Hôm nay,  
Việt Báo Online

Học Giả, Dịch Giả Olgar Dror Viết Về Nhã Ca & ‘Giải Khăn Sô Cho Huế’ (Kỳ 6)

10/02/201518:58:00(Xem: 6647)
Học Giả, Dịch Giả Olgar Dror Viết Về Nhã Ca & ‘Giải Khăn Sô Cho Huế’ (Kỳ 6)

Nguyên tác Anh ngữ: Olga Dror
Bản dịch Việt ngữ: Huỳnh Kim Quang

image002Như toàn văn lịch sinh hoạt tại Berleley đã phổ biến, Thứ Tư 25 tháng Hai 2015, nhằm ngày mùng bảy Tết Ất Mùi, sách “Mourning Headband for Huế” --từ nguyên tác tiếng Việt “Giải Khăn Sô Cho Huế” của Nhã Ca -- chính thức thành đề tài thảo luận tại Đại Học Berkeley, với hai diễn giả chính là Nhã Ca, người viết, và Olga Dror, người dịch.
February 2015
Mourning Headband for Hue
Reading - Literary | February 25 | 4-6 p.m. | 180 Doe Library
Featured Speaker: Nha Ca, writer
Speaker: Olga Dror, Associate Professor of History, Texas A & M University
Sponsor: Center for Southeast Asia Studies
This book event will highlight the new English-language translation of prominent Vietnamese writer Nha Ca's memoir Giai khan so co Hue, which was first published in 1969 as an eyewitness chronicle of the suffering of Vietnamese civilians caught in the city of Hue during the 1968 Tet offensive.
This event will include remarks on the translation by Prof. Olga Dror, the book's translator [in English], and commentary about the book itself by Nha Ca [in Vietnamese, with English language translation provided]
Nha Ca was born in Hue, Vietnam in 1939, but moved to Saigon after her marriage where she established a literary career. After the fall of South Vietnam in 1975, Nha Ca was incarcerated by the new national government. She was allowed to emigrate to the West with her family in 1989 and now lives in southern California.
Olga Dror was born in the Soviet Union and received an M.A. in Oriental Studies from Leningrad State University in 1987. She emigrated to Israel in 1989, and later moved to the U.S. to study Vietnamese history at Cornell University. She received her Ph.D. from Cornell in 2003, and has been a member of Texas A&M's faculty since 2004. Event Contact: cseas@berkeley.edu, 510-642-3609; 322 Wheeler Hall. Berkeley CA 94720 :: 510.642.3467 UC Berkeley.
Tuy giỏi nhiều ngôn ngữ và từng trực tiếp dịch bút ký truyền giáo ở Việt Nam của Linh Mục Adriano di Santa Thecla từ tiếng La Tinh, hay bút ký chạy loạn Huế Mậu Thân của Nhã Ca từ Việt ngữ sang Anh ngữ, công việc chính của Olga Dror là nghiên cứu và giảng dạy về lịch sử Việt Nam tại Texas A&M University. Đó là lý do trong ấn bản Mourning Headband for Hue, ngoài phần dịch thuật, Olga Dror còn có thêm “Translator’s Introduction”, (Giới Thiệu của Dịch Giả) bổ cứu công phu, phân tích tỉ mỉ các quan điểm về Chiến Tranh Việt Nam và trận chiến Huế. Sau đây là bản dịch bài viết công phu của bà về “Giải Khăn Sô cho Huế” và tác giả Nhã Ca.

image007III. Tết Mậu Thân tại Huế và Giải Khăn Sô cho Huế trong bối cảnh chính trị của Mỹ

Ngày 12 tháng 11 năm 1969, ký giả Seymour Hersh báo tin câu chuyện Mỹ Lai cho hãng thông tấn AP, và ngay tức thì sau đó tin tức này đã xuất hiện trong nhiều báo chí lớn, gồm báo Time và Newsweek. Tin tức về biến cố kinh hoàng tại Mỹ Lai, đi theo với những hình ảnh đồ họa của tội ác, đã chiếm lĩnh sự chú ý của quần chúng Mỹ. Người Mỹ tức thì thất kinh vì những hành động của những gã đàn ông đồng hương với họ tại Việt Nam, và các nạn nhân Mỹ Lai của người Mỹ đã đẩy các nạn nhân của Cộng Sản tại Huế ra khỏi truyền thông Mỹ, và xa hơn nữa, ra khỏi sự chú ý của quần chúng Mỹ và thế giới.(49)
Stanley Karnow, ký giả và nhà sử học, tác giả cuốn sách được trích thuật và khen ngợi rất nhiều là cuốn Vietnam: A History [Việt Nam: Thiên Lịch Sử], và sau đó làm phóng viên trưởng cho loạt truyền hình 13 giờ PBS về cuộc chiến tại Việt Nam, đã mô tả phản ứng của công dân Mỹ đối với bi kịch Huế trong thời gian chiến cuộc: “Một cách nghịch lý, quần chúng Mỹ không nhìn thấy những tội ác này, mà bận tâm đến sự kiện tại Mỹ Lai [nguyên văn].”(50)

Tết Mậu Thân, Douglas Pike, Gareth Porter, và Chính Trị Mỹ Trong Thời Chiến Tranh

Thay vì trở thành hiểu biết thông thường, như được xảy ra với Mỹ Lai, và thay vì trở thành một điểm phán xét nghiêm túc về bản chất của chiến tranh, các sự kiện tại Huế lại trở thành một quả bóng chính trị. Cả hai cánh chính trị Mỹ đều sử dụng nó trong các đấu đá liên tục.
Trong khi đó cuốn sách của Don Oberdorfer về Trận Tấn Công Tết, được xuất bản năm 1971, cung cấp thông tin tự nhiên hơn về các sự kiện tại Huế, hai người khác chứng thực là có uy thế đặc biệt trong việc cung cấp những lý lẽ đối với các cuộc vận động tranh cử. Một là Douglas Pike, đã góp phần vào việc đưa ra ánh sáng các sự kiện đã xảy ra tại Huế. Là một ký giả chuyên nghiệp, Pike gia nhập vào Cơ Quan Thông Tin Hoa Kỳ tại Việt Nam vào năm 1960 và ở đó nhiều năm. Vào năm 1968, ông cũng đang làm việc cho Bộ Ngoại Giao và vào thời điểm Trận Tấn Công Tết đã thu thập nhiều tài liệu và đã viết một số tác phẩm quan trọng về Việt Nam, về các chiến lược của Cộng Sản, và về Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng.(51) Sau Tết ông thực hiện cuộc nghiên cứu, sử dụng các tài liệu lấy được từ Việt Cộng, và đưa ra những khám phá được phổ biến trong các cuộc phỏng vấn và trong các cuốn sách viết đặc biệt về Tết và, sau chiến tranh, về Chủ Nghĩa Cộng Sản tại Việt Nam nói chung.(52) Ông cho rằng Cộng Sản chịu trách nhiệm về cuộc thảm sát tại Huế, giết chết hàng ngàn người khi họ kiểm soát thành phố.
Các chính trị gia dùng quan điểm của Pike, cũng như một số phúc trình được công bố lúc bấy giờ, để cho rằng một cuộc tàn sát đẫm máu chắc chắn xảy ra sau đó tại Việt Nam nếu Cộng Sản thôn tính cả nước.(53)
Trong bài diễn văn nổi tiếng “hòa bình với danh dự” đọc vào ngày 3 tháng 11 năm 1969, Richard Nixon dùng Huế như sự bào chữa cho việc bác bỏ cuộc rút quân bất ngờ khỏi Việt Nam: “Chúng ta đã chứng kiến màn mở đầu của những gì xảy ra tại Nam Việt Nam khi Cộng Sản vào thành phố Huế hồi năm rồi. Trong thời gian ngắn mà họ cai trị ở đó, có một triều đại khủng bố sắt máu mà trong đó 3,000 thường dân bị đánh đập, bị bắn chết, và bị chôn trong các mồ tập thể.”(54) Một tháng sau, Thượng Nghị Sĩ George Murphy từ California đưa ra cùng ý tưởng tại Quốc Hội,(55) trích thuật một bài báo trong tờ the Los Angeles Times, mà Douglas Pike lấy làm nguồn tài liệu chính.(56)
Đối thủ của Pike là Gareth Porter, nhà hoạt động phản chiến, nhà khoa học chính trị, và ký giả. Ông này làm việc tại Việt Nam trong vai trò trưởng văn phòng tại Sài Gòn cho Cơ Quan Gửi Tin Tức trong năm 1970 và 1971.
Ngay cả trước khi rời Việt Nam, ông cũng không chịu xem các sự kiện tại Huế như là thảm sát. Năm 1969, khi là sinh viên hậu đại học tại Đại Học Cornell, ông là đồng tác giả một bài báo trong sách Christian Century [Thế Kỷ Thiên Chúa Giáo] cho rằng các vụ giết người tại Huế được thực hiện trên phạm vị nhỏ hơn như được tường trình và là “sự trả thù của một quân đội đang rút lui và không phải là chính sách chủ tâm của Hà Nội.”(57) Như với những phát hiện của Pike, quan điểm của Porter đã bị các chính trị gia nắm lấy. Ngày 19 tháng 5 năm 1970, trong phản ứng lại lý lẽ của Nixon về cuộc tàn sát có thể xảy ra trong trường hợp Cộng Sản chiến thắng, được lập lại bởi tổng thống trong thời gian họp báo vào ngày 8 tháng 5 năm 1970, Thượng Nghị Sĩ Mark Hatfield của tiểu bang Oregon gợi lại quan điểm của Porter bằng việc trích bài báo của phóng viên Tom Wicker của báo New York Times về các sự kiện tại Huế, chỉ dựa trên một phần về năm 1969 trong sách Christian Century của Porter.(58)
Sau khi trở lại từ Việt Nam vào năm 1972, nhà nghiên cứu tại Đại Học Cornell, xuất bản tác phẩm bác bỏ lời tuyên bố rằng Cải Cách Ruộng Đất tại Việt Nam từ năm 1953 tới 1955 đã đưa đến một cuộc tắm máu lấy mạng của hàng ngàn người dân.(59) Trong tác phẩm sau đó ông tiếp tục bày tỏ quan điểm về các sự kiện tại Huế và cố bác bỏ quan điểm của Pike.
Năm 1973 Porter viết rằng: “Đối với những nhà biện hộ chuyên nghiệp của chủ nghĩa đế quốc của Mỹ, Huế rõ ràng đã phục vụ như là khẩu hiệu giúp họ bào chữa những năm tháng của tội ác chiến tranh của Mỹ. Nhưng đó là công việc của Cơ Quan Tình Báo Hoa Kỳ và Ban Giám Đốc Chiến Tranh Chính Trị của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, những người sử dụng cả cuộc vận động công khai và chính thức và nhiều phương cách thủ đoạn nửa úp nửa mở, như xuyên tạc các tài liệu tịch thu được với báo chí và bịa đặt ra những chứng cớ của các người lính đào ngũ để hậu thuẫn cho báo cáo chính thức.”(60) Năm 1974 ông viết rằng: “Một nghiên cứu cẩn thận của câu chuyện chính thức về ‘cuộc thảm sát’ tại Huế trên một mặt, và về chứng cứ từ các nguồn độc lập hay chống Cộng trên mặt khác, cung cấp một cái nhìn tổng quan vào các nỗ lực của báo chí Hoa Kỳ để giữ lại những sợ hãi kinh hoàng về một cuộc tàn sát ‘đẫm máu.’”(61) Các chính trị gia phản chiến sử dụng tác phẩm năm 1974 này trong những cuộc tranh luận của họ để thoát ra khỏi Việt Nam. Chẳng hạn, Thượng Nghị Sĩ George McGovern của tiểu bang South Dakota tố cáo chính phủ Nixon dùng những sự kiện tại Huế như là cái cớ để tiếp tục chuyện người Mỹ liên lụy ở đó [Việt Nam]; ông đi xa tới mức quy chụp những vụ giết người tại Huế như “được gọi là thảm sát tại Huế.”(62)
Để hậu thuẫn cho lập luận của mình, Porter trích dẫn bản thảo chưa được ấn hành bởi Alje Vennema, như được đề cập ở trên.(63) Sự thực là cho đến các sự kiện Tết Mậu Thân tại Huế, Vennema đã là người có cảm tình nồng hậu với Cộng Sản. Theo Vennema, ông kinh hãi bởi chiến tranh và sự liên lụy của Mỹ. Ông cảm thấy rằng, “Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng chỉ đưa ra giải pháp đối với sự tham nhũng và chiến tranh triền miên.” Nhưng Vennema đã ở Huế khi bi kịch mở ra, và nó đã thay đổi đáng kể quan điểm của ông. Ông nhớ lại sau đó rằng, “Tuy nhiên, việc tôi ở lại Huế cho tôi thấy một khía cạnh khác của chiến tranh, mà kẻ thù đã không cần biết đến sinh mạng con người – qua việc bắt những người ngoài cuộc vô tội, loại trừ họ bằng máu lạnh, hay để họ chết dần chết mòn trong các trại tù ở rừng sâu nước độc cho đến chết mới cứu họ.”
(Còn tiếp)


(49) Có một vài ngoại lệ. Thí dụ, báo Time ở London đã đăng một phúc trình điều tra được thực hiện bởi Stewart Harris, một phóng viên của báo the London Times, dưới tựa đề “An Efficient Slaughter” [Cuộc Tàn Sát Dữ Dội], xác nhận những vụ hành hình tại Huế (xem số báo ngày 5 tháng 4 năm 1968, trang 36).
(50) Stanley Karnow, Vietnam: A History [Việt Nam Thiên Lịch Sử] (Nxb Viking Press, New York, 1983), trang 530; sách được tái bản vào năm 1987 và 1997.
(51) Thí dụ, Douglas Pike đã viết trong các tác phẩm như sau: Documents on the National Liberation Front of South Vietnam (1959-1966) [Tài Liệu Về Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam] (Chicago: Center for Research Libraries, 1967); National Development in Vietnam: 1967 [Sự Phát Triển Quốc Gia Tại Việt Nam: 1967] (U.S. Information Service, Sài Gòn, 1967); Viet Cong: The Organization and Technique of the National Liberation Front of South Vietnam [Việt Cộng: Tổ Chức và Kỹ Thuật của Mặt Trận Giải Phóng Dân Tộc Miền Nam Việt Nam] (Altma Ram and Sons, Delhi, 1966); Politics of the Viet Cong [Quan Điểm Chính Trị Của Việt Cộng] (Saigon, 1968).
(52) Pike cũng viết Catalog of Viet Cong Documents [Danh Mục Tài Liệu Của Việt Cộng] (Saigon, 1969) và Hanoi’s Strategy of Terror [Chiến Lược Khủng Bố Của Hà Nội] (Bangkok: South-East Asia Treaty Organization, 1970). Thêm các tác phẩm tổng quát của ông: War and Peace and the Viet Cong [Chiến Tranh và Hòa Bình và Việt Cộng] (Cambridge, MA: MIT Press, 1969); History of Vietnamese Communism, 1925-1976 [Lịch Sử Chủ Nghĩa Cộng Sản tại Việt Nam Từ Năm 1925 tới 1976] (Nxb Hoover Institution Press, Stanford, CA, 1978); PAVN: People’s Army of Vietnam [Quân Đội Nhân Dân Việt Nam] (Nxb Presidio Press, Novato, CA, 1986).
(53) Các vụ tàn sát tại Huế cũng được trình bày trong Oberdorfer, Tet! Một chương trong sách này có đề mục “Death in Hue” [Chết Chóc Tại Huế] (trang 197-235) đề cập đến một phần với những kinh nghiệm của người dân trong thời gian trận chiến. Don Oberdorfer sau đó là phóng viên cho báo the Wahington Post. Công tác lần thứ 3 của ông tại Đông Dương trùng hợp vào Trận Tấn Công Tết. Hosmer, Viet Cong Repressiion, [Sự Đàn Áp Của Việt Cộng], cũng cung cấp số lượng thông tin và phân tích đáng kể.
(54) “Televised Address to the Nation” [Diễn Văn Truyền Hình Toàn Quốc], vào ngày 3 tháng 11 năm 1969, được đăng lại trong nhiều tờ báo. Trích thuật ở đây là từ báo New York Times, ngày 4 tháng 11 năm1969, “Text of President Nixon’s Address to the Nation on U.S. Policy in the War in Vietnam” [Bản Văn Bài Diễn Văn Của Tổng Thống Nixon Với Toàn Quốc Về Chính Sách Của Hoa Kỳ Trong Chiến Tranh Việt Nam].
(55) Hồ Sơ Quốc Hội, ngày 10 tháng 12 năm 1969, trang 38223.
(56) Robert S. Elegant, “Hue Massacre Effort to Destroy Entire Society – Authority Says Murders Were According to Plan and Perhaps 6,000 Died” [Thảm Sát Huế Nỗ Lực Tiêu Diệt Toàn Xã Hội – Giới Chức Thẩm Quyền Nói Rằng Những Kẻ Sát Nhân Có Kế Hoạch Và Có Lẽ 6,000 Người Chết], Los Angeles Times, ngày 6 tháng 12 năm 1969.
(57) D. G. Porter và L. E. Ackland, “Vietnam: The Bloodbath Argument” [Việt Nam: Trận Chiến Đẫm Máu], Christian Century, ngày 5 tháng 11 năm 1969.
(58) Hồ Sơ Quốc Hội, ngày 19 tháng 5 năm 1970, trang 16061; Tom Wicker, “In the Nation: Mr. Nixon’s Scary Dreams” [Chuyện Quốc Gia: Những Giấc Mơ Hãi Hùng Của Nixon], New York Times, ngày 12 tháng 5 năm 1970, trang 38.
(59) Gareth Porter, The Myth of the Bloodbath: North Vietnam’s Land Reform Reconsidered [Huyền Thoại Tắm Máu: Xét Lại Cải Cách Ruộng Đất Tại Bắc Việt] (Cornell University, International Relations of East Asia Project [Quan Hệ Quốc Tế Của Kế Hoạch Đông Á], Ithaca, NY, 1972).
(60) “National Liberation Front Political Operations (DV): Hue ‘Massacre’” [Hoạt Động Chính Trị của Mặt Trận Giải Phóng Dân Tộc: Vụ Tàn Sát Tại Huế], Porter MSS on the Hue Massacre – Tháng 4 năm 1973, trang 6, tập hồ sơ 13, hộp 13, Douglas Pike Collection: Unit 05 – National Liberation Front, The Vietnam Center and Archive, Texas Tech University, http://www.vietnam.ttu.edu/virtualarchive/items.php?item=2311313038 (truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2013).
(61) D. Gareth Porter, “The 1968 ‘Hue Massacre’” [Thảm Sát Tại Huế Năm 1968], IndochinaChronicle 33 (Ngày 24 tháng 6 năm 1974). Cũng xin xem D. Gareth Porter và Edward S. Harman, “The Myth of the Hue Massacre” [Huyền Thoại Vụ Thảm Sát Tại Huế], Ramparts 13, số 8 (Tháng 5 và 6 năm 1975), trang 1-4.
(62) Hồ Sơ Quốc Hội, ngày 19 tháng 2 năm 1975, trang 3515.
(63) Porter, “The 1968 ‘Hue Massacre’” [Thảm Sát Tại Huế Năm 1968], trang 1.

16/11/2019(Xem: 695)
Không biết đã bao lần tôi suýt đầu hàng sức quyến rũ muốn trở thành người “da trắng” để hòa nhập vào xã hội chung quanh tôi. .. Mùa Tết, tôi không chịu mặc chiếc áo dài ưng ý nhất đi học vì sợ bị chê cười.
16/11/2019(Xem: 655)
Năm đó, khi chỉ còn hai tuần là bắt đầu vào năm học cuối của chương-trình tiểu học của tôi thì cha mẹ tôi chuyển nhà. Nhà cha mẹ tôi ở thuộc vùng Nam thành-phố Paris, nay cha mẹ tôi phải dọn nhà về vùng Bắc Paris.
16/11/2019(Xem: 226)
Căn nhà tịch mịch vô cùng, tiếng thạch sùng tặc lưỡi trên tường nghe như tiếng nhắc nhở vô hình vọng laị.
16/11/2019(Xem: 251)
Thu là mùa riêng của thi nhơn hay còn của Cách mạng? Mùa Thu 1989, nhơn dân Cộng Hòa Dân chủ Đức đứng lên viết lịch sử dân tộc.
15/11/2019(Xem: 1133)
Đọc Trí Quang Tự Truyện, chúng ta thấy tình Mẹ như là một hạnh nguyện Bồ Tát để Ôn thành bậc Cao Tăng. Mẹ là chất liệu yêu thương xây thành đài hoa rực rỡ để Ôn ngự tọa suốt một đời làm Thầy tu.
15/11/2019(Xem: 967)
Thắm thoát đã trải qua năm mươi năm xa quê hương, xa thầy, xa bạn, xa chùa. Nhưng sáng sớm hôm qua, sau khi thức dậy, mở radio nghe tin buồn về Đại Lảo Hòa Thượng Trí Quang đã thu thần thị tịch một cách tự tại và Ngài đã để lại di chúc, tang lễ thật đơn giản, không nhận tràng hoa và phúng điếu.
15/11/2019(Xem: 215)
Nếu “quyền lực chánh trị” đã vượt khỏi phạm vi hoạt động, nếu “nền dân chủ” đã bị tướt đoạt bởi một nhóm người chánh trị toàn quyền, một hệ thống quan liêu, cửa quyền toàn trị hay những nhóm thế lực độc tài
15/11/2019(Xem: 313)
Đối với một người đã giác ngộ, sẽ không còn thấy nữ tính và nam tính nữa. Với một số vị thường quán bạch cốt, sẽ thấy thân mình và người chỉ là một nhóm xương khô đang đi đứng nằm ngồi.
15/11/2019(Xem: 734)
Hôm 29.10.2019 Lào bắt đầu cho vận hành đập thủy điện Xayaburi và tiếp theo sẽ là con đập Don Sahong. Đây là hai đập thủy điện nằm trên dòng chính sông Mekong, đã và đang gây rất nhiều tranh cãi giữa Lào, Thái Lan, Cambodia cũng như Việt Nam ở hạ nguồn Mekong.
15/11/2019(Xem: 418)
Chính sách Quốc phòng “3 không” nguy hiểm của đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN) đã lây qua đời sống người dân, cán bộ và đảng viên, báo hiệu thời kỳ liệt não vô cảm trước kẻ thù Trung Cộng.
15/11/2019(Xem: 322)
Dòng thời gian vẫn âm thầm trôi qua, bốn mùa nối tiếp. Họ vẫn âm thầm như những con chim ẩn mình chờ chết. Thời gian không đợi ai bao giờ
14/11/2019(Xem: 403)
Từ hôm dời vào Landon Ridge Independent Living cho đến nay, thỉnh thoảng đi ngang phòng 212, ông Nhân nghe văng vẳng tiếng Violon với những tình khúc buồn như tâm hồn và xưa như khoảng đời tươi đẹp đã qua của ông. Đôi khi ông Nhân muốn hỏi nhân viên văn phòng về tiếng đàn ở phòng 212
14/11/2019(Xem: 806)
Một buổi trưa đẹp trời, ông bà Giáo Sư Phạm Cao Dương và Khánh Vân đến thăm, mang tặng vợ chồng tôi một món quà quý giá và thật ý nghĩa! Đó là Tuyển Tập "SIÊU QUỐC GIA VIỆT NAM tại hải ngoại và HIỂM HOẠ BẮC PHƯƠNG" mới vừa in xong!
14/11/2019(Xem: 870)
Vụ 39 người Việt chết trong xe container trên đường vượt biên đến Vương Quốc Anh đã đánh động lương tâm loài người, nhất là người Việt Nam cả trong lẫn ngoài nước.
14/11/2019(Xem: 631)
Hôm qua đã vào tiết “Lập Đông”, nắng Thu đã nhạt trên những hàng phong trơ xương lá, cái lạnh đã len qua áo khoác vào tận trong ngực.
Tin công nghệ
theo báo cáo của Nikkei, Yahoo Nhật Bản và ứng dụng nhắn tin Line phổ biến tại Hàn Quốc sẽ hợp nhất thành một.
theo Luật sư Robert Brewer, những người tham gia đường dây đã nhập khẩu hơn 10,000 iPhone, iPad giả từ Trung Quốc.
Nền kinh tế Nhật Bản gần như tê liệt trong Quý 3 2019, do tác động tiêu cực của thương chiến Mỹ-Trung và nhu cầu suy giảm trên thị trường toàn cầu.
Xu hướng lớn tiếp theo trong lĩnh vực công nghệ sẽ là những chiếc kính thông minh mà chúng ta có thể đeo ở mọi nơi và có khả năng thay thế điện thoại.
Sau 6 năm đàm phán, 15 quốc gia ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương đặt mục tiêu ký kết Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) vào năm 2020.
Không quốc gia nào có thể đạt được sự thành công giống như những gì Trung Quốc đã tận hưởng trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế.
Khoảng đầu tháng 11/2019, căn cứ tên lửa đạn đạo xuyên lục địa (Intercontinental Ballistic Missile - ICBM) bỏ hoang tại Arizona được công ty bất động sản rao bán với giá 400,000 USD.
Khoảng đầu tháng 11/2019, theo báo cáo vừa được Facebook công bố, chỉ trong vòng 5 tháng, mạng xã hội đã xóa sổ 3.2 tỷ tài khoản giả mạo và hàng triệu bài viết liên quan tới lạm dụng trẻ em, tự sát. Số tài khoản giả mạo bị xóa tăng gấp đôi so với cùng kỳ năm 2018.
chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) Jerome Powell bác bỏ ý tưởng mà Tổng thống Donald Trump thường đưa ra đòi FED hạ lãi suất về âm.
Trung Quốc đang giữ và điều tra giáo sư Đài Loan Shih Cheng-ping với cáo buộc tham gia vào các hoạt động "nguy hiểm với an ninh quốc gia".
CEO Elon Musk của hãng xe điện Mỹ Tesla chính thức công bố kế hoạch xây một siêu nhà máy (gigafactory) và một trung tâm kỹ thuật-thiết kế tại khu vực gần thủ đô Berlin của Đức.
Bộ Ngoại giao Mỹ cho biết, thành viên gia đình các nhân viên chính phủ Mỹ ở Bolivia đã được lệnh về nước do tình trạng bất ổn.
Dean Foods, nhà sản xuất sữa lớn nhất của Mỹ, đã làm thủ tục nộp đơn xin bảo hộ phá sản lên tòa án.
nhà đồng sáng lập, cựu Tổng giám đốc (CEO) công ty ứng dụng gọi xe Uber, ông Travis Kalanick, đã bán ra lượng cổ phiếu Uber trị giá hơn 500 triệu USD. Vụ bán cổ phiếu diễn ra ngay sau khi kết thúc thời kỳ giới hạn
Con sông gần biên giới Hàn - Triều chuyển màu đỏ sau khi máu từ xác lợn nhiễm dịch tả Châu Phi chảy vào đây theo nước mưa.