Những bước đi vững chắc cho Hoa Kỳ ở Biển Đông

18/03/201507:26:00(Xem: 4653)

Những bước đi vững chắc cho Hoa Kỳ ở Biển Đông

War on the Rocks

Tác giả: John Schaus

Người dịch: Trần Văn Minh

Ngày 19-03-2015


Hoa Kỳ, đồng minh, và các đối tác phải đối mặt với một loạt các thách thức xen kẽ nhau ở Biển Đông. Các thách thức này thể hiện rõ ràng nhất qua việc tạo dựng và mở rộng đảo mới đây (và đang tiếp tục) của Trung Cộng ở Biển Đông.

Sự bồi đắp đảo của Trung Cộng chỉ là triệu chứng của vấn đề thực tế: một khoảng trống quyền lực đáng kể ở khu vực Biển Đông.


Hoa Kỳ đã giảm bớt phần lớn sự hiện diện ở vùng biển này trong vòng 20 năm qua. Trong khi sức mạnh tổng thể của Hải quân Mỹ tiếp tục gia tăng với mỗi tàu chiến mới, các tàu mới hơn, cấu trúc linh hoạt hơn thì đắt tiền hơn. Trong ngôn ngữ của Bộ Quốc phòng, Hải quân đã dành ưu tiên cho khả năng trên số lượng, với kết quả là giảm hơn 20 phần trăm trong tổng số tàu hải quân từ năm 1995. Kết hợp với nhu cầu đòi hỏi Hải quân Mỹ phải có mặt ở các vùng biển xung quanh Trung Đông, Hoa Kỳ còn lại ít "ngày hiện diện" hơn ở những nơi khác trên thế giới.


Trong ý nghĩa quyền lực cứng, sức mạnh hải quân và tuần duyên của các quốc gia ven Biển Đông vô cùng hạn chế. Ngoài ra, họ không muốn có những hành động có thể đặt họ vào thế đối kháng trực tiếp với Trung Cộng. Sự miễn cưỡng đó có thể do, ít nhất là một phần, thực tế Trung Cộng là đối tác thương mại hàng đầu của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Ngay cả nếu xem xét ý muốn của các quốc gia theo đuổi lợi ích của mình dựa vào luật pháp quốc tế, vụ kiện lên tòa trọng tài được chú ý của Philippines (mà ban đầu đã gây rất nhiều tranh cãi giữa các nước ASEAN) chỉ xác định những thực thể biển nào tranh cãi tại tòa - chứ không phải ai sở hữu chúng, nhưng "có thể nào chúng được sở hữu?"


Kết hợp lại, những yếu tố này chừa lại một khoảng trống quyền lực đáng kể trong khu vực Biển Đông. Trong khi Việt Nam, Philippines, Malaysia, và Indonesia đều gia tăng chi tiêu vào khả năng hàng hải, những nỗ lực của họ sẽ cần phải được tiếp tục duy trì trong ít nhất một thập niên nữa mới có đủ năng lực và nhân lực để có sự hiện diện ở vùng biển tuyên bố của họ ở Biển Đông. Mira Rapp-Hooper đã đúng khi nhấn mạnh sự cần thiết phải đẩy mạnh nỗ lực xây dựng tiềm năng của Mỹ về sự nhận thức lãnh vực hàng hải. Tài liệu nói rằng, 35 năm tăng trưởng kinh tế của Trung Cộng, và 20 năm với 10 phần trăm hoặc hơn hàng năm gia tăng chi tiêu quốc phòng đã cho phép họ lấp đầy khoảng trống. Nếu xu hướng này tiếp tục, khung cảnh chiến lược trong tương lai ở Biển Đông sẽ khác biệt đáng kể và không giống như ngày hôm nay, sẽ không còn cơ hội để diễn giải.


Các sự kiện gần đây rõ ràng cho thấy Trung Cộng đang củng cố tuyên bố của họ như một thực tế (de facto), nếu không muốn nói là có chủ quyền (de jure). Nhưng phải chăng sẽ là điều rất không hay cho Mỹ nếu Trung Cộng kiểm soát thủy sản và các nguồn tài nguyên của Biển Đông? Dù sao, Trung Cộng vẫn khẳng định họ không tìm cách cản trở sự giao thông thương mại tự do trong vùng Biển Đông.


Mặc dù cam kết công khai của Trung Cộng bảo đảm thương mại tự do, họ đã chứng minh cả khả năng lẫn ý muốn trong việc sử dụng các công cụ kinh tế làm phương tiện trừng phạt để đạt các mục tiêu quốc gia. Ví dụ như, Trung Cộng đã ngưng xuất khẩu các nguyên tố đất hiếm, cần thiết cho pin và các máy móc điện tử cao cấp khác, sang Nhật Bản trong một cuộc tranh cãi năm 2010 về việc một thuyền trưởng tàu đánh cá Trung Cộng bị [Nhật] bắt giữ. Vào thời điểm đó, Trung Cộng kiểm soát 93 phần trăm nguồn cung toàn cầu của đất hiếm.


Trung Cộng có lợi ích chính đáng trong việc duy trì lưu thông thương mại liên tục qua Biển Đông, với một phần lớn hàng nhập khẩu đi qua vùng biển này. Tuy nhiên, Nhật Bản và Hàn Quốc đều có cùng mối quan tâm trong lưu thông thương mại tự do, và thậm chí còn lệ thuộc tài nguyên nhập khẩu nhiều hơn Trung Cộng. Khoảng 50 phần trăm vận chuyển hàng hải toàn cầu hàng năm đi qua Biển Đông. Nếu Trung Cộng  kiểm soát vùng Biển Đông, không thể chắc chắn rằng họ sẽ không dùng các chiến thuật kinh tế mạnh tay tương tự như đã được sử dụng đối với Nhật Bản để đạt mục tiêu của họ.

Thúc đẩy các nguyên tắc pháp trị và sự tiếp cận bình đẳng cho tất cả các quốc gia đối với các khu vực hàng hải chung sẽ đòi hỏi một loạt các hoạt động toàn diện hơn rất nhiều từ phía Hoa Kỳ.

Sự cần thiết đầu tiên, như ghi nhận của một số người đóng góp vào trang “War on the Rocks”, là Hoa Kỳ sẽ cần phải theo đuổi các chính sách để chứng tỏ với Trung Cộng rằng các hành động của họ ở Biển Đông sẽ làm gia tăng xung đột. Một khi Trung Cộng thấy ít có nguy cơ leo thang xung đột trong hành động của họ, họ sẽ có ít lý do để giảm bớt sự khiêu khích.

Thứ nhì, bạn đồng nghiệp của tôi Zack Cooper đã đúng khi cho rằng Hoa Kỳ cần “vỏ tàu xám cho vùng biển màu xám”. Để thực sự có hiệu quả, Hoa Kỳ (và các nước ở Đông Nam Á) cũng cần nhiều tàu hơn để họ có mặt thường xuyên hơn với thời gian lâu hơn. Làm như vậy sẽ đòi hỏi Hoa Kỳ phải xem xét kỹ lưỡng các quy tắc đối đầu, và phạm vi quyền hành giao phó cho thuyền trưởng.

Thứ ba, Hoa Kỳ phải chứng tỏ sự tiến bộ trên mặt trận kinh tế. Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) cần phải được ký kết trong năm nay. Để cho Hoa Kỳ được xem như là một đối tác kinh tế có khả năng (và không chỉ là một người bảo đảm an ninh), TPP là bước đáng tin cậy tối thiểu. Ngoài ra, Hoa Kỳ cần phải xác định các hướng đi rõ ràng để thúc đẩy đầu tư của Mỹ vào các nền kinh tế đang phát triển ở Đông Nam Á và Nam Á, và nên làm việc với các nước trong khu vực này để thúc đẩy sự thực thi pháp luật và tôn trọng hợp đồng để các doanh nghiệp nhìn thấy môi trường kinh doanh trong sáng hơn.

Thứ tư, Hoa Kỳ nên mời các học giả pháp lý từ khắp khu vực và cộng đồng có quan tâm rộng lớn hơn để phát triển một dự án cho tình trạng pháp lý (độ cao, bãi đá, hải đảo) của mỗi thực thể biển ở vùng Biển Đông. Các nước sẽ được tự do tranh luận về các quan điểm khác nhau, nhưng điều này sẽ là một cơ chế hữu ích cho các quốc gia để giảm căng thẳng mà không cần trực tiếp đối đầu với các tuyên bố chủ quyền của nhau.

Cuối cùng, Hoa Kỳ phải đưa ra một viễn ảnh về một Biển Đông hoạt náo và mở rộng như thế nào. Hiện nay, lợi ích quốc gia toàn bộ kết hợp với nguồn tài nguyên và những cản trở chính trị đã ngăn cản các nước xung quanh Biển Đông làm việc với nhau để đạt tới kết quả tích cực. Hoa Kỳ phải hợp tác với các quốc gia ven biển để xây dựng một lý do để các nước trong khu vực thấy rằng sẽ có lợi hơn hại khi làm việc với nhau.

Nếu Hoa Kỳ không sẵn sàng thực hiện những hành động này, hay một kế hoạch tham vọng tương tự, thì tất cả chúng ta nên bắt đầu điều chỉnh theo một Biển Đông bị kiểm soát theo cách của Trung Cộng, chứ không phải theo luật quốc tế.

Về tác giả: John SCHAUS là thành viên trong Chương trình An ninh Quốc tế tại CSIS, nơi ông tập trung vào các vấn đề quốc phòng và an ninh trong khu vực Á Châu - Thái Bình Dương. Từ 2011-2014, ông làm việc tại Văn phòng Phụ tá Bộ trưởng Quốc phòng về các vấn đề an ninh Á Châu và Thái Bình Dương tại Bộ Quốc phòng.

Chống Tàu Diệt Việt Cộng
.
,

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Sau nhiều ngày, với nhiều “phương án cứu hộ” rất nặng phần trình diễn của nhà nước Việt Nam, chung cuộc, giới truyền thông của xứ sở này đã đồng loạt (và ái ngại) loan tin: “Bé Hạo Nam đã tử vong!”
Hôm đầu tháng Hai DL vừa qua, một chiếc khinh khí cầu kích thước bằng 3 chiếc xe buýt bay vào không phận Mỹ và đã đặt chính quyền Biden cũng như hệ thống phòng ngự Bắc Mỹ vào tình trạng báo động. Chỉ vài tiếng đồng hồ sau người ta biết đích xác đó là khinh khí cầu do thám của Trung quốc, và ngay tức khắc, thông tin này tràn ngập TV, báo chí, mạng xã hội...
Đầu năm mới Qúy Mão không ai muốn nghe chuyện xui, nhưng dân gian và báo chí của đảng CSVN lại chỉ nói đến những nguy cơ tiềm ẩn đang đe dọa sự sống còn của chế độ...
✱ HĐ Tham Mưu Trưởng LQ/JCS: Tổng thống Kennedy và Johnson đều không tin tưởng vào các cố vấn quân sự của họ, vì cho rằng các tướng lĩnh và đô đốc thiếu sự tinh tế về mặt chính trị - Giới quân sự bất bình vì "coi lực lượng quân sự là công cụ để thương lượng về mặt ngoại giao". ✱ McNamara: Một khi bổ sung quân số sẽ tăng thêm chi phí về nhân sự, về chính trị và kinh tế do cuộc chiến gây ra, làm suy giảm khả năng của quốc gia một khi cuộc chiến kéo dài. ✱ JCS: McNamara chủ trương tìm kiếm một giải pháp hòa đàm về cuộc chiến - thúc giục Hà Nội đi đến bàn đàm phán hòa bình...
Cái thời bao cấp (thổ tả) ấy, may quá, đã xa như dĩ vãng. Sau khi Đảng dũng cảm nhìn vào sự thực, quyết tâm đổi mới toàn diện, và cương quyết bẻ lái con tầu tổ quốc (theo hướng kinh tế thị trường) thì bộ mặt của xã hội đã hoàn toàn thay đổi ...
Hiệp định về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết ngày 27 tháng 1 năm 1973 tại Paris, gồm có 9 chương và 23 điều khoản. Nội dung mà Chính phủ Hoa Kỳ, Chính phủ VNDCCH, Chính phủ VNCH và Chính phủ CMLTMNVN đồng thuận không phải là thoả hiệp giữa hai phe thắng và thua, mà nhằm quy định việc ngưng mọi cuộc giao tranh, Hoa Kỳ rút quân trong vòng 60 ngày ra khỏi Việt Nam, QĐNDVN được ở lại miền Nam; bù lại, Hà Nội trao trả các tù binh Hoa Kỳ, VNCH và MTGPMN cùng hoạt động trên lãnh thổ của mình...
Tại sao rất ít người Việt đọc sách Việt? Tôi muốn nói đến sách văn chương, sách triết học, sách khoa học. Đây là ba nguồn kiến thức, tư tưởng lớn của nhân loại. Nếu lấy ra hết ba loại hiểu biết này, con người chỉ là đàn bò nhai lại và tranh cãi. Nếu một người không có hiểu biết nào từ ba nguồn cung cấp trên, người đó không thể khác hơn con bò. Tuy nhiên, việc này không bao giờ xảy ra.
Hôm thứ Sáu 13/1/2023 vừa qua, Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden tiếp Thủ tướng Kishida Fumio của Nhật Bản tại phòng Bầu Dục Tòa Bạch Ốc. Chương trình nghị sự của hai nguyên thủ quốc gia hẳn phải đề cập đến hiểm họa an ninh từ Trung quốc, mà cả hai quốc gia trong thời gian những năm gần đây đều đặt lên trọng tâm hàng đầu
Làm sao để giữ vững tư tưởng trong Quân đội và Công an là vấn đề sống còn năm 2023 của đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN). Lý do vì năm con Mèo (Quý Mão) có Hội nghị Trung ương giữa nhiệm kỳ Khóa đảng XIII, dự trù vào khoảng tháng Sáu, để bỏ phiếu tín nhiệm các cấp Lãnh đạo từ Trung ương xuống địa phương. Cuộc bỏ phiếu này sẽ là cơ hội cho các cấp tranh đua, chạy chức, chiếm quyền lãnh đạo. Và kết quả cuộc bỏ phiếu này sẽ đặt nền tảng cho Đại hội đảng khóa XIV để bầu lên Tổng Bí thư và Bộ Chính trị mới nhiệm kỳ 2026-2031...
Chứ chả lẽ cái chết thảm thiết của bà Cát Hanh Long và của hàng bao nhiêu triệu lương dân khác nữa (ở khắp ba miền đất nước, từ hơn nửa thế kỷ nay) thì đất/trời có thể dung tha được hay sao?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.