Hôm nay,  

Chú Giải Chuyện Đời Xưa của Trương Vĩnh Ký 11 12

30/10/201600:01:00(Xem: 3903)
Chú Giải:
Chuyện Đời Xưa của Trương Vĩnh Ký
 
Nguyễn Văn Sâm
  

(Chuyện 11, 12)
  

Quyển Chuyện Đời Xưa của Trương Vĩnh Ký là quyển sách bán chạy nhứt của nhà văn nầy. In tới lui nhiều lần, năm 1914 đã in tới ngàn thứ chín. Những lần in không đề tái bản lần thứ mấy và in bao nhiêu thì phải nói là cơ man.

Tại sao quyển truyện mỏng nầy lại có sức hấp dẫn như vậy? chính là nhờ ông Trương khi viết đã đưa ra hai mục tiêu và đã làm gần như trọn vẹn

1. Giáo dục về luân lý. Người đọc cẩnthận sẽ thấy những bài học tốt cho cách ở đời, cách xử thế, ứng xử trong trạng huống cần thiết, đề phòng kẻ xấu, chớ cả tin..

2. Dùng tiếng Annam (Việt Nam) ròng. Trong toàn quyển chuyện không sự kiện làm văn chương, mặc dầu điều nầy không hẵn là xấu, mà chỉ có sự sử dụng tiếng Việt thường nhựt, với những từ ngữ của người bình dân. Người đọc đón nhận cũng vì lẽ đó.

Ngoài ra vì tác giả khéo léo cho thấy sinh hoạt của dân chúng có thể nói là cuối thế kỷ 19 nên đây là nguồn tư liệu dồi dào về những chi tiết của cuộc sống dân ta mà gần như ngày nay không thể thấy (ăn ong, ăn bánh lớ, cái chày mổ, cái đường câu ống, sư làm đám, hầm bắt cọp, bắt chồn, tục mai dong, tục ở rể…).

Sách viết hơn trăm năm trước, bằng chữ của dân miền cực Nam nên chắc chắn là khó hiểu với phần đông người đọc hiện giờ. Sự chú giải những từ nầy là cần thiết nên quyển sách Chú Giải Chuyện Đời Xưa của Trương Vĩnh Ký có lý do để ra đời.  Cũng là để cho người dùng không bị sách in sai dẫn vào những kiến thức sai lạc về mặt ngôn ngữ xưa.

Victorville, CA, tháng 11, 2016

 

11. Kén rể hay trớ trinh[1] láo xược

blank

    
   
Ông kia giàu có, có một đứa con gái xinh tốt lịch sự[2]. Nhiều nơi gắm ghé[3] muốn đi nói[4], mà ông cha thì ý muốn kén một chàng rể cho lanh lợi, nói láo, trớ trinh. Có một anh nọ, tốt trai mà nghèo, ở xa nghe đồn ông ấy kén rể hay nói láo, mà cũng đã có nhiều nơi tới làm rể, láo xược thôi cũng đã hết sách hết vở[5], mà cưới không được con ông ấy[6]. Vậy nó mới tới làm rể, mà ăn ở cứ mực thiệt mà làm[7]. Như vậy cũng đã lâu. Ngày kia anh ta mới tính đã tới nước[8] nói láo, thì ra thưa với cha vợ, xin về chịu tang cha, ít ngày sẽ trở lại.

     Cách chừng được vài ba tháng, nó mới trở về, tay cầm đường câu ống[9], vai quảy một con cá lớn, đã tươi mà lại ngon thịt, vô nhà. Cha vợ mừng hỏi? Cá ở đâu mầy vác mầy đi vậy? Nó mới nói: Thưa với cha, cá của tôi câu, có cái đường câu[10] của cha tôi thuở trước làm nghề để lại, tôi đem theo, để có lỡ bữa[11] câu ăn nó cũng đỡ; (tr. 18) tôi mới câu được ngoài vàm[12], còn tươi, đem cho cha nấu canh ăn một bữa.

     Bữa kia ông cha vợ biểu sắm ghe đi câu chơi. Nó đem câu đồ[13] đi. Tới khúc sông có đá hàn[14], nó thả câu xuống mắc trong đá, kéo hò lơ hò dịch[15] không lên. Nó nói: Cha chả! Con cá thật đà nên lớn! Thôi, tôi lên trên quán uống nước, rồi thì tôi sẽ xuống mà lội lặn, mà bắt nó mới được. Giả đò đi uống nước, mới lấy mỡ, hành, tiêu ớt, ướp nướng một miếng khô, bọc trong lưng[16] mà xuống. Một hồi giập bã trầu[17], nó trồi lên, tay cầm miếng khô miệng nhai nguổm nguảm[18]. Cha nó hỏi: Khô ở đâu mà ăn làm vậy? Thì nó nói: Vua Thập điện dưới ngài quải cho ông bà[19], nên ngài nói với tôi, ngài mượn con cá, để làm dọn đãi. Đang có dọn dẹp ầm ạp[20] dưới đấy, ngài mời tôi ở lại ăn, mà tôi kiếu về[21] sợ cha trông; nên ngài biểu đưa một miếng khô cho tôi cầm về ăn mà uống rượu; người nghe nói có cha đi nữa, thì người dặn biểu mời cha xuống chơi.

     Ông cha nghe lời xuống, nó liệu chừng còn đặng một sải nữa mà tới đó, thì nó dùn dây[22] lại va đầu ông ta vào đá xẻ ra[23], chảy máu; rồi trồi lên. Nó thấy vậy, nó kêu trời van đất, sao vua Thập điện ở bất nhơn làm vậy? Rồi, nó lấy muối ớt, nó xát vô[24] cho. Rát rao[25] lắm, mới nói ra: Thật mầy đã khéo nói láo! Gặp đặng thằng rể như ý, về gả con cho nó liền[26]. (tr. 19)

 

12. Bụng làm dạ chịu

 

    Có một anh bất tài chẳng biết làm gì mà ăn, mới đi học làm thầy bói[27]. Bói nhiều quẻ cũng khá ứng[28]; nên thiên hạ tin đua nhau đem tiền đến xin bói. Làm vậy ăn tiền cũng đã khá, lại càng ra dạn dĩ càng đánh phách[29] khua miệng rân[30].

    Bữa kia trong đền vua, có mất con rùa vàng[31], kiếm thôi đã cùng khắp, mà không ra.

     Người ta mới tâu có anh thầy bói kia có danh, xin cho rước va tới, mà dạy gieo quẻ bói thử, họa may có được chăng. Vậy vua giáng chỉ dạy sắm võng dá[32], quân gia dù lọng cho đi rước cho được anh ta đem về.

     Thấy quân gia rần rộ tới nhà, trong bụng đà có lo có sợ, không biết lành dữ dường nào. Chẳng ngờ, nghe nói vua đòi đến bói, mà kiếm con rùa vàng của vua mất đi, trong lòng đã bấn bíu[33], lo đái ra cây[34], sợ e bói chẳng nhằm, mà có khi bay đầu đi[35]. Mà phải vưng phải đi, đánh liều mặc may mặc rủi,. Bịt khăn bận áo[36], bước lên võng ra đi, nằm những thở ra thở vô không biết liệu phương nào[37], mới than rằng: Bụng làm dạ chịu, chớ khá than van.

     Chẳng ngờ may đâu hai thằng khiêng võng, một đứa tên là Bụng một đứa tên là Dạ, là hai (tr. 20) đứa đã đồng tình ăn cắp con rùa của vua. Nghe thầy nói làm vậy, thì ngờ là thầy thông thiên đạt địa[38] đã biết mình rồi: sợ thầy tới nói tên mình ra, vua chém đi, cho nên để võng xuống, lại lạy thầy xin thương xót đến mình, vì đã dại sinh lòng tham, mới ăn cắp con rùa ấy, mà dấu trên máng xối. Xin thầy làm phước, đừng có nói tên ra, mà chúng tôi phải chết tội nghiệp.

     Anh thầy[39] nghe nói mới hở hơi[40] được, đem bụng mừng, thì mới nói: Thôi, tao làm phước, tao không có nói đâu, mà hòng sợ[41]. Tới nơi anh ta bói xong, kiếm được, rồi vua trọng thưởng, lại phong cho chức sắc về vinh vang.

     Mà vốn thiệt là việc may đâu mà nên mà thôi[42]. Chẳng phải là tại va có tài nghề chi đâu! Ở đời có nhiều người nhờ vận may mà nên mà thôi, chớ chẳng phải tài tình chi[43].

 



[1] Trớ trinh: Nói qua nói lại, lật lọng, HTC, Trớ trinh: Nhiều lời nói, dối trá, láo xược.

[2] Lịch sự: Đẹp, có nhan sắc. Chữ nầy nay đã biến nghĩa thành ra là người biết cách giao tế.

[3] Gắm ghé: Muốn đi hỏi cưới.

[4] Đi nói: Đi hỏi cưới con gài nhà ai.

[5] Hết sách hết vở: Hay quá. Hay còn hơn sách.

[6] Vậy thì ngày trước chuyện làm rể bị xù, bị lật độ, nói theo ngày nay là bị bẻ chỉa không cho cưới cũng là khá bộn bàng!

[7] Cứ mực thiệt mà làm: Sống, hành động thiệt thà, chơn chất.

[8] Tới nước: Tới lúc, tới cở, tới hoàn cảnh… chữ nước nghĩa nầy còn thấy ở từ hết nước, thua nước, nước tiên, nước hậu…

[9] Đường câu ống: HTC, Câu ống: Câu có ống nối cũng là cách câu dầm. HTC giải thích hà tiện lời quá, tôi chưa thấy cái câu ống nên đọc lời giải thích nầy cũng chưa hình dung được câu ống ra làm sao. Trên google có nhiều người nói nhiều về câu ống nhưng có thể là cách câu ống nầy mới chớ không phải cái đường câu ống mà Trương Vĩnh Ký nói chăng?

[10] Cái đường câu: Theo nghĩa của đoạn nầy thì đây là cái cần câu. HTC: Đàng câu: Sợi dây câu. Điều nầy cho ta suy ra ngày xưa có lúc người ta câu không dùng cần câu mà chỉ thả xuống nước sợi dây câu thôi, như trẻ nhỏ nhà quê thường dùng.

[11] Lỡ bữa: HTC, Đương ăn nửa bửa; không nhằm bữa ăn, quá bữa ăn. Anh tới lỡ bữa, không biết làm sao. Ở đây có nghĩa là lúc thiếu thức ăn.

[12] Vàm: Chỗ cửa sông, như Vàm Cỏ, vàm Tượng, vàm Tuần.

[13] Câu đồ: Có lẽ là đồ câu in sai?

[14] Đá hàn: Đá ngầm dưới long song, lòng rạch.

[15] Hò lơ hò dịch (kéo câu/lưới): Kéo hết sức, kéo mệt thở le lưỡi. Hò lơ là tiếng hò cuối câu để làm khiến cho bớt mệt khi nhiều người làm công việc nặng nhọc.

[16] Bọc trong lưng: Giấu trong lưng quần.

[17] Giập bã trầu: Thời gian ngắn chừng ăn xong một miếng trầu.

[18] Nhai nguồm nguàm: Nhai miệng đầy thiếu điều rớt thức ăn ra ngoài. HTC, Nhai ngỏm ngoãm: Nhai lớn miệng, miệng cham bam.

[19] Quải cho ông bà: Cúng cơm cho vong linh ông bà hưởng. Đám giỗ ông bà.

[20] Ầm ạp: HTC không có từ nầy mà chỉ có từ ầm ầm ai cũng đã biết nghĩa.

[21] Kiếu về: Xin phép về sớm trogn đám tiệc, đám hội… Lời nói lịch sự.

[22] Dùn dây: Thả lỏng, thả thêm cho dây dùn lại. CD: Dây dùn khó đứt bạn lang khó tìm.

[23] Xẻ (đầu ) ra: Tét đầu. Thương tích hở miệng.

[24] Xát vô: Trét vô.

[25] Rát rao: Rát, xót xa, rát quá.

[26] Thú thiệt là tôi không thích cái chuyện nầy, ghét nữa là khác. Ai đời ông già có con gái cưng mà quyết gả cho thằng nào láo thiên láo địa,vậy thì nói láo lên ngôi sao? Hay là Trương Vĩnh Ký có tài tiên tri cho cả trăm năm sau?

[27] Ngay từ câu đầu Trương Vĩnh Ký đã cho thấy ông chê bai nghề nầy. Bói ra ma!

[28] Ứng (bói): Bói trúng.

[29] Đánh phách: Làm phách.

[30] Khua miệng rân: Ba hoa về tài của mình.

[31] Có mất con rùa vàng: Cách nói kiểu dư chữ nay không được dùng nhiều nữa.

[32] Võng dá: Nguyên bổn viết như thế, tự điển viết võng giá, tức võng lọng, những thứ dùng mời rước quan chức hay người đáng kính trọng. Như xe limousine ngày nay! Nói láo đời nào cũng vậy, ăn trên ngồi trước thiên hạ.

[33] Bấn bíu: Lo lắng quá nhiều. Bấn xúc xích.

[34] Lo đái ra cây: Lo quá sức.

[35] Bay đầu: Bị xử trảm. Xưa làm việc với vua, ngán cái chuyện nầy do thất bại hay không vừa ý vua

[36] Bịt khăn bận áo: Sửa soạn áo quần tề chỉnh. Nhờ Trươgn Vĩnh Ký dùng chữ bịt khăn ta nay hình dung được phần nào lối ăn mặc ngày xưa: Khăn bị trên đầu khi ra đường. Nó là hình thức đầu tiên của khăn đóng sau nầy.

[37] Liệu phương nào: Tính cách nào, nghĩ cách gì đó để giải quyết vấn đề.

[38] Thông thiên đạt địa: Biết chuyện trên trời dưới đất. biết nhiều điều người khác không biết.

[39] Anh thầy: Dùng từ kiểu nầy cũng là dụng ý của tác giả, như chữ va ở dưới, coi thường tên thầy bói.

[40] Hở hơi: Thở ra khoan khoái, hết lo rầu.

[41] Mà hòng sợ: Đừng lo sợ.

[42] Mới hở hơi: Mới thở được, mới hết lo lắng.

[43] Lới bình luận thường có cuối truyện của ông Trương.



.
.

Ý kiến bạn đọc
30/10/201611:07:03
Khách
Con đang định viết vài dòng phúc âm gửi đến Bác Sâm ...phân vân không biết có nên . Bóp trán nghĩ ngợi một lúc , liếc nhìn đồng hồ thì thấy 5:55
BA NĂM = BĂM NA :)
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Làm thế nào để ngăn chặn Trung Quốc tiến hành một cuộc xâm lược quân sự toàn diện nhằm chiếm Đài Loan bằng vũ lực? Sau đây là một số suy nghĩ cá nhân về vấn đề quan trọng này, tôi trình bày với tư cách là một học giả về Trung Quốc và không phải là đại diện chính thức của chính phủ Úc...
Tôi không thân thiết, và cũng chả quen biết chi nhiều với Trương Văn Dũng (TVD). Thản hoặc, mới có chút chuyện cần – cần phải trao đổi đôi ba câu ngăn ngắn – thế thôi. Tuy thế, tôi hoàn toàn không ngạc nhiên khi nghe ông bị “túm”, và bị kết án tù. Dù rất ngại làm mất lòng thiên hạ (và cũng rất sợ gạch đá tán loạn, từ khắp bốn phương) nhưng tôi vẫn phải khách quan mà nhìn nhận rằng ông Tô Lâm chưa hề bắt “lộn” một nhân vật bất đồng chính kiến nào (ráo trọi) nhất là trường hợp của TVD!
Khi bài này đến với độc giả thì Tổng Bí thư đảng CSVN, Nguyễn Phú Trọng đã vắng mặt gần một tháng mà không có lời giải thích nào của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Lần gần nhất công chúng Việt Nam nhìn thấy ông Trọng là khi ông tiếp Tổng thống Putin thăm Hà Nội ngày 20/06/2024. Sau đó ông đã vắng mặt tại các buổi họp quan trọng...
Không ai biết chắc khi nào một đế chế sẽ sụp đổ. Chẳng ai có thể xác định chính xác thời điểm Đế chế La Mã, Bồ Đào Nha, Ottoman hay Anh kết thúc. Trong bài thơ "Waiting for the Barbarians", nhà thơ Hy lạp Constantine P. Cavafy nhiều lần khẳng định rằng những kẻ man rợ sẽ đến hôm nay. Người ta chờ đợi, như thể đây là chuyện thường nhật như việc một công ty sẽ phá sản, hay một buổi lễ ra trường vậy. Nhưng một đế chế thì sao? Liệu vào thời của mình, nhà thơ Hy Lạp Cavafy có thuộc về một đế chế nào đáng để gọi là đế chế không?
Tôi hoàn toàn (và tuyệt đối) không có năng khiếu hay tham vọng gì ráo trong lãnh vực thơ văn/thi phú. Suốt đời chỉ ước mong sao có sách báo để đọc, để thưởng thức những lời hay ý đẹp của giới văn nhân thi sỹ, là vui thích lắm rồi. Sở thích, cùng niềm vui, tuy giản dị thế thôi nhưng đôi lúc tôi vẫn bị lôi thôi vì những câu cú (vô cùng) tối nghĩa:
Tệ nạn “dưới đẩy lên, trên đùn xuống” và “vô trách nhiệm” không mới trong cán bộ, đảng viên CSVN, nhưng số người “sáng vác ô đi tối vác về” vẫn khơi khơi trong hệ thống cầm quyền mới là điều lạ. Tổng Bí thư đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng từng nói:“Ai không làm thì đứng sang một bên cho người khác làm”, nhưng không ai muốn về vườn vì chứng bệnh nan y “tham quyền cố vị” đã có trong máu thịt Đảng...
Đảng CSVN đang bối rối về câu hỏi: Tại sao phải kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh để xây dựng đất nước? Lý do đơn giản, vì đảng sợ “dân chủ”, nhát “tự do” và lo phải đối phó với tình trạng “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong nội bộ đảng, đe dọa sự sống còn của chế độ...
BBC ái ngại loan tin: “Hôm 8/6, Đài Truyền hình Việt Nam (VTV) đã phát một video (‘Thông tin xuyên tạc ẩn tu của ông Thích Minh Tuệ’) có độ dài 3 phút 40 giây … Sau khi phóng sự được đăng tải trên các trang báo, cũng như các trang mạng xã hội, có không ít người nghi ngờ về độ chân thực của video”.
Hội nghị thượng đỉnh về hoà bình cho Ukraine tại Bürgenstock, Thụy Sĩ vào ngày 15 và 16 tháng 6 năm 2024 được coi là một thành công khiêm nhường cho Ukraine. 80 nước đã lên tiếng ủng hộ mạnh mẽ cho chính nghĩa đấu tranh của Ukraine, nhưng tiếp tục phát huy thành quả này sẽ là không chắc chắn.
Cảnh người Mỹ tranh cãi và dọa dẫm kiện tụng liên quan đến “Thập giới” lại làm tôi nghĩ đến “Thập cửu giới” – tức “Mười chín điều đảng viên không được làm” trên đất Việt. Trên phương diện sử học thì “Thập giới”, hay “Mười điều răn”, chính là bộ luật hình sự đầu tiên của nhân loại. Theo Cựu ước thì bộ luật này được Thượng Đế ban cho Nhà tiên tri Moses trên đỉnh núi Sinai để thiết lập trật tự cho cộng đồng Do Thái. Cũng trên phương diện sử học thì Cựu ước chính là một “đại tự sự” – một “câu chuyện lớn” tương tự câu chuyện về Bốn ngàn năm văn hiến hay con Rồng cháu Tiên của chúng ta v.v.. – với ý hướng tạo một bản sắc chung để kết hợp các bộ lạc Do Thái lại với nhau.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.