Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Hình Ảnh Tượng Trưng Trong Thơ Sơn Cư (HT Thích Tịnh Từ)

27/06/201500:00:00(Xem: 3412)
Nhà thơ cảm nhận về thiên nhiên khác với người bình thường.. Nhà thơ không nhìn mặt trời như người nông dân, như người thủy thủ, như người công nhân … Mặc dù ai cũng có năm giác quan tiếp nhận ngoại cảnh và ý thức tiếp nhận hình ảnh ký ức, nhưng trí tưởng tượng của nhà thơ phong phú hơn, thường biến ngoại cảnh theo xúc cảm sâu xa thành một thế giới nửa mộng nửa thực với sự sử dụng ngôn ngữ khéo léo.

Mặt trời, mặt trăng, tiếng chim hót ngoài vườn, mùi hoa lan ngào ngạt, làn gió lạnh hay man mát, vị chua của một trái chanh, hình ảnh một thiếu nữ, một hài nhi đối với nhà thơ đều hiện ra như một tượng trưng cho một ý tưởng, một cảm tình, còn đối với người bình thường chỉ có ý nghĩa thực dụng.

Thí dụ, đối với người thợ săn, con nai là một con mồi sẵn sàng nhận một mũi tên, nhưng nhà thơ Lưu Trọng Lư nhìn con nai như một trẻ thơ hồn nhiên.

Em không nghe rừng thu
Lá thu nghe xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Dạp trên lá vàng khô

Đối với người nông dân, mưa có ích để mùa màng tươi tốt, nhưng với nhà thơ thì “trời mưa, cơn mưa” tượng trưng cho một nỗi buồn “Mưa vẫn mưa bay trên từng tháp cổ, dài tay em ấy thuở mắt xanh xao” hay là “Chiều này còn mưa sao em không lại? nhớ mãi trong cơn đau vùi… Đối với người thủy thủ, biển là phương tiện cho tàu di chuyển, nhưng nhà thơ lại biến biển thành tượng trưng cho một nỗi buồn vô biên vô tận “Ngày mai em đi, biển nhớ tên em gọi về, triều sương ướt đẫm cơn mê”..(Trịnh Công Sơn )

Đối với nhà khoa học không gian, mặt trăng là một đối tượng chinh phục cho phi thuyền phóng lên nghiên cứu, nhưng với nhà thơ, mặt trăng muôn đời vẫn tượng trưng cho một cái gì đẹp mơ hồ nhưng trong trắng trinh nguyên, như thi sĩ Tản Đà viết “Đêm nay dẹp lắm chị Hằng ơi, trần thế em nay chán nửa rồi”, hay như thi sĩ Huy Cận “ Vầng trăng từ thuở lên ngôi, năm năm tháng tháng em ngồi quay tơ, em ngồi quay tơ”.

Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ chập chờn giữa mộng và thực. Nhưng thường thì thơ đời diễn tả những tình cảm buồn gây ra do những cành đời chia ly, ngang trái vô thường làm tan nát những mộng tưởng vàng son, nhất là trong tình trường. Nhửng đổ vỡ trong tình yêu nam nữ thường là đề tài vô tận của thi ca.

Như thi sĩ Tản Đà viết “Trận gió thu phong rụng lá vàng---Lá bên hàng xóm lá bay sang---Vàng bay mấy lá năm già nửa----Hờ hững ai xui thiếp phụ chàng” Như thi sĩ Hàn Mặc Tử viết “người đi một nửa hồn tôi chết--- một nửa hồn tôi bỗng dại khờ”. Hay như thi sĩ Đinh Hùng “Trời cuối thu rồi em ở đâu--- Nằm trong đáy mộ chắc em sầu”. Thi sĩ Nguyễn Đình Toàn: “Ngày thần tiên em bước lên ngồi, đã nghe son vàng tả tơi “.. “Thân tiên gãy cánh đêm xuân, bước lạc sa xuống trần, thành tình nhân đứng giữa trời không, khóc mộng thiên đường…”

Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ tượng trưng, nhưng thơ đời thường khác với thơ thiền ở chỗ những hình ảnh tượng trưng trong thơ thiền mang ý nghĩa cao cả vượt lên trên những tình cảm trần thế.

Thí dụ, từ “EM trong thơ đời thường dùng để chỉ một người nữ yêu dấu của một người nam, hay để chỉ một người dễ mến,ít tuổi hơn, nhưng trong thơ Sơn Cư ta thấy xuất hiện nhiều lần chữ “EM” mà được dùng để tượng trưng cho một ý tưởng hay một khái niệm cao xa, thâm sâu nhưng không ở ngoài hay ở trên mình, mà thân thiết ở ngay trong mình.

Hãy đọc bài thơ “Người đã đến”
Em đã đến, từ lâu em đã đến
Dáng hình xưa, như vẫn dáng hình xưa
Đôi mắt Em. đẹp hơn làn thu thủy
Ánh trăng đầy trên những chuyến thuyền không

Chữ “EM” tượng trưng cho Phật Tánh hay Tánh Giác vốn có sẵn trong mỗi chúng sinh từ muôn thuở, nhưng cuộc đời lưu chuyển đã làm chúng sinh xa dần bản lai diện mục của mình. “Nước tràn về loài thủy ngư mở hội” tượng trưng cho dòng đời truân chuyên đầy khổ đau. “Ánh trăng” tượng trưng Chân Tâm sáng ngời nhưng bị che mờ bởi dục vọng, chỉ tròn dầy khi tâm không còn vướng mắc vào trần lao.

Chỉ trong những phút giây hiếm hoi trong đời tỉnh thức đưa chúng sinh gặp lại Tánh Giác nguyên thủy. Giữa Tánh Giác uyên nguyên và ý thức đời thường vẫn có một dòng sông, một cây câu ngăn cách

Mẹ về bên ấy Em ngồi bến cũ
Bến cũ ngàn xưa vẫn một nhịp cầu
Em và tôi còn đôi khi gặp gỡ
Giang đầu cuối xóm chỉ một bờ đê

“Bờ đê”, “nhịp cầu” tượng trưng một ngăn trở, một chướng ngại khiến tâm chúng sinh không trở về được Bổn Tánh của mình. Cái chân tâm, tánh giác sáng ngời từ nguyên thủy chẳng bao giờ tan rã mặc cho bao hình tướng cứ sinh trụ hoại diệt

Bản thân Em hằng hữu và bất sinh

Trong bài thơ “Liên Trì Cảnh Bụt”, ao sen có thực ở Tu Viện Liên Trì tiểu bang Alabama lại là một tượng trưng cho ao sen trên cõi Tây Phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Dà.


Bước chân lên cảnh Liên Trì
Đi trên thật địa dây rồi quê xưa

“Quê xưa” chẳng phải là quê nhà ở Quảng Trị, ở Nha Trang, ở Cần Thơ mà là Chân Tâm thường trụ an lạc ngoài mọi khỏ đau của đời người.

Hồ tâm lặng chiếu trăng ngàn

Mặt hồ tượng trưng cõi tâm, “trăng ngàn” tượng trưng ánh sáng của Tuệ giác, tâm yên tĩnh lặng lẽ không xao động thì Phật tánh mới hiển lộ.

Tam thân xuống cõi đời này
Lô nhô mặt đất nụ đầy thơm hương

Bồ Tát Quán thế Âm với ngàn mắt ngàn tay tượng trưng lực thần thông nhỉn thấy mọi cảnh đời, đưa tay cứu vớt cùng lúc mọi cảnh đời. Những nụ hoa nở khắp mặt đất tượng trưng những hóa thân của Như Lai đem sức sống cho vạn vật.

Dưới ao cá lặn nghe lời kinh thiêng

Cá mà nghe kinh? Đâu phải nghe bằng tai, mà kinh đâu phải tụng bằng lời của cõi nhân gian? Đó là hình ảnh tượng trưng cho Phật tánh hiển lộ ở khắp mọi nơi cho khắp mọi loài chúng sinh.

Vô thường chiếc bóng câu qua

Bóng câu là bóng ngựa vút qua, tượng trưng cho cảnh đời mau sinh mau diệt, chỉ có Tính Giác, Như Lai là mãi mãi không sinh không diệt.

Bài thơ “Bát Nhã Thuyền Không” cũng có nhiều hình ảnh tượng trưng sâu sắc.

Thuyền Bát Nhã qua miền nắng dậy
Trăng lên cao rõi mấy từng không
Anh về bến, chờ Em về với
Trễ chuyến thôi, trễ cả mấy đời

Trí bát Nhã như được nói trong Bát Nhã Ba La Mật Tâm Kinh “Quán tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã Ba La Mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách”, được tượng trưng bằng con thuyền chở chúng sinh đến bờ giác ngộ để diệt mọi khổ đau. “Miền nắng dậy” tượng trưng cho tâm trí trong sáng sạch hết mây mù của lòng tham đắm, giận hờn ngu muội. “Trăng lên cao” tượng trưng chân tâm sáng ngời. “Anh” và “Em” tượng trưng huynh đệ pháp hữu dắt dìu nhau vào đường giác ngộ.

Nhưng dục vọng tràn đầy trong ta như đám sương mù che mặt trời ban mai khiến cho chúng sinh khó lòng thấy được ánh sáng chân tâm, vi thế bánh xe luân hồi sinh tử cứ xoay chuyển vô tận.

Thuyền Bát Nhã, thuyền khách hiếm đợi
Một đôi khi duyên gặp một lẩn
Có khi suốt đời không gặp được
Biết ai cùng để hẹn mai sau

Tính Giác ví như người cha giầu có, còn ý thức giống như đứa con bỏ nhà ra đi lang thang nghèo khổ. Cha nhận ra con trong hình dáng tiều tụy rách rưới nhưng con chẳng hề nhận ra ông trưởng giả giàu có là cha mình nên sợ hãi chạy trốn.

Cha vẫn nhớ con mà con thì cứ hững hờ
Em về bên ấy ngời duyên dáng
Người tình thuở ấy đang đợi chờ

Nhưng muốn về với “Em”,với Phật tánh quang minh mênh mông thì phải tu luyện Trí Bát Nhã

Thuyền Bát Nhã đường về bến giác
Xa niềm đau nỗi khổ tình mê
………….
Thuyền Bát Nhã sẵn chờ đợi bến
Lên đi thôi, chớ có chùn chân
Lên đi, mau, chớ có chậm chờ

Bài thơ “Sương” chứa đựng nhiều hình ảnh tượng trưng rất thâm sâu. Hãy đọc toàn bài một lượt:

Sương qua ngõ vắng cánh buồm lượn
Sương xuống bờ vai gọi mênh mông
Ta ngỡ chìm trong ven bọt biển
Một vực thăm thẳm, một trời không
Sương dậy trên ngàn rung phổ độ
Cánh vạc cất cao mộng hải hồ
Ta ngỡ dăm ba thuyền xuôi ngược
Hóa ra cát bụi tẩm cơ đổ
Sương xuống đầu làng bươm bướm ngủ
Ngọt lịm chung tình tiếng mẹ ru
Tơ tưởng thiên thần về bến hẹn
Mờ ảo vẩng trăng nước ao tù
Sương lảng vảng bay trên hè phố
Trần mình trơ trụi ngọn thu phong
Ta nghe buốt lạnh từ xương tủy
Những sợi tơ mành, những mong manh

Những liên tưởng trong từng câu thơ rất lạ lùng. Thi dụ ngay câu đầu. Hình ảnh “sương qua ngõ vắng” lại móc ngay với hình ảnh “ cánh buồm lộng”. Cánh buốm lộng gió làm liên tưởng đến biển cả bao la với sức gió mạnh mẽ làm căng buồm, làm sao lại liên kết với “sương trong ngõ vắng” ?

Phải chăng màn sương che mờ con ngõ vắng lan tỏa khắp một vùng khiên cho đất trời bị che lấp gây ảo giác về một mặt biển mênh mông không bờ bến? Nhà thơ ở vào một tâm cảnh cô đơn bé nhỏ sợ hãi trước cái mênh mông không bờ bến đó. Giống như từ trên đỉnh núi cao ngã xuống chỉ thấy vực thẳm hun hút không chỗ bám víu.

Ta ngỡ chìm trong ven bọt biển
Một vực thăm thẳm mợt trời không

Toàn bài thơ toát ra cái tâm tình heo hút, không nơi nương tựa, muốn tìm được chỗ bám viu là Phật Tánh thường trụ mà chỉ thấy

Tơ tưởng thiên thần về bến hẹn
Mờ ảo vầng trăng nước ao tù

Rừng vọng tưởng, sương khái niệm che kín lối về giống như bóng trăng trong ao tù là cái tâm chúng sinh đầy phiền não vướng mắc cảnh đời.

Quán chiếu tâm cảnh minh như thế, nhà thơ bỗng thấy sợ hãi

Ta nghe buốt lạnh từ xương tủy
Những sợi tơ mành, những mong manh

Tỉnh thức về cái mong manh của cảnh đời để kịp quay về Tính giác Kim Cương vững bền thường trụ.

Đào Ngọc Phong

Westminster, Ca May 12, 2015

Ý kiến bạn đọc
07/07/201518:15:50
Khách
Các Vị Thiền Sư thường tìm nơi vắng vè núi đồi xa lánh Thị thành đề lập thiên viện, như Thiền Sư Nhất Hạnh, Thiền Sư Thanh Từ...
Thiền Sư Sơn Cư( HT Tinh Từ) là một thí dụ, Thiềnviện Kim Sơn được HT xây dựng ờ cành núi đồi hùng vĩ đầy thơ mộng nên hồn thơ của xứ Huế đã khơi dậy nên Thiền Sư Sơn Cư đã cho chúng ta những tuỵêt tác để Phật tử hải ngoại phát tâm tu hành, nhất là nhóm Sợi Nắng...Cám ơn Phong Đào đã tích dẫn những vần thơ nổi tiếng trong Văn đàn và Âm nhạc,mong tác giả viết thêm nửa... để đoc giả của Việt Báo đươc thưởng thức...
06/07/201503:17:43
Khách
Cám ơn nhà Thiện tri thức đã phân tích cảm nhận sự việc một cách súc tich,nhất là
cảm nhận của Thơ Thiền, nhưng có một góp ý cho vui với tác giả: chữ "EM" trong thơ Thiền đôi lúc cũng nửa Đời nửa Đạo vì mượn thơ để nhắn gởi hoặc giải tỏa một nổi niềm trong tiềm thức chưa XẢ BỎ được ! ? "XA THU, XA THU"
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Phe Biden sẽ dựa vào ngoại giao, thương thuyết và liên minh (alliance) thay vì đánh bài thấu cáy như Trump. Ngược lại cánh diều hâu cho rằng Mỹ thương thuyết bị gạt từ 30 năm nay trong lúc liên minh kiểu ASEAN đã bị Bắc Kinh bẻ gãy. Mỹ không dễ dàng trở lại TPP khi bị cả hai cánh tả Bernie Sander lẫn hữu chống đối. Phần Trump chẳng nhờ cậy nước nào mà lại dấu kín lá bài tủ nên không ai biết Mỹ sẽ giải quyết căng thẳng với Trung Quốc như thế nào, thế giới lo sợ trâu bò húc nhau ruồi muỗi chết.
Ngày xửa ngày xưa, dưới chân Hy Mã Lạp Sơn có một vương quốc trù phú tên gọi Thắng Man. Dù là một vương quốc giàu mạnh nhưng lòng người ở đây không thành thật, sống trên những giá trị giả dối, phù phiếm. Tại ngôi chợ bên ngoài hoàng thành có một người đàn ông sống bằng nghề bán mũ. Mũ của anh chàng này rất đẹp nhưng không hiểu sao hàng ế ẩm nên anh chàng toan tính bỏ nghề, tìm nghề khác sinh sống.
Theo dõi các cuộc tranh luận cộng đồng trên các trang mạng xã hội, có lẽ cũng dễ dàng nhận ra một điều rằng: cộng đồng mạng của người Việt khá bạo lực. Một dạng bạo lực tâm lý, từ trong tâm tưởng và thể hiện qua những mẩu viết, lời bình trên Facebook hay dưới các bài báo. Đặc biệt khi liên quan đến các vấn đề chính trị xã hội, như về chính trường Hoa Kỳ hiện nay chẳng hạn.
Hôm nay, 6 tháng 8 năm 2020, thế giới kỷ niệm lần thứ 75 ngày hai quả bom nguyên tử được ném xuống hai thành phố lớn của Nhật bản: Hiroshima và Nagasaki. Tưởng không cần phải nhắc lại những thiệt hại về người, của và tinh thần người dân Nhật Bản và những hệ quả tai hại khôn lường từ 75 năm qua. Điều cần nói đến là sự quên lãng của nhân lọai về một tai họa nhãn tiền, một tai họa đã xẩy ra cách đây 75 năm, nhưng cũng có thể xẩy ra lần nữa vào bất cứ lúc nào và ở bất cứ nơi đâu.
Sau khi triều đại nhà Thanh sụp đổ và trước năm 1950, khu vực tương ứng với Vùng Tự Trị Tây Tạng (TAR) ngày nay thực tế là một quốc gia độc lập. Đất nước này [Tây Tạng] lúc đó đã tự phát hành tiền tệ và tem, và duy trì các mối quan hệ quốc tế. Tây Tạng tuyên bố có 3 tỉnh (Amdo, Kham và U-Tsang), nhưng chỉ kiểm soát tỉnh Kham phía tây và U-Tsang.
Như nhiều người khác, sự quý mến và ngưỡng mộ ông của tôi có lý do. Xem phim và đọc về ông, thỉnh thoảng lại dịch các bài viết xuất sắc của ông vốn dễ bắt gặp thì chúng thường là các bài nói chuyện sâu sắc, ý nghĩa, lan truyền niềm cảm hứng đến giới trẻ, người dân. Đặc biệt là những diễn từ với giới trẻ, tại các lễ ra trường đại học vào mỗi mùa bãi trường hàng năm.
Tiếng Việt của ta rất phong phú và có ý nghĩa thâm sâu. Khi áp dụng vào chính trị thì nghĩa chữ càng tím ruột, lộn gan lên đầu. Tỷ dụ như khi báo Nhân Dân, tiếng nói chính thức của Đảng và Nhà nước CSVN nghêu gao rằng “dân chủ là bản chất chế độ xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước” (ngày 10/07/2020) thì dân Nam Kỳ Lục Tỉnh biết ngay đó là xạo ke, ba xạo, ba đía, hay là chuyện tào lao thiên địa, bá láp bá xàm.
Trong lịch sử cách mạng tranh đấu giành Độc lập Việt nam gần đây, có 2 Đảng Cách mạng có tuồi thọ cao nhứt là Việt nam Quốc dân Đảng và Đại việt Quốc dân Đảng. Đảng cộng sản tuy xuất hiện năm 1930, sau Việt nam Quốc dân Đảng, nhưng không phải là đảng tranh đấu cách mạng cho Độc lập dân tộc, mà tranh đấu cho quyền lợi của phong trào cộng sản quốc tế. Vì người cộng sản không có dân tộc và không có đất nước riêng của họ.
Đại dịch Vũ hán do virus cộng sản Bắc Kinh gây ra chưa dứt thì nhiều tổ chức, nhiều nước đã lập hồ sơ kiện Xi và đảng cộng sản Trung Quốc về tội dấu xử thật. Trong lúc đó, chánh phủ một số các nước khác cũng bị dân chúng khiếu kiện về tội không bảo vệ hữu hiệu xửc khỏe và đời sống dân chúng.
Sự tăm tối và độ hoang tưởng của các chú – xem ra – cũng ngang ngửa với các bác, chứ chả kém cạnh gì. Cỡ Lê Duẩn, Đỗ Mười, Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Xuân Phúc… e cũng chỉ “ngoan cố” và “ngu dốt” đến cỡ đó là cùng. Tuổi trẻ và những năm du học, ngó bộ, không giúp cho các chú đỡ “gù” hơn các bác bao nhiêu. Vậy mà các chú vẫn được coi như những ngôi sao đang lên (rising stars) trên chính trường nước Việt, một đất nước là vô phúc. Thiệt là họa vô đơn chí!
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.
Người Việt Phone
Không còn nghi ngờ gì nữa, khẩu trang đã đóng một vai trò trung tâm trong các chiến lược đối đầu với dịch bệnh COVID-19 của chúng ta. Nó không chỉ giúp ngăn ngừa SARS-CoV-2 mà còn nhiều loại virus và vi khuẩn khác.
Hôm thứ Hai (06/07/2020), chính quyền Mỹ thông báo sinh viên quốc tế sẽ không được phép ở lại nếu trường chỉ tổ chức học online vào học kỳ mùa thu.
Đeo khẩu trang đã trở thành một vấn đề đặc biệt nóng bỏng ở Mỹ, nơi mà cuộc khủng hoảng Covid-19 dường như đã vượt khỏi tầm kiểm soát.
Trong khi thế giới đang đổ dồn tập trung vào những căng thẳng giữa Mỹ với Trung Quốc, thì căng thẳng tại khu vực biên giới Himalaya giữa Trung Quốc và Ấn Độ vào tháng 05/2020 đã gây ra nhiều thương vong nhất trong hơn 50 năm.
Ủy ban Tư pháp Hạ viện Mỹ cho biết các CEO của 4 tập đoàn công nghệ lớn Amazon, Apple, Facebook và Google đã đồng ý trả lời chất vấn từ các nghị sĩ Quốc hội về vấn đề cạnh tranh trong ngành công nghệ.