Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Giới Thiệu Pháp Tru & Pháp Vị Trong Kinh Pháp Hoa, Cở sở Lý Tính Duyên Khởi, Và Giáo Nghĩa Phật Tính Thường Trú

06/01/201600:00:00(Xem: 2914)

blank
Bìa Báo Chánh Pháp Số 50.

*Sanskrit:

स्थितिका हि एषा सद धर्मनेत्री

प्रकृतिश्च धर्ामण सदा प्रभा[सिे]।

विहदत्ि बुद्धा द्विपदानर्ुत्तर्ा

प्रकाशतिष्िस्ति र्र्ेकिानर्॥् १०२॥

धर्मस्थितििं धर्मतनिार्िािं च

तनत्िस्थििािं लोकक इर्ार्कम्प्िार्।्

बुद्धाश्च बोधध िंपधृििीि र्ण्डे

प्रकाशतिष्िस्ति उपािकौशलर्॥् १०३॥

(सद्धर्पम ुण्डरीकसूत्रर् ्Saddharmapuṇḍarỵkastram, २

उपािकौशल्िपररििमः। 2 upyakauśalyaparivartaḥ, Buddhist

Sanskrit Texts 6)

* Tibetan:

ཆོས་ཀྱི་ཚུལ་འདྱི་རྟག་ཏུ་གནས་པ་དང་། །

ཆོས་ཀྱི་རང་བཞྱིན་རྟག་ཏུ་འོད་གསལ་བར། །

རྐང་གཉྱིས་དམ་པ་སངས་རྒྱས་རྣམས་མཁྱེན་ནས། །

ང་ཡྱི་ཐྱེག་པ་གཅྱིག་ཅྱེས་སོན་པར་འགྱུར། །

ཆོས་ཀྱི་གནས་ཉྱིད་སོན་མྱེད་ཆོས་ཉྱིད་ནྱི། །

ཆོས་ཀྱི་རང་བཞྱིན་རྟག་ཏུ་འོད་གསལ་བར། །

ས་ཡྱི་སྱིང་པོར་བྱང་ཆུབ་སངས་རྒྱས་ཏྱེ། །

ཐབས་ལ་མཁས་པ་ཤྱིན་ཏུ་སོན་པར་འགྱུར།

(དམ་ཆོས་པད་མ་དཀར་པོའྱི་མདོdam chos pad-ma dkar po'i mdo,

ཐབས་ལ་མཁས་པའྱི་ ལྱེའུ་ གཉྱིས་པ་ ནྱི་, Peking [P. No.] 0781, mdo

sna tshogs, chu, 1b1-205a5 )

Dịch Việt (theo Sanskrit, tham chiếu Tibetan):

102. Pháp nhãn này thường trú,

Luôn luôn rọi sáng tự tính (prakṛti) bằng pháp.

Biết rõ điều này,

Chư Phật, Đấng Lưỡng Túc Tối Tôn

(dvipadnamuttam) [**],

Sẽ tuyên thuyết, tán dương,

Về cỗ xe duy nhất (ekayna) này.

103. Pháp này là nguyên lý tồn tại ổn định

(dharmasthiti),

Và Pháp này điều hành theo một quy luật cố định

(dharmaniymat)

Quy luật này, là nguyên lý tồn tại bất biến

GIỚI THIỆU PHÁP TRỤ (dharmasthiti)

& PHÁP VỊ (dharmaniymat)

TRONG KINH PHÁP HOA

[Cở sở Lý tính duyên khởi, và giáo nghĩa Phật tính thường trú]

Phước Nguyên

(nityasthitṃ), ngay tại thế gian (loki

immakampym)

Nơi Bồ-đề tràng [*], chư Phật thấu suốt điều này;

Nên các Ngài bằng phương tiện quyền xảo,

Tuyên thuyết và khen ngợi (prakayiṣyanti).

*Lời bàn:

Đây không phải là một bài nghiên cứu, chỉ là ghi

lại một vài ý tưởng bất chợt, thiết nghĩ có một số vấn

đề quan trọng, xin gợi ý như sau:

Bản Hán, La-thập hiểu từ sanskrit prakṛti (tự

tính) ở đây là Phật tính, nên dịch: “Phật chủng tùng

duyên khởi.” Còn Kern hiểu prakṛti, với ý nghĩa

đương với tự tính, nên dịch là “law” (The line of the

law forms an unbroken continuity and the nature of

its properties is always manifest). Và Burnouf dịch

Pháp là: “La règle de la loi est perpétuellement stable”.

Từ cơ sở “pháp trụ và pháp vị”, Pháp Hoa đề ra

những phương tiện đi vào tri kiến của Phật hết sức

đa dạng và đặc biệt.

Từ Sanskrit dharmasthiti, Tibetan tương đương:

ཆོས་ཀྱི་གནས་, La Thập dịch là “Pháp trụ”. Từ Sanskrit

“sthiti”, có nghĩa gốc là nguyên lý; Tibetan gọi là:

གནས, nghĩa nguyên lý tồn tại, hay cũng hiểu là sự tồn

tại ổn định; Kern dịch “sthiti” là: “stability”: tính ổn

định, bền vững, …

Nguyên lý ở đây, là nguyên lý vô ngã, của Pháp

duyên khởi, nguyên lý này ở chỗ khác, Pháp Hoa còn

gọi là “vốn thường hằng tịch diệt”: “evaṃ ca

bhṣmyahu nityanirvṛt diprẳnt imi sarvadharmḥ|

Và Ta nói như vậy: tất cả pháp này, bản

lai tịch tĩnh, vốn thường hằng tịch diệt.” (Kệ 68-Bản

Phạn); hay cũng gọi là “thường trú”: “sthitik hi eṣ

sada dharmanetrỵ prakṛtiśca dharmṇa sad prabh

[sate]|” Pháp nhãn này thường trú, luôn luôn rọi

sáng tự tính bằng pháp” (Kệ 102-bản Phạn).

Từ Sansktit dharmaniymat, Tibetan tương

đương: སོན་མྱེད་ ཆོས་ཉྱིད་ནྱི་, La Thập dịch Hán là: “Pháp vị”,

từ niymat, là từ phái sinh của danh từ Niyama:

quy luật; Kết hợp với đuôi “t”, với ý nghĩa là điều

hành, vận hành. Bản Tibetan cũng hiểu từ niymat,

là nguyên vẹn, hoàn mỹ, không có rạn nứt, nên mới

dịch là “ སོན་མྱེད་”. Và Kern dịch là: “fixed rules”: quy tắc

nhất định, bất biến.

Vậy, niymat có nghĩa tính chất điều hành theo

một quy luật cố định, ở đây là quy luật duyên khởi

(pratỵtyasamutpdaṃ): “trong khi cái này tồn tại, thì

cái kia tồn tại”, tính chất này “luôn luôn rọi sáng tự

tính bằng pháp”. Cũng có thể cắt nghiã là tính chất

điều hành theo nguyên lý vô ngã, mà ý nghiã tư

tưởng không có gì khác.

Với nghiã như trên của hai từ, Pháp trụ

(dharmasthiti) và pháp vị (dharmaniymat) là hai

từ chỉ cở sở lý tính duyên khởi, và cũng là cở sở của

giáo nghĩa Phật tính thường trú, mà bài kệ 102

thuộc chính văn phẩm Phương tiện, Hán dịch của La

-thập dịch, đọc là: “thị/ pháp trụ/ pháp vị; thế gian

tướng thường trụ 是¥法@住Z法@位世¢ŠƠ相Š常í住Z”. Do kệ Hán

dịch quá súc tích, nên nhiều trường hợp những vị

dịch giảng Việt văn, đã hiểu lầm ý nghĩa của câu

này, đại khái như: “Pháp ấy trụ nơi pháp”,

v.v… Hiểu như vậy là sai lầm nghiêm trọng, mất đi

ý nghĩa nguyên ủy của nó, nguyên văn Sanskrit của

nó là: “dharmasthitiṃ dharmaniymatṃ ca”, có

xuất hiện liên từ “ca” (và), bất biến từ च ca: có giá

trị như giới từ “cùng với”, hay cũng được sử dụng

như một liên từ: và, cùng. Như vậy rõ ràng ở đây là

một cặp từ: “dharmasthitiṃ (pháp trụ) ca (và) dharmaniymat

(pháp vị)”.

Đối chiếu với bản Tây Tạng cũng dịch sát theo

văn sanskrit: “འཇྱིག་རྟྱེན་འདྱི་ན་རྟག་ཏུ་མྱི་གཡོ་ནས། ། “Pháp này là

nguyên lý hoàn mỹ (ཆོས་ཀྱི་གནས་=dharmasthiti), và

Pháp này vận hành theo một quy tắc cố định (སོན་མྱེད་

ཆོས་ཉྱིད་ནྱི་=dharmaniymat)”.

Và đem hai bài kệ này, so sánh với nội dung

trong bản Anh dịch: The Lotus of the True Law,

Kern, dịch từ bản Phạn văn Népal; và bản dịch

Pháp: Le Lotus De La Bonne Loi, do Burnouf dịch từ

nguyên bản tiếng Phạn, hai bản này có nội dung hai

bài kệ đa phần tương đồng với bản Sanskrit:

*Anh dịch:

“101. The line of the law forms an unbroken

continuity and the nature of its properties is always

manifest. Knowing this, the Buddhas, the highest of

men, shall reveal this single vehicle.

102. They shall reveal the stability of the law, its

being subjected to fixed rules, its unshakeable perpetuity

in the world, the awaking of the Buddhas on

the elevated terrace of the earth, their skilfulness.”

(Kern, H. Saddharma Pundarỵka or the Lotus of

the True Law, Oxford 1884 (Clarendon Press) Sacred

Books of the East, Vol. XXI, New York 1963 (Dover),

Delhi 1968. Translation from Sanskrit)

* Pháp dịch:

“101. La règle de la loi est perpétuellement stable,

et la nature de sesconditions est toujours lumineuse

; les Buddhas, qui sont les Meilleurs

deshommes, après lavoir reconnue, enseigneront

lunique véhicule, qui est lemien,

102. Ainsi que la stabilité de la loi, et sa perfection

qui subsisteperpétuellement dans le monde sans

être ébranlée; et les Buddhasenseigneront létat de

Bôdhi, jusquau centre de la terre, en vertu de leurhabileté

dans lemploi des moyens [dont ils disposent].”

(Burnouf, Le Lotus De La Bonne Loi, Paris, Imprimerie

Nationale, 1852. Reprint, Librairie d'Amé-

rique et d'Orient A. Maisonneuve, Paris, 1973. P.34).

Minh giải ý nghĩa này, có thể tìm thấy ở Pháp

uẩn túc luận (Đại 26, tr. 0505a): “Này các Tỷ-kheo!

Nên biết, do duyên là sinh mà có già và chết, hoặc

Phật xuất hiện, hoặc không xuất hiện, duyên khởi

như thế là pháp trụ, pháp giới”.

Và cuối cùng, để chấm dứt lời bàn, xin vay mượn

đoạn kinh ở Paccaya-sutta, S. II, p. 25: Katamo ca

bhikkhave paṭicca-samuppdo // Jtipaccaybhikkhave

jarmaraṇam uppdvTathgatnam

anuppdvTathgatnaṃ// ṭhitva sdhtu

dhammaṭṭhitatdhammaniymatidappaccayat//

“Duyên khởi là gì? Do duyên là sinh mà có già và

chết. Các Như Lai dù xuất hiện hay không xuất hiện,

giới này là thường trú, là pháp trụ, pháp vị, tức là y

tha duyên tính.”
__________________

Phụ chú:

[**] Đấng Lưỡng Túc Tối Tôn, Skt. dvipadnamuttam,

dva: hai, pad: chân, amuttam, biến cách

của अनुत्तर, anuttara: vượt trội, trên hết, vượt hẳn, tối

thắng, tối tôn, vô thượng....

[*] Bồ đề tràng, (=Đạo Tràng), Skt. Bodhimaṇḍala,

từ maṇḍala, Hán phiên âm thông dụng là mạn-đà-la

曼Ư‘羅…, có nghĩa là đàn tràng, chỗ ngồi có hình

vuông hoặc tròn, được giới hạn trong một phạm vi

nhất định, Bodhi: phiên âm là Bồ-đề, dịch là Đạo,

giác ngộ,… Thói quen hay gọi Bodhimaṇḍala là Bồ-đề

đạo tràng, như vậy là sai, dư chữ. Như vậy, Skt. Bodhimaṇḍala:

Bồ đề tràng/Đạo Tràng.

* Phạn bản La-tin:

sthitik hi eṣ sada dharmanetrỵ

prakṛtiśca dharmṇa sad prabh[sate]|

viditva buddh dvipadnamuttam

prakayiṣyanti mamekaynam||102||

dharmasthitiṃ dharmaniymatṃ ca

nityasthitṃ loki immakampym|

buddhca bodhiṃ pṛthivỵya maṇḍe

prakayiṣyanti upyakauśalam||103||

[Saddharmapuṇḍarỵka-stra, Prof.U.Wogihara and C.

Tsuchida, Romanized and Revised Text, Tokyo,

1958.]

Nguồn: Báo Chánh Pháp số 50, tháng 1 năm 2016.

www.chanhphap.us

Ý kiến bạn đọc
06/01/201614:01:39
Khách
Phật pháp phải nằm trong thế gian pháp. Bài viết này không thực dụng. Tác giả muốn khoe khoang kiến thức. Một bà già trầu niệm Phật không đủ nguyên câu, không biết gì về không tánh hay duyên khởi vẫn đạt được an lạc. Tác giả có thể là người tinh thông Phật pháp nhưng lại không tùy duyên thuận pháp nên đi quá xa Phật đạo.
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Càng gần ngày tranh cử, càng nhiều người biểu lộ yêu mến Tổng thống Donald Trump và ngược lại cũng lắm người bày tỏ chán ghét ông Trump. Có những người ghét ông chỉ vì họ yêu chủ nghĩa xã hội, yêu chủ nghĩa vô chính phủ, lợi dụng cơ hội ông George Floyd bị cảnh sát đè cổ chết đã chiếm khu Capitol Hill, nội đô Seattle, tiểu bang Washington, trong suốt ba tuần trước khi bị giải tán. Nhân 244 năm người Mỹ giành được độc lập từ Anh Quốc, và sau biến cố George Floyd, thử xem nền dân chủ và chính trị Hoa Kỳ sẽ chuyển đổi ra sao?
Tôi có dịp sống qua nhiều nơi và nhận thấy là không nơi đâu mà những từ ngữ “tổ quốc,” “quê hương,” “dân tộc” … được nhắc đến thường xuyên – như ở xứ sở của mình: tổ quốc trên hết, tổ quốc muôn năm, tổ quốc anh hùng, tổ quốc thiêng liêng, tổ quốc bất diệt, tổ quốc muôn đời, tổ quốc thân yêu, tổ quốc trong tim … “Quê hương” và “dân tộc” cũng thế, cũng: vùng dậy, quật khởi, anh dũng, kiên cường, bất khuất, thiêng liêng, hùng tráng, yêu dấu, mến thương …
Nhà xuất bản sách của Bolton, chắc sẽ nhận được khoản thu nhập lớn. Riêng Bolton, chưa chắc đã giữ được hai triệu đô la nhuận bút, nếu bị thua kiện vì đã không tôn trọng một số hạn chế trong quy định dành cho viên chức chính quyền viết sách sau khi rời chức vụ. Điều này đã có nhiều tiền lệ. Là một luật gia, chắc chắn Bolton phải biết. Quyết định làm một việc hệ trọng, có ảnh hưởng tới đại sự, mà không nắm chắc về kết quả tài chính, không phải là người hành động vì tiền. Hơn nữa, nếu hồi ký của Bolton có thể giúp nhiều người tỉnh ngộ, nhìn ra sự thật trước tình hình đất nước nhiễu nhương, thì cũng có thể coi việc làm của ông là thái độ can đảm, được thúc đẩy bởi lòng yêu nước. Không nên vội vàng lên án Bolton, khi ông từ chối ra làm chứng trước Hạ Viện, nếu không bị bắt buộc. Nếu có lệnh triệu tập, ông đã tuân theo. Không có lệnh, ông không ra, vì thừa biết, với thành phần nghị sĩ Cộng Hòa hiện tại, dù ra làm chứng, ông cũng chẳng thay đổi được gì. Dân Biểu Schiff nói: “John Bolton,
Thưở sinh thời – khi vui miệng – có lần soạn giả Nguyễn Phương đã kể lại lúc đưa đám cô Năm Phỉ, và chuyện ông Chín Trích đập vỡ cây đàn: “Ngày cô Năm Phỉ mất, người đến viếng tang nghe nhạc sĩ Chín Trích đàn ròng rã mấy ngày liên tiếp bên quan tài… Ông vừa đờn vừa khóc. Đến lúc động quan, trước khi đạo tỳ đến làm lễ di quan, nhạc sĩ Chín Trích đến lậy lần chót, ông khóc lớn:’ Cô Năm đã mất rồi, từ nay Chín Trích sẽ không còn đờn cho ai ca nữa…’ Nói xong ông đập vỡ cây đờn trước quan tài người quá cố. “Việc xảy quá đột ngột và trong hoàn cảnh bi thương của kẻ còn đang khóc thương người mất, mọi người im lặng chia sẻ nỗi đau của gia đình người quá cố và của nhạc sĩ Chín Trích. Khi hạ huyệt thì người nhà của cô Năm Phỉ chôn luôn cây đàn gãy của nhạc sĩ Chín Trích xuống mộ phần của cô Năm Phỉ.” (Thời Báo USA, số 321, 18/02/2011, trang 67)
Đai sứ Mỹ, Daniel Krintenbrink, phát biểu chiều ngày 2/7 tại Hà Nội, nhân kỷ niệm 25 năm binh thường hóa quan hệ ngoại giao Việt-Mỹ: “Washington sẽ triển khai các hoạt động ngoại giao, hàng hải, và quân sự để bảo đảm hòa bình, ổn định Biển Đông”. Đại Sứ Kritenbrink cho hay, Mỹ sẽ triển khai các hoạt động theo 3 hướng: 1- Tăng hoạt động ngoại giao với các nước trong khu vực, trong đó có ASEAN. 2- Hỗ trợ các nước tăng cường hàng hải, để bảo vệ lợi ích của mình. 3- Phát triển năng lực quân sự Mỹ, trong đó có các hoạt động bảo vệ hàng hải.
Theo các hãng thông tấn và truyền hình lớn của Hoa Kỳ, vào ngày 27/6/2020, Đảng Dân Chủ Quận Hạt Orange đã thông qua nghị quyết khẩn cấp yêu cầu Ban Giám Sát Quận Hạt đổi tên Phi Trường John Wayne (tài tử đóng phim cao-bồi Miền Tây) vì ông này theo chủ nghĩa Da Trắng Là Thượng Đẳng và những tuyên bố mù quáng (bigot). Sự kiện gây ngạc nhiên cho không ít người. Bởi vì đối với các kịch sĩ, ca sĩ, nhạc sĩ, văn-thi-sĩ, họa sĩ, nhất là các tài tử điện ảnh…họ đều có cuộc sống cởi mở, đôi khi phóng túng, buông thả và ít liên hệ tới chính trị. Và nếu có bộc lộ khuynh hướng chính trị thì thường là cấp tiến (Liberal). Vậy tại sao John Wayne lại “dính” vào một vụ tai tiếng như thế này?
Hơn 10 năm trước, chính xác là vào hôm 28 tháng 6 năm 2009, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều có tâm sự (đôi điều) nghe hơi buồn bã: “Khi tiếp xúc với những người nông dân, tôi thường xuyên hỏi về tổng thu nhập mỗi tháng của một khẩu trong một gia đình họ là bao nhiêu. Dù rằng tôi biết họ đang sống một cuộc sống vô cùng vất vả nhưng tôi vẫn kinh ngạc khi nghe một con số cụ thể: ‘Tổng thu nhập một tháng trên một khẩu của chúng tôi là 40.000 đồng.’ Bạn có choáng váng khi mỗi tháng, một người trong mỗi gia đình nông dân chỉ có 40.000 đồng để chi tiêu tất cả những gì họ cần không?
“Lợi ích nhóm”, hay “nhóm lợi ích” là những tổ chức cán bộ, đảng viên có chức, có quyền trong đảng Cộng sản Việt Nam đã chia bè, kết phái để cướp cơm dân và bảo vệ độc quyền cai trị cho đảng. Chúng sinh ra và lớn lên từ Thôn, rồi leo lên Xã trước khi ngoai qua Huyện, ngóc đầu lên Tỉnh để ngênh ngang bước vào Trung ương. Lộ trình quan lộ của “lợi ích nhóm” công khai từ dưới lên trên, từ trung ương xuống cơ sở và từ nhà nước vào doanh nhân, xí nghiệp. Khối Doanh nghiệp nhà nước là ổ tham nhũng phá hoại đất nước và phản bội sức lao động của dân lớn nhất nhưng không bị trừng phạt mà còn được bảo vệ bởi các “Nhóm lợi ích” trong cơ quan đảng và bộ ngành nhà nước.
Không chỉ thường xuyên xua quân đi canh cửa, an ninh Thanh Hóa còn liên tục gửi giấy mời, giấy triệu tập như là một thủ trấn áp tinh thần bà Nguyễn Thị Lành - vợ của Mục sư, TNLT Nguyễn Trung Tôn. Chồng bị bỏ tù, một mình bà Nguyễn Thị Lành phải vất vả gánh vác gia đình. Những ngày qua càng thêm vất vả bởi chăm mẹ chồng lớn tuổi mắc bệnh phải nhập viện, và con bị tật nguyền. Nhưng bà Lành vẫn liên tục bị an ninh tỉnh Thanh Hóa sách nhiễu, đe dọa…
Những người Mỹ gốc Việt bênh hay chống ông là điều bình thường, vì những quyết định cũng như cách hành xử của ông sẽ ảnh hưởng lên đời sống của họ và tương lai con cháu họ, và ngược lại, là công dân HK, họ có trong tay lá phiếu để ảnh hưởng khiến ông Trump có được tiếp tục làm tổng thống nữa không. Do đó, lưu tâm và tham dự vào những đánh giá đúng sai, khen chê, tâng bốc, hay moi móc thói hư tật xấu của người đang ứng cử điều khiển vận mạng quốc gia của họ thêm 4 năm nữa (và sẽ để lại những hậu quả lâu hơn) là hiện tượng bình thường .
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.
Người Việt Phone
Không còn nghi ngờ gì nữa, khẩu trang đã đóng một vai trò trung tâm trong các chiến lược đối đầu với dịch bệnh COVID-19 của chúng ta. Nó không chỉ giúp ngăn ngừa SARS-CoV-2 mà còn nhiều loại virus và vi khuẩn khác.
Hôm thứ Hai (06/07/2020), chính quyền Mỹ thông báo sinh viên quốc tế sẽ không được phép ở lại nếu trường chỉ tổ chức học online vào học kỳ mùa thu.
Đeo khẩu trang đã trở thành một vấn đề đặc biệt nóng bỏng ở Mỹ, nơi mà cuộc khủng hoảng Covid-19 dường như đã vượt khỏi tầm kiểm soát.
Trong khi thế giới đang đổ dồn tập trung vào những căng thẳng giữa Mỹ với Trung Quốc, thì căng thẳng tại khu vực biên giới Himalaya giữa Trung Quốc và Ấn Độ vào tháng 05/2020 đã gây ra nhiều thương vong nhất trong hơn 50 năm.
Ủy ban Tư pháp Hạ viện Mỹ cho biết các CEO của 4 tập đoàn công nghệ lớn Amazon, Apple, Facebook và Google đã đồng ý trả lời chất vấn từ các nghị sĩ Quốc hội về vấn đề cạnh tranh trong ngành công nghệ.