Dân Biểu Stephanie Murphy

14/02/201700:00:00(Xem: 4209)

Hoàng Anh Tuấn
(Giáo sư Hoàng Anh Tuấn dạy sử và nhân văn tại trường Pepperdine University ở Nam Cali.)

Hôm chiều Chủ Nhật ngày 29 tháng 1 qua, tức mùng hai năm Đinh Dậu, tôi hân hạnh tham dự một buổi nói chuyện về lịch sử người Việt tị nạn tại đại học Rollins College nơi thành phố Orlando bên Florida. Buổi trình bầy này được tổ chức bởi giáo sư môn kịch Marianne DiQuattro. Ngoài việc dậy hai lớp về lịch sử kịch trong khóa này, giáo sư DiQuattro còn đạo diễn vở kịch có tên là A Piece of My Heart, dịch ra tiếng Việt là Một Mảnh Tim Tôi.

Vở kịch này được kịch giả Shirley Lauro soạn và ra đời năm 1988, đến giờ là một trong những kịch về chiến tranh Việt Nam thành công và được diễn nhiều nhất tại Hoa Kỳ. Kịch có hai màn, nói về sáu phụ nữ người Mỹ qua Việt Nam trong thập niên 1960. Bốn cô là y tá quân đội hay Hồng Thập Tự, một cô làm chuyên viên phân tích tình báo, và một cô ca sĩ đi hát giải trí cho lính Hoa Kỳ. Một trong sáu cô là người da đen, một cô người lai nửa trắng nửa Á châu, còn bốn cô kia người da trắng. Trong màn một, các cô lên đường qua Việt Nam vào lứa tuổi hai mươi, và còn công tác khi biến cố Tết Mậu Thân xảy ra. Còn màn hai thì diễn tả đời sống các cô sau khi trở về Hoa Kỳ.

Các đại học Mỹ thường có quỹ để mời các giáo sư, học giả, hay chuyên môn gia từ nơi khác đến giúp chương trình này hay tổ chức kia. Nhờ một quỹ tương tự của Rollins, giáo sư DiQuattro mời tôi đến trường hai ngày trong vai trò giáo sư thỉnh giảng ngắn hạn. Trong vai trò này, tôi có trách nhiệm ba việc khác nhau trong hai ngày tại Rollins: hướng dẫn thảo luận vở kịch này trong một lớp học; tham dự một buổi thảo luận cho các học sinh diễn viên của vở kịch; và trình bầy một giảng thuyết đến công chúng về chiến tranh và người tị nạn Việt Nam.

blank
Tác giả cùng dân biểu Murphy sau buổi nói chuyện, mặc áo có chữ R của Rollins College. Bên trái là cô Quỳnh Như của báo Trẻ Orlando, bên phải là cô Vi Ma từ văn phòng thương mại người Mỹ gốc Á Châu tại trung Florida. ~ pc Nhu Nguyen

Cũng vì ngẫu nhiên, đại học Rollins cũng là nơi mà bà dân biểu gốc Việt Stephanie Murphy từng dậy bán thời gian trước khi thắng cử hồi tháng mười một. Tên Việt của bà là Đặng Thị Ngọc Dung, khi qua Mỹ lấy tên Stephanie, rồi sau đó lấy chồng người da trắng ông Sean Murphy, nên bây giờ tên bà là Stephanie Murphy. (Cũng có lúc tên bà được ghi là Stephanie Dang Murphy.) Vừa vì chủ đề buổi nói chuyện phù hợp với dân biểu Murphy, vừa vì liên hệ của bà với đại học Rollins, nên tôi đề nghị với giáo sư DiQuattro mời bà đến tham dự. Dù bộn rộn với công việc mới tại Quốc Hội cũng như gia đình với hai con còn bé, dân biểu Murphy vui vẻ đồng ý đến tham dự buổi nói chuyện hôm đó.

Khi tôi bay vào Orlando sáng mùng hai tết, bầu trời âm u và mưa nhiều. Nhưng đến chiều thì trời hết mưa và ấm lại. Buổi nói chuyện được tổ chức tại rạp hát của đại học, một tòa nhà xây hơn tám mươi năm nên có lối cổ cổ. Có trên hai trăm người đến tham dự, kể cả hai đại diện cho tờ báo tiếng Việt tại cộng đồng Orlando. Có một số học sinh ở trường, nhưng đa số là người Mỹ trung niên trở lên. Chắc một phần vì cuộc đời họ gắn liền với chiến tranh Việt Nam, và một phần vì họ muốn nghe dân biểu Murphy nói chuyện.

Sau lời giới thiệu của giáo sư DiQuattro, tôi giảng thuyết chừng nửa tiếng về người tị nạn Việt Nam. Tôi mở đầu với câu chuyện trong truyền thuyết Hy Lạp và La Mã, về chiến tranh thần thoại giữa quân đội người gốc Hy Lạp và quân đội thành Troy. Theo truyền thuyết mấy ngàn năm này, thành Troy hùng dũng chống trả những tấn công của quân đội Hy Lạp. Còn người thành Troy thì gọi là Trojans trong tiếng Anh. Vì có tiếng anh hùng, nên một số trường tại Hoa Kỳ, như đại học USC tại Los Angeles, lấy Trojans làm tên biểu tượng cho trường mình.

blank
Buổi nói chuyện -- pc Nhu Nguyen.

Dù anh dũng chiến đấu, nhưng bị lừa nên cuối cùng thành Troy bị quân đội Hy Lạp tàn phá hoàn toàn. Dân chúng bị giết hại gần hết, chỉ có một số nhỏ đi thoát lên tầu lênh đênh qua những vùng khác. Nghe như thế, chắc độc giả thấy một hai điểm hao hao như lịch sử chế độ VNCH. Dù thời đại thế kỷ 20 khác xa truyền thuyết Hy Lạp, nhưng vẫn có lúc tâm trạng giống nhau vì thời đại nào cũng có chiến tranh và tàn phá.

Trong số người sống sót ra biển, có người anh hùng Aeneas. Mẹ anh đã chết chỉ còn cha già yếu, nên Aeneas bế ông ra tàu và chỉ đường cho con trai và vợ mình theo. Nhưng rủi ro là vợ anh không đi kịp nên chết trên con đường nạn. Truyền thuyết Aeneas bế cha chạy loạn rất quen thuộc trong văn hóa Tây Phương, nên nhiều họa sĩ từng vẽ tranh hay nắn tượng về câu chuyện này. Một thí dụ là tấm hình của Federico Baracci, họa sĩ người Ý vào thế kỷ thứ mười sáu. Hình cho thấy Aeneas vẫn còn mặc áo trận, bế cha cùng vợ con trong khi thành Troy đăng cháy và dân Trojan đang bị lích Hy Lạp giết hại đằng sau. Còn cha anh thì cầm tượng của hai ông thần nhà, nghĩa là ông mang đi một biểu hiện phù mạng thể hiện cho tổ tiên gia đình.

Người Mỹ quen thuộc với truyền thuyết Aeneas như người Việt biết chuyện Triệu Vân xông pha cứu A Đẩu con Lưu Bị trong Tam Quốc Chí. Nên người viết dùng câu chuyện Aeneas để thể hiện quan trọng của gia đình trong lịch sử người tị nạn Việt Nam. Người Việt tị nạn quá quen thuộc với chuyện gia đình xa cách, ly tán, phân ly. Khi đất nước chia đôi năm 1954, một số gia đình người Việt đã bị chia cắt rồi. Sau 1975, phần phân tán, chia ly cao hơn không biết mấy trăm phần trăm nữa. Có gia đình may mắn đi thoát trong tháng tư đen hay vượt biên trong những năm sau đó. Nhưng đại đa số người tị nạn bị phân tán và chia ly gia đình, thường là cha hay anh trai lớn đi trước, còn mẹ và các chị em gái thì sau này mới vượt biên hay qua nước ngoài theo diện đoàn tụ. Còn những gia đình ở Việt Nam mà có cha trong trại cải tạo thì đương nhiên là ly tán nhiều năm.


Ngoài chuyện xa cách gia đình, người viết nói về tinh thần quốc gia dân tộc của người Việt lớn lên trong chế độ VNCH. Tôi giải thích với khán giả là tinh thần quốc gia của người tị nạn khác với lối tinh thần dân tộc của Đảng Cộng Sản, nên người tị nạn thời 1975 cũng như sau đó thường nghi vấn và chống lại chế độ cộng sản. Những sự kiện sau 1975 như trại cải tạo, kinh tế mới, và chống tư sản tăng cao tinh thần chống cộng. Nhưng văn hóa dưới chế độ VNCH làm nền tảng cho tư tưởng quốc gia vô cộng sản rồi, chứ không phải sau 1975 mới có tư tưởng này.

Tóm lại là lịch sử người tị nạn Việt Nam tại Hoa Kỳ trong thời gian sau 1975 có hai mặt. Một mặt là gia đình phân tán chia ly; một mặt là tâm trạng người quốc gia yêu nước nhưng lúc đó lại mất đất nước thân yêu không cộng sản. Đây là hai khía cạnh cần sâu đậm nghiên cứu hơn về lịch sử hơn bốn mươi năm tị nạn và di dân.

Sau bài giảng thuyết của tôi, dân biểu Murphy đọc một bài ngắn hơn về kinh nghiệm tị nạn và lớn lên ở Hoa Kỳ của gia đình bà. Khi lên thuyền tị nạn năm 1979, bà chưa tới một tuổi. Sau một thời gian ở đảo tị nạn, gia đình đến vùng Virginia, nơi nhiều người Việt định cư sau biến cố tháng tư đen. Bà nói là cha mẹ bà rất quan trọng về học vấn cho các con, khuyết khích bà và anh trai cố gắng học đường vì nó là bước thang xã hội. Điều này không gì lạ với người Việt tị nạn và di dân.

Sau trung học, dân biểu Murphy học môn chính trị tại đại học William and Mary, cũng ở Virginia. Vì học tiếng Nhật, bà có qua Nhật một khóa học để củng cố ngôn ngữ. Dân biểu kể rằng vì ngôn ngữ Nhật còn sơ sài, bà mới hiểu được những lo âu hay bực bội của cha mẹ ngày xưa, không hiểu rõ tiếng Anh nên phải hỏi con mình, mà nó lại không rành tiếng Việt. Chắc nhiều độc giả lớn tuổi cũng hiểu được tâm trạng như cha mẹ dân biểu Murphy ngày xưa. Ngôn ngữ là một cản trở to lớn với người tị nạn lớn tuổi, chồng chất một lo âu trên những lo âu về chia cắt gia đình hay niềm đau mất nước lúc đó.

blank
Buổi nói chuyện -- pc Nhu Nguyen.

Sau biến cố ngày 11 tháng 9, dân biểu Murphy quyết định đi chuyên môn ngành an ninh quốc gia. Bà lấy bằng cao học về môn này tại đại học Georgetown ở Washington, DC, rồi nhận việc làm cho Bộ Quốc Phòng của chính phủ George W. Bush. Tới năm 2008 thì bà rời chính quyền và đi vào thương mại, điều hành cho hãng Sungate Capital tại khu vực Orlando có quận mang tên Cam y như Quận Cam bên nam Cali.

Dù dân biểu không nhắc trong bài đọc, chúng ta nên biết là trong thời gian này bà là thành viên của đảng Cộng Hòa, sau nay mới đổi qua đảng Dân Chủ. Nói về việc này, bà cũng hao hao như cựu dân biểu Loretta Sanchez tại Quận Cam ở nam Cali: lúc đầu là thành viên Cộng Hòa, đến giữa thập niên 1990 đổi qua Dân Chủ. Dù bà Murphy không có kinh nghiệm chính trị, đảng Dân Chủ tại trung Florida kêu gọi bà ra ứng cử năm ngoái.

Cũng như bà Sanchez hai mươi năm trước có đối thủ là một dân biểu kỳ cựu trong Hạ Nghị Viện, đối thủ của bà Murphy làm dân biểu Quốc Hội 24 năm. Nhưng hai bà đều thắng với một phần phiếu nhỏ. Rồi cũng như bà Sanchez, dân biểu Murphy là thành viên trong ủy ban Quân Đội của Hạ Nghị Viện vì bà có kinh nghiệm về quốc phòng. Còn ủy ban thứ hai của dân biểu là ủy ban Tiểu Thương, có thể vì bà có kinh nghiệm thương mại khi điều hành hãng Sungate Capital.

Một điều đặc biệt là trước khi phát biểu, dân biểu Murphy nói là buổi nói chuyện hôm này là về hàn lâm và lịch sử chứ không phải về chính trị bây giờ. Dù chống sắc lệnh hành pháp về di trú của tổng thống Trump, bà yêu cầu khán giả chú trọng về lịch sử hơn là các vấn đề sôi nổi về người tị nạn đang tranh cãi trong chính quyền cũng như dân chúng Hoa Kỳ. Nếu ai muốn nói chuyện này, bà xin họ gặp bà sau buổi nói chuyện.

Sau bài đọc, dân biểu Murphy và tôi ngồi trên sân khấu trả lời các câu hỏi về người tị nạn Việt Nam. Giáo sư DiQuattro cũng ngồi trên sân khấu điều hành mục này trong buổi nói chuyện. Vì lời yêu cầu tế nhị của dân biểu Murphy, nên khán giả không ai hỏi về những tranh cãi chính trị bây giờ, hay mang tên tổng thống đương kim ra một lần, mà chú trọng về chủ đề chính là chiến tranh Việt Nam, người tị nạn Việt Nam, và nước Việt từ 1975 đến nay. Có nhiều và đủ loại câu hỏi từ người về hưu đến học sinh Rollins, tôi không nhớ hết. Nhưng nói chung thì phần này sôi nổi, chứng tỏ là nhiều người Mỹ vẫn tò mò về lịch sử của người tị nạn Việt Nam.

Đây là lý do tôi xin khuyến khích các gia đình Việt Nam giữ lại các tài liệu, báo chí, sách vở hồi xưa, và nhất là thư từ thời đó vì thư từ là tài liệu quý giá vô cùng. Nếu quý vị có thiện chí giúp người nghiên cứu, xin gởi tài liệu đến các cơ quan dự trữ như The Vietnam Archives tại đại học Texas Tech University, hoặc liên lạc với người viết qua email: tuan.hoang@pepperdine.edu.

Người viết chân thành cảm ơn dân biểu Murphy có mặt hôm đó; giáo sư DiQuattro tổ chức sắp xếp; cô Chelsea Hilend, giám đốc tiếp thị rạp hát, lo về chi tiết cho buổi nói chuyện; và cô Quyên Như của báo Trẻ Orlando cung cấp hình. Vở kịch A Piece of My Heart sẽ được trình diễn tại rạp hát Annie Russell Theatre tại đại học Rollins từ ngày 17 đến ngày 25 tháng 2.

Xin đến trang trong blog www.tuannyriver.com  để coi thêm hình ảnh. https://tuannyriver.com/2017/02/13/buoi-noi-chuyen-ve-nguoi-viet-ti-nan-voi-dan-bieu-stephanie-murphy/ 

Ý kiến bạn đọc
17/02/201706:54:01
Khách
Nói về dân Việt tỵ nạn như vậy diễn giả có nói về thời gian Biden và Browns CA hiện nay không muốn cho người VN vào Mỹ tỵ nạn chăng ? Sao ngày xưa cấm cản mà bây giờ lại ra sức bảo vệ người nhập cư không hợp lệ cứ sống phây phây đừng sợ Trump, xin diễn giả hỏi giúp.
15/02/201706:15:45
Khách
Tuấn,
Bài viết hay lắm! Xin chúc mừng.
John
14/02/201717:00:41
Khách
Phủ bênh phủ , Huyện bênh Huyện , không hơn không kém . Viết "Theo Đơn Đặt Hàng " mà ! Ai đặt hàng ?
Thế "nà " thế "lào" ?
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Năm 17 tuổi, đang khi học thi tú tài, tôi bỗng nhiên bị suyễn. Căn bệnh này – vào cuối thế kỷ trước, ở miền Nam – vẫn bị coi là loại nan y, vô phương chữa trị. Từ đó, thỉnh thoảng, tôi lại phải trải qua vài ba cơn suyễn thập tử nhất sinh. Những lúc ngồi (hay nằm) thoi thóp tôi mới ý thức được rằng sinh mệnh của chúng ta mong manh lắm, và chỉ cần được hít thở bình thường thôi cũng đã là một điều hạnh phúc lắm rồi. If you can't breathe, nothing else matters!
Một người không có trí nhớ, hoặc mất trí nhớ, cuộc đời người ấy sẽ ra sao? Giả thiết người ấy là ta, cuộc đời ta sẽ như thế nào? Ai cũng có thể tự đặt câu hỏi như vậy và tự cảm nghiệm về ý nghĩa của câu hỏi ấy. Sinh hoạt của một người, trong từng giây phút, không thể không có trí nhớ. Cho đến một sinh vật hạ đẳng mà chúng ta có thể biết, cũng không thể tồn tại nếu nó không có trí nhớ. Trí nhớ, Sanskrit nói là smṛti, Pāli nói là sati, và từ Hán tương đương là niệm, cũng gọi là ức niệm, tùy niệm. Nói theo ngôn ngữ thường dùng hiện đại, niệm là ký ức. Đó là khả năng ghi nhớ những gì đã xảy ra, thậm chí trong thời gian ngắn nhất, một sát-na, mà ý thức thô phù của ta không thể đo được.
Ba mươi năm trước tôi là thành viên hội đồng quản trị của một cơ quan xã hội giúp người tị nạn trong khu vực phía đông Vịnh San Francisco (East Bay) nên khi đó đã có dịp tiếp xúc với người tị nạn Afghan. Nhiều người Afghan đã đến Mỹ theo diện tị nạn cộng sản sau khi Hồng quân Liên Xô xâm chiếm đất nước của họ và cũng có người tị nạn vì bị chính quyền Taliban đàn áp. Người Afghan là nạn nhân của hai chế độ khác nhau trên quê hương, chế độ cộng sản và chế độ Hồi giáo cực đoan.
Bà Merkel là một người đàn bà giản dị và khiêm tốn, nhưng nhiều đối thủ chính trị lại rất nể trọng bà, họ đã truyền cho nhau một kinh nghiệm quý báu là “Không bao giờ được đánh giá thấp bà Merkel”.
Hai cụm từ trọng cung (supply-side) và trọng cầu (demand-side) thường dùng cho chính sách kinh tế trong nước Mỹ (đảng Cộng Hòa trọng cung, Dân Chủ trọng cầu) nhưng đồng thời cũng thể hiện hai mô hình phát triển của Hoa Kỳ (trọng cầu) và Trung Quốc (trọng cung). Bài viết này sẽ tìm hiểu cả hai trường hợp. Trọng cung là chủ trương kinh tế của đảng Cộng Hoà từ thời Tổng Thống Ronald Reagan nhằm cắt giảm thuế má để khuyến khích người có tiền tăng gia đầu tư sản xuất. Mức cung tăng (sản xuất tăng) vừa hạ thấp giá cả hàng hóa và dịch vụ lại tạo thêm công ăn việc làm mới. Nhờ vậy mức cầu theo đó cũng tăng giúp cho kinh tế phát triển để mang lại lợi ích cho mọi thành phần trong xã hội. Giảm thuế lại thêm đồng nghĩa với hạn chế vai trò của nhà nước, tức là thu nhỏ khu vực công mà phát huy khu vực tư.
Gần đây, chỉ một tấm ảnh của nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ – Nicole Gee – ôm em bé người Afghan với thái độ đầy thương cảm thì nhiều cơ quan truyền thông quốc tế đều phổ biến và ca ngợi! Nhân loại chỉ tôn trọng sự thật, trân quý những tâm hồn cao thượng và những trái tim biết rung động vì tình người – như nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ, Nicole Gee – chứ nhân loại không bao giờ thán phục hoặc ca ngợi sự tàn ác, dã man, như những gì người csVN đã và đang áp đặt lên thân phận người Việt Nam!
Tôi vừa mới nghe ông Trần Văn Chánh phàn nàn: “Cũng như các hội nghề nghiệp khác, chưa từng thấy Hội nhà giáo Việt Nam, giới giáo chức đại học có một lời tuyên bố hay kiến nghị tập thể gì liên quan những vấn đề quốc kế dân sinh hệ trọng; thậm chí nhiều lần Trung Quốc lấn hiếp Việt Nam ở Biển Đông trong khoảng chục năm gần đây cũng thấy họ im phăng phắc, thủ khẩu như bình…”
Thế giới chưa an toàn và sẽ không an toàn chừng nào các lực lượng khủng bố trên thế giới vẫn còn tồn tại, một nhà báo, cựu phóng viên đài VOA từ Washington D.C. nói với BBC News Tiếng Việt hôm thứ Năm. Sự kiện nước Mỹ bị tấn công vào ngày 11 tháng 09 năm 2001 đã thức tỉnh thế giới về một chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo cực đoan đang tồn tại trong lòng các nước Trung Đông. Giờ đây, sau 20 năm, liệu người Mỹ có cảm thấy an toàn hơn hay họ vẫn lo sợ về một cuộc tấn công khủng bố khác trên đất nước Hoa Kỳ hay nhằm vào công dân Mỹ ở nước ngoài.
Vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, những kẻ khủng bố Hồi giáo thuộc tổ chức mạng lưới Al-Qaida đã dùng bốn phi cơ dân sự làm thành một loại vũ khí quân sự để tấn công vào Trung tâm Thương mại Thế giới ở New York và Lầu Năm Góc ở Washington D.C. Các sự kiện không tặc loại này là lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh của nhân loại và đã có hậu quả nghiêm trọng nhất trong lịch sử cận đại.
Thứ Bảy, ngày 11/09/2021, nước Mỹ tưởng niệm 20 năm vụ tấn công khủng bố thảm khốc nhắm vào tòa tháp đôi World Trade Center ở New York, bộ Quốc Phòng Mỹ ở gần Washington và ở Shanksville tại Pennsylvania. Gần 3.000 người chết, hơn 6.000 người bị thương. Hai mươi năm đã trôi qua, vẫn còn hơn 1.000 người chết đã không thể nhận dạng. Chấn thương tinh thần vẫn còn đó. Mối họa khủng bố vẫn đeo dai dẳng. Lễ tưởng niệm 20 năm vụ khủng bố gây chấn động thế giới diễn ra như thế nào, nhất là trong bối cảnh Hoa Kỳ triệt thoái toàn bộ binh sĩ khỏi Afghanistan sau đúng 20 năm tham chiến ? Mời quý vị theo dõi cuộc phỏng vấn với nhà báo Phạm Trần từ Washington.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.