Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Chú Giải Chuyện Đời Xưa của Trương Vĩnh Ký 11 12

30/10/201600:01:00(Xem: 2828)
Chú Giải:
Chuyện Đời Xưa của Trương Vĩnh Ký
 
Nguyễn Văn Sâm
  

(Chuyện 11, 12)
  

Quyển Chuyện Đời Xưa của Trương Vĩnh Ký là quyển sách bán chạy nhứt của nhà văn nầy. In tới lui nhiều lần, năm 1914 đã in tới ngàn thứ chín. Những lần in không đề tái bản lần thứ mấy và in bao nhiêu thì phải nói là cơ man.

Tại sao quyển truyện mỏng nầy lại có sức hấp dẫn như vậy? chính là nhờ ông Trương khi viết đã đưa ra hai mục tiêu và đã làm gần như trọn vẹn

1. Giáo dục về luân lý. Người đọc cẩnthận sẽ thấy những bài học tốt cho cách ở đời, cách xử thế, ứng xử trong trạng huống cần thiết, đề phòng kẻ xấu, chớ cả tin..

2. Dùng tiếng Annam (Việt Nam) ròng. Trong toàn quyển chuyện không sự kiện làm văn chương, mặc dầu điều nầy không hẵn là xấu, mà chỉ có sự sử dụng tiếng Việt thường nhựt, với những từ ngữ của người bình dân. Người đọc đón nhận cũng vì lẽ đó.

Ngoài ra vì tác giả khéo léo cho thấy sinh hoạt của dân chúng có thể nói là cuối thế kỷ 19 nên đây là nguồn tư liệu dồi dào về những chi tiết của cuộc sống dân ta mà gần như ngày nay không thể thấy (ăn ong, ăn bánh lớ, cái chày mổ, cái đường câu ống, sư làm đám, hầm bắt cọp, bắt chồn, tục mai dong, tục ở rể…).

Sách viết hơn trăm năm trước, bằng chữ của dân miền cực Nam nên chắc chắn là khó hiểu với phần đông người đọc hiện giờ. Sự chú giải những từ nầy là cần thiết nên quyển sách Chú Giải Chuyện Đời Xưa của Trương Vĩnh Ký có lý do để ra đời.  Cũng là để cho người dùng không bị sách in sai dẫn vào những kiến thức sai lạc về mặt ngôn ngữ xưa.

Victorville, CA, tháng 11, 2016

 

11. Kén rể hay trớ trinh[1] láo xược

blank

    
   
Ông kia giàu có, có một đứa con gái xinh tốt lịch sự[2]. Nhiều nơi gắm ghé[3] muốn đi nói[4], mà ông cha thì ý muốn kén một chàng rể cho lanh lợi, nói láo, trớ trinh. Có một anh nọ, tốt trai mà nghèo, ở xa nghe đồn ông ấy kén rể hay nói láo, mà cũng đã có nhiều nơi tới làm rể, láo xược thôi cũng đã hết sách hết vở[5], mà cưới không được con ông ấy[6]. Vậy nó mới tới làm rể, mà ăn ở cứ mực thiệt mà làm[7]. Như vậy cũng đã lâu. Ngày kia anh ta mới tính đã tới nước[8] nói láo, thì ra thưa với cha vợ, xin về chịu tang cha, ít ngày sẽ trở lại.

     Cách chừng được vài ba tháng, nó mới trở về, tay cầm đường câu ống[9], vai quảy một con cá lớn, đã tươi mà lại ngon thịt, vô nhà. Cha vợ mừng hỏi? Cá ở đâu mầy vác mầy đi vậy? Nó mới nói: Thưa với cha, cá của tôi câu, có cái đường câu[10] của cha tôi thuở trước làm nghề để lại, tôi đem theo, để có lỡ bữa[11] câu ăn nó cũng đỡ; (tr. 18) tôi mới câu được ngoài vàm[12], còn tươi, đem cho cha nấu canh ăn một bữa.

     Bữa kia ông cha vợ biểu sắm ghe đi câu chơi. Nó đem câu đồ[13] đi. Tới khúc sông có đá hàn[14], nó thả câu xuống mắc trong đá, kéo hò lơ hò dịch[15] không lên. Nó nói: Cha chả! Con cá thật đà nên lớn! Thôi, tôi lên trên quán uống nước, rồi thì tôi sẽ xuống mà lội lặn, mà bắt nó mới được. Giả đò đi uống nước, mới lấy mỡ, hành, tiêu ớt, ướp nướng một miếng khô, bọc trong lưng[16] mà xuống. Một hồi giập bã trầu[17], nó trồi lên, tay cầm miếng khô miệng nhai nguổm nguảm[18]. Cha nó hỏi: Khô ở đâu mà ăn làm vậy? Thì nó nói: Vua Thập điện dưới ngài quải cho ông bà[19], nên ngài nói với tôi, ngài mượn con cá, để làm dọn đãi. Đang có dọn dẹp ầm ạp[20] dưới đấy, ngài mời tôi ở lại ăn, mà tôi kiếu về[21] sợ cha trông; nên ngài biểu đưa một miếng khô cho tôi cầm về ăn mà uống rượu; người nghe nói có cha đi nữa, thì người dặn biểu mời cha xuống chơi.

     Ông cha nghe lời xuống, nó liệu chừng còn đặng một sải nữa mà tới đó, thì nó dùn dây[22] lại va đầu ông ta vào đá xẻ ra[23], chảy máu; rồi trồi lên. Nó thấy vậy, nó kêu trời van đất, sao vua Thập điện ở bất nhơn làm vậy? Rồi, nó lấy muối ớt, nó xát vô[24] cho. Rát rao[25] lắm, mới nói ra: Thật mầy đã khéo nói láo! Gặp đặng thằng rể như ý, về gả con cho nó liền[26]. (tr. 19)

 

12. Bụng làm dạ chịu

 

    Có một anh bất tài chẳng biết làm gì mà ăn, mới đi học làm thầy bói[27]. Bói nhiều quẻ cũng khá ứng[28]; nên thiên hạ tin đua nhau đem tiền đến xin bói. Làm vậy ăn tiền cũng đã khá, lại càng ra dạn dĩ càng đánh phách[29] khua miệng rân[30].

    Bữa kia trong đền vua, có mất con rùa vàng[31], kiếm thôi đã cùng khắp, mà không ra.

     Người ta mới tâu có anh thầy bói kia có danh, xin cho rước va tới, mà dạy gieo quẻ bói thử, họa may có được chăng. Vậy vua giáng chỉ dạy sắm võng dá[32], quân gia dù lọng cho đi rước cho được anh ta đem về.

     Thấy quân gia rần rộ tới nhà, trong bụng đà có lo có sợ, không biết lành dữ dường nào. Chẳng ngờ, nghe nói vua đòi đến bói, mà kiếm con rùa vàng của vua mất đi, trong lòng đã bấn bíu[33], lo đái ra cây[34], sợ e bói chẳng nhằm, mà có khi bay đầu đi[35]. Mà phải vưng phải đi, đánh liều mặc may mặc rủi,. Bịt khăn bận áo[36], bước lên võng ra đi, nằm những thở ra thở vô không biết liệu phương nào[37], mới than rằng: Bụng làm dạ chịu, chớ khá than van.

     Chẳng ngờ may đâu hai thằng khiêng võng, một đứa tên là Bụng một đứa tên là Dạ, là hai (tr. 20) đứa đã đồng tình ăn cắp con rùa của vua. Nghe thầy nói làm vậy, thì ngờ là thầy thông thiên đạt địa[38] đã biết mình rồi: sợ thầy tới nói tên mình ra, vua chém đi, cho nên để võng xuống, lại lạy thầy xin thương xót đến mình, vì đã dại sinh lòng tham, mới ăn cắp con rùa ấy, mà dấu trên máng xối. Xin thầy làm phước, đừng có nói tên ra, mà chúng tôi phải chết tội nghiệp.

     Anh thầy[39] nghe nói mới hở hơi[40] được, đem bụng mừng, thì mới nói: Thôi, tao làm phước, tao không có nói đâu, mà hòng sợ[41]. Tới nơi anh ta bói xong, kiếm được, rồi vua trọng thưởng, lại phong cho chức sắc về vinh vang.

     Mà vốn thiệt là việc may đâu mà nên mà thôi[42]. Chẳng phải là tại va có tài nghề chi đâu! Ở đời có nhiều người nhờ vận may mà nên mà thôi, chớ chẳng phải tài tình chi[43].

 



[1] Trớ trinh: Nói qua nói lại, lật lọng, HTC, Trớ trinh: Nhiều lời nói, dối trá, láo xược.

[2] Lịch sự: Đẹp, có nhan sắc. Chữ nầy nay đã biến nghĩa thành ra là người biết cách giao tế.

[3] Gắm ghé: Muốn đi hỏi cưới.

[4] Đi nói: Đi hỏi cưới con gài nhà ai.

[5] Hết sách hết vở: Hay quá. Hay còn hơn sách.

[6] Vậy thì ngày trước chuyện làm rể bị xù, bị lật độ, nói theo ngày nay là bị bẻ chỉa không cho cưới cũng là khá bộn bàng!

[7] Cứ mực thiệt mà làm: Sống, hành động thiệt thà, chơn chất.

[8] Tới nước: Tới lúc, tới cở, tới hoàn cảnh… chữ nước nghĩa nầy còn thấy ở từ hết nước, thua nước, nước tiên, nước hậu…

[9] Đường câu ống: HTC, Câu ống: Câu có ống nối cũng là cách câu dầm. HTC giải thích hà tiện lời quá, tôi chưa thấy cái câu ống nên đọc lời giải thích nầy cũng chưa hình dung được câu ống ra làm sao. Trên google có nhiều người nói nhiều về câu ống nhưng có thể là cách câu ống nầy mới chớ không phải cái đường câu ống mà Trương Vĩnh Ký nói chăng?

[10] Cái đường câu: Theo nghĩa của đoạn nầy thì đây là cái cần câu. HTC: Đàng câu: Sợi dây câu. Điều nầy cho ta suy ra ngày xưa có lúc người ta câu không dùng cần câu mà chỉ thả xuống nước sợi dây câu thôi, như trẻ nhỏ nhà quê thường dùng.

[11] Lỡ bữa: HTC, Đương ăn nửa bửa; không nhằm bữa ăn, quá bữa ăn. Anh tới lỡ bữa, không biết làm sao. Ở đây có nghĩa là lúc thiếu thức ăn.

[12] Vàm: Chỗ cửa sông, như Vàm Cỏ, vàm Tượng, vàm Tuần.

[13] Câu đồ: Có lẽ là đồ câu in sai?

[14] Đá hàn: Đá ngầm dưới long song, lòng rạch.

[15] Hò lơ hò dịch (kéo câu/lưới): Kéo hết sức, kéo mệt thở le lưỡi. Hò lơ là tiếng hò cuối câu để làm khiến cho bớt mệt khi nhiều người làm công việc nặng nhọc.

[16] Bọc trong lưng: Giấu trong lưng quần.

[17] Giập bã trầu: Thời gian ngắn chừng ăn xong một miếng trầu.

[18] Nhai nguồm nguàm: Nhai miệng đầy thiếu điều rớt thức ăn ra ngoài. HTC, Nhai ngỏm ngoãm: Nhai lớn miệng, miệng cham bam.

[19] Quải cho ông bà: Cúng cơm cho vong linh ông bà hưởng. Đám giỗ ông bà.

[20] Ầm ạp: HTC không có từ nầy mà chỉ có từ ầm ầm ai cũng đã biết nghĩa.

[21] Kiếu về: Xin phép về sớm trogn đám tiệc, đám hội… Lời nói lịch sự.

[22] Dùn dây: Thả lỏng, thả thêm cho dây dùn lại. CD: Dây dùn khó đứt bạn lang khó tìm.

[23] Xẻ (đầu ) ra: Tét đầu. Thương tích hở miệng.

[24] Xát vô: Trét vô.

[25] Rát rao: Rát, xót xa, rát quá.

[26] Thú thiệt là tôi không thích cái chuyện nầy, ghét nữa là khác. Ai đời ông già có con gái cưng mà quyết gả cho thằng nào láo thiên láo địa,vậy thì nói láo lên ngôi sao? Hay là Trương Vĩnh Ký có tài tiên tri cho cả trăm năm sau?

[27] Ngay từ câu đầu Trương Vĩnh Ký đã cho thấy ông chê bai nghề nầy. Bói ra ma!

[28] Ứng (bói): Bói trúng.

[29] Đánh phách: Làm phách.

[30] Khua miệng rân: Ba hoa về tài của mình.

[31] Có mất con rùa vàng: Cách nói kiểu dư chữ nay không được dùng nhiều nữa.

[32] Võng dá: Nguyên bổn viết như thế, tự điển viết võng giá, tức võng lọng, những thứ dùng mời rước quan chức hay người đáng kính trọng. Như xe limousine ngày nay! Nói láo đời nào cũng vậy, ăn trên ngồi trước thiên hạ.

[33] Bấn bíu: Lo lắng quá nhiều. Bấn xúc xích.

[34] Lo đái ra cây: Lo quá sức.

[35] Bay đầu: Bị xử trảm. Xưa làm việc với vua, ngán cái chuyện nầy do thất bại hay không vừa ý vua

[36] Bịt khăn bận áo: Sửa soạn áo quần tề chỉnh. Nhờ Trươgn Vĩnh Ký dùng chữ bịt khăn ta nay hình dung được phần nào lối ăn mặc ngày xưa: Khăn bị trên đầu khi ra đường. Nó là hình thức đầu tiên của khăn đóng sau nầy.

[37] Liệu phương nào: Tính cách nào, nghĩ cách gì đó để giải quyết vấn đề.

[38] Thông thiên đạt địa: Biết chuyện trên trời dưới đất. biết nhiều điều người khác không biết.

[39] Anh thầy: Dùng từ kiểu nầy cũng là dụng ý của tác giả, như chữ va ở dưới, coi thường tên thầy bói.

[40] Hở hơi: Thở ra khoan khoái, hết lo rầu.

[41] Mà hòng sợ: Đừng lo sợ.

[42] Mới hở hơi: Mới thở được, mới hết lo lắng.

[43] Lới bình luận thường có cuối truyện của ông Trương.



.
.

Ý kiến bạn đọc
30/10/201611:07:03
Khách
Con đang định viết vài dòng phúc âm gửi đến Bác Sâm ...phân vân không biết có nên . Bóp trán nghĩ ngợi một lúc , liếc nhìn đồng hồ thì thấy 5:55
BA NĂM = BĂM NA :)
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Nói một cách tóm tắt, hiểm hoạ lớn nhất của Việt Nam không phải là chế độ độc tài trong nước hay âm mưu xâm lấn biển đảo của Trung Quốc mà là sự dửng dưng của mọi người. Chính sự dửng dưng đến vô cảm của phần lớn dân chúng là điều đáng lo nhất hiện nay.
Bà Vivien Tsou, giám đốc Diễn đàn Phụ nữ Mỹ gốc Á Thái Bình Dương, cho biết: “Mặc dù trọng tâm là sự thù ghét người gốc Á, nhưng tất cả đều bắt nguồn từ quan điểm da trắng thượng đẳng, và bất cứ ai cũng có thể trở thành “Con dê tế thần bất cứ lúc nào”.
Tổ chức Người Bảo Vệ Nhân Quyền cho biết hiện có 276 tù nhân lương tâm đang bị giam giữ tại Việt Nam. Nhà đương cuộc Hà Nội đối xử với họ ra sao? Tồ Chức Ân Xá Quốc Tế nhận định: “Các nhà tù ở Việt Nam có tiếng là quá đông và không đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế tối thiểu. Vietnamese jails are notoriously overcrowded and fail to meet minimum international standards.”
Nếu so sánh ta sẽ thấy các cuộc biểu tình giữa Việt Nam và ba nước kia khác nhau: ở Việt Nam, yếu tố Trung Quốc là mầm mất nước, nguyên nhân chánh làm bùng phát các cuộc biểu tình. Còn ở Miến Điện, Hồng Kông và Thái Lan, nguyên nhân thúc đẩy giới trẻ xuống đường là tinh thần dân chủ tự do, chống độc tài.
Ma túy đang là tệ nạn gây nhức nhối cho toàn xã hội Việt Nam, nhưng Đảng và Nhà nước Cộng sản chỉ biết tập trung nhân lực và tiền bạc vào công tác bảo vệ Chủ nghĩa Mác-Lenin và làm sao để đảng được độc tài cầm quyền mãi mãi.
Tôi sinh ra ở Sài Gòn, nơi vẫn được mệnh danh là Hòn Ngọc Viễn Đông. Chỉ tiếc có điều là ngay tại chỗ tôi mở mắt chào đời (Xóm Chiếu, Khánh Hội) thì lại không được danh giá hay ngọc ngà gì cho lắm.
Một ngày không có người Mexican có thể sẽ không dẫn đến tình trạng xáo trộn quá mức như cách bộ phim hài "A day without a Mexican" đã thể hiện nhưng quả thật là nước Mỹ sẽ rất khó khăn nếu thiếu vắng họ. Xã hội sẽ bớt phần nhộn nhịp vì sự tươi vui và tràn đầy sức sống của một sắc dân phần lớn là chân thật và chăm chỉ.
Công cuộc chống độc tài vẫn đang tiếp tục và đang trả những cái giá cần phải trả cho một tương lai tốt đẹp hơn. Chị là một trong số những người chấp nhận tự đóng góp vào những phí tổn đó cho toàn dân tộc. Chị là: NGUYỄN THÚY HẠNH.
Dưới thể chế Việt Nam Cộng Hòa người dân không chỉ bình đẳng về chính trị mà còn có cơ hội bình đẳng về kinh tế, nên mặc dù chiến tranh khoảng chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị, giữa những người ở thành thị với nhau không mấy khác biệt.
Nếu so sánh với nuôi con thì có 2 việc là cho ăn và dạy dỗ. Ăn uống phải đầy đủ và điều độ (không mặn, ngọt, béo v.v…) để cơ thể khỏe mạnh. Giáo dục không gò bó thì trẻ hoặc hư hay cương cường tự lập, trái lại rầy la đánh đập hay nuông chiều thì trẻ sinh ra nhút nhát, kém tự tin hoặc ỷ lại. NHTƯ ví với bàn tay Midas nuôi dưỡng thức ăn (tiền) cho nền kinh tế, trong khi bàn tay hữu hình (hay thô bạo) của nhà nước (gồm Hành Pháp và Quốc Hội ở Mỹ) có quyền hạn thả lỏng hay siết chặc thị trường.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.