Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Nguy Cơ Giảm Phát Tại Trung Quốc

15/01/201500:00:00(Xem: 4061)

...nhìn ra toàn cảnh của thế giới, bên trong có kinh tế Trung Quốc sắp lâm nạn.

Trung Quốc đang đối mặt với một nguy cơ mới là nạn giảm phát. Lãnh đạo nền kinh tế có sản lượng đứng hàng thứ nhì của thế giới có thể làm gì để đối phó? Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu vấn đề qua cuộc trao đổi với chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa do Việt Long thực hiện sau đây.

Việt Long: Xin kính chào ông Nguyễn-Xuân Nghĩa. Thưa ông, trong loạt bài tổng kết về năm 2014 và dự báo cho kinh tế trong năm 2015, ông kết thúc hôm Thứ Tư 24 tháng trước với đề tài là kinh tế toàn cầu năm 2015 bị đứt neo và có thể đối mặt với nạn giảm phát. Thế rồi hôm mùng chín vừa qua, Cục Thống kê của Trung Quốc cho biết rằng cả chỉ số giá tiêu dùng lẫn hàng công nghiệp đều giảm trong Tháng 12 vừa qua và người ta nói đến nguy cơ giảm phát của kinh tế Trung Quốc. Sau khi phân tích viễn ảnh u ám của Âu Châu trong chương trình tuần trước, chưa nói gì đến nguy cơ khủng bố Hồi giáo trong khối kinh tế này, trong chương trình hôm nay, xin đề nghị ông trình bày cho nguy cơ giảm phát của Trung Quốc. Trước hết, thưa ông giảm phát là gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi xin trước hết nói về định nghĩa và ngôn từ để mình cùng hiểu là đang nói về chuyện gì.

- Chúng ta đều có nghe nói đến nạn lạm phát vì Việt Nam đã từng bị tai họa này vào những năm 1985-1986 khi vật giá leo thang đến 700% vì những sai lầm về chính sách thời đó. Lạm phát là khi đồng tiền bị mất giá khi giá hàng hóa gia tăng mạnh. Lý do thì có nhiều loại, và người ta thường đo lường mức lạm phát ấy ở chỉ số giá tiêu dùng, viết tắt là CPI, tức là giá cả của các sản phẩm hoàn tất được bán cho nhà tiêu thụ sau cùng. Một cách cụ thể thì người ta so sánh dị biệt của giá tiêu dùng giữa hai thời điểm và có thể từ đó quy ra toàn năm thì có tỷ lệ lạm phát. Nếu kinh tế tăng trưởng hài hòa thì một tỷ lệ lạm phát chừng 2% một năm được coi là điều tốt đẹp.

- Khi mức lạm phát lại không tăng mà giảm dần thì ta gặp hiện tượng chuyển tiếp mà tôi xin gọi là "thiểu phát", tức là có lạm phát mà ít hơn, chậm hơn. Đấy là cách dịch chữ "disinflation" khá thông dụng. Bây giờ, nếu giá tiêu dùng không tăng chậm mà còn sụt thì ta có nạn giảm phát, là "deflation", nguy kịch hơn nạn thiểu phát. Giảm phát là khi giá hàng sụt giảm, dù hàng đã hạ giá mà vẫn ế và dẫn đến hậu quả là hàng sản xuất sẽ giảm. Khi sản lượng giảm thì lợi tức sụt theo và thất nghiệp tăng. Thế giới cứ quen nhìn vào nạn lạm phát mà ít thấy ra một nguy cơ trái ngược là giảm phát, với hậu quả thật ra còn tai hại hơn lạm phát vì mọi người đều nghèo đi, cả nhà sản xuất lẫn giới tiêu thụ, cả khách nợ lẫn chủ nợ. Trong vụ Tổng khủng hoảng năm 1929-1933, chính là nạn giảm phát sau đó mới gây ra lầm than và là một nguyên nhân dẫn tới đại chiến.

- Nói vắn tắt cho thính giả của chúng ta dễ nhớ là khi số cầu cao hơn số cung thì kinh tế bị lạm phát. Ngược lại, khi cung lại cao hơn cầu thì đấy là giảm phát. Từ lạm phát, kinh tế có thể bị thiểu phát rồi mới trôi vào giảm phát.

Việt Long: Sau khi tóm tắt vần đề, chúng ta trở lại hồ sơ kinh tế của Trung Quốc. Thưa ông, liệu kinh tế xứ này có bị nguy cơ giảm phát không và nếu gặp cái nạn này thì có cách gì đối phó?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Nói về cách đo đếm để trà lời cho câu hỏi đó, thống kê Trung Quốc hôm Thứ Sáu tuần trước cho biết chỉ số giá tiêu dùng là giá bán lẻ chỉ tăng có 2% so với tiêu chí do lãnh đạo đề ra cho toàn năm 2014 là 3,5%. Nếu so với đà tăng giá năm 2013 là 2,6% thì tăng số vừa qua còn chậm hơn nữa. Nghĩa là kinh tế xứ này đang bị nạn thiểu phát, giá có tăng mà chậm. Nếu suy ngược lên tiến trình sản xuất ở trên mà nhìn vào giá cả của các mặt hàng công nghiệp, tức là giá bán sỉ để dự báo về giá bán lẻ sau này, thì thống kê của Bắc Kinh cho biết chỉ số PPI trong Tháng 12 quy ra toàn năm đã sụt mất 3,3%. Đấy mới là dấu hiệu đáng ngại nhất vì năm qua, chỉ số này là 1,9%. Nói đơn giản thì kinh tế Trung Quốc đang từ nạn thiểu phát gặp nguy cơ giảm phát, vì vậy mà các thị trường thế giới gióng chuông báo động rằng Trung Quốc có thể gặp giảm phát như Nhật Bản đã từng bị từ năm 1990 mà nay vẫn chưa thoát khỏi.

Việt Long: Thưa ông liệu rằng điều ấy có xảy ra không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Nếu ta lùi lại để nhìn vào toàn cảnh thì Trung Quốc đang gặp vấn đề của các nền kinh tế mắc nợ lớn sau khi bơm tiền kích thích kinh tế và ào ạt nâng số cung. Một cách dễ hiểu thì Trung Quốc đi vay quá đà nên đến hồi trả nợ và tiến trình này gây ra nạn suy trầm hay tệ hơn vậy, nạn suy thoái. Để kích thích kinh tế trong một cơ chế lệch lạc, họ bơm tiền sai chỗ nên thổi lên bong bóng đầu tư, khi bóng bể thì kinh tế khủng hoảng. Từ hai ba năm nay, ta đã thấy nguy cơ bể bóng trong khu vực địa ốc trong khi đà tăng trưởng lại giảm dần.

- Dù chưa biết là núi nợ cao đến đâu và bên trong bị ung thối đến cỡ nào, lãnh đạo xứ này đã biết sợ nên muốn chủ động làm xì trái bóng trước khi nó bể. Nhưng nếu làm như vậy thì lại bị rủi ro là đà tăng trưởng càng giảm. Họ phải cân nhắc kỹ để khỏi trôi vào cái vòng luẩn quẩn là tăng trưởng thấp thì khó trả nợ mà không trả được nợ thì vỡ nợ và khủng hoảng.

- Chuyện thứ hai về bối cảnh, cơ chế kinh tế Trung Quốc sở dĩ lệch lạc là vì chiến lược thúc đẩy tăng trưởng nhờ đầu tư quá nhiều và lại ức chế tiêu thụ. Vì vậy, sau Đại hội 18 vào cuối năm 2012 nhất là sau Hội nghị Trung ương kỳ ba vào cuối năm 2013, lãnh đạo xứ này muốn chuyển hướng và dồn tiền qua khu vực tiêu thụ với cái giá phải trả là sẽ tăng trưởng chậm hơn trong trung hạn dăm ba năm. Bây giờ khi giá hàng sụt giảm như vậy do hiện tượng thiểu phát thì dân chúng càng chậm tiêu xài để chờ giá thấp hơn cho nên nguy cơ giảm phát sẽ càng tăng và kinh tế sẽ hạ cánh nặng nề chứ không nhịp nhàng như lãnh đạo mong muốn.

Việt Long: Nói cách khác thì kinh tế Trung Quốc có thể bị giảm phát như Nhật Bản hơn hai chục năm trước?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi thiển nghĩ rằng còn tệ hơn Nhật Bản với hậu quả trầm trọng gấp bội.

- Hơn 20 năm trước, khung cảnh kinh tế toàn cầu thật ra còn khá hơn hiện nay vì nhiều yếu tố. Hoa Kỳ mới khởi sự cuộc cách mạng về tín học với năng suất gia tăng mạnh. Các nước đang phát triển và cả Mỹ châu La tinh thì vừa ra khỏi cả chục năm khó khăn nên đồng loạt cải cách hay đổi mới, kể cả Việt Nam và Ấn Độ, và không bị mắc nợ nhiều như bây giờ. Thời ấy, nguyên nhiên vật liệu chưa tăng giá nhưng tương đối ổn định chứ không sa sút nặng như ngày nay. Trong hoàn cảnh đó, kinh tế toàn cầu không sợ nạn thiểu phát hay giảm phát và vì vậy biến động tại Nhật không gây họa cho xứ khác.

- Bên trong, Nhật Bản có xã hội thuần chủng và đồng thuận, có cơ chế dân chủ và ít dị biệt về lợi tức nên người dân chấp nhận khó khăn với tinh thần khắc khổ theo lối "rau cháo có nhau". Nôm na là chính quyền có thể đổ mà xứ sở không loạn. Trung Quốc thì khác mà tệ hơn nhiều vì không có dân chủ. Các thành phần trục lợi nhờ cơ chế lệch lạc đó lại nắm thực quyền ở trên nên có thể cưỡng chống việc chuyển hướng vì thế mà lãnh đạo mới phải mở chiến dịch diệt trừ tham nhũng để đẩy lui sự cưỡng chống và phá hoại.

Việt Long: Qua sự phân tích của ông thì Trung Quốc rất khó đối phó nạn giảm phát này, như vậy thì nó kéo dài bao lâu và gây ra những hậu quả gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Người ta rất khó đoán ra thời hạn và cường độ của sự hoạn nạn vì những lý do sau đây. Trước tiên, Trung Quốc bước vào thời trả nợ và nếu lãnh đạo thành công trong việc bắt các chính quyền địa phương mắc nợ phải bán tài sản qua tiến trình cổ phần hóa để lấy tiền trả nợ thì sẽ sớm ra khỏi khó khăn. Nhưng lãnh đạo có làm nổi việc đó không?

- Thứ hai là khả năng tạm gọi là "tái phân lợi tức" để nâng mức tiêu thụ và gia tăng số cầu hầu có một lực đẩy khác để ra khỏi nạn giảm phát. Việc tái phân lợi tức ấy nghĩa là dồn tài sản từ khu vực kinh tế nhà nước về các hộ gia đình cho người dân hưởng thành quả của lao động. Việc phân phối lợi tức như vậy phải đạo về luân lý và hợp lý về kinh tế mà khó thi hành về chính trị!

- Sau cùng, Bắc Kinh còn phải cải cách toàn bộ cơ chế tài chính ngân hàng để tránh nạn úng thủy là khi tiền bơm vào các khu vực của nhà nước, từ trung ương đến địa phương, lại thổi bong bóng và tham nhũng, trong khi các tiểu doanh thương của tư nhân vẫn khó tìm ra tín dụng cho sản xuất. Cho nên, vì sự cưỡng chống chính trị bên trong, Trung Quốc không thể sớm hoàn tất việc cải cách này. Việt Nam cũng có cái tai họa ấy trong xương tủy nên chắc là phải biết vấn đề!

Việt Long: Chúng ta không quên là Trung Quốc có nền kinh tế đứng hạng nhì thế giới, sau Mỹ và trước Nhật, trong khi Âu Châu chưa ra khỏi khủng hoảng và cũng có thể bị nạn giảm phát. Nếu Trung Quốc bị giảm phát quá nặng và quá lâu vì lãnh đạo khó xoay trở được do các vấn đề kinh tế đa diện lẫn những trở ngại chính trị trong nội bộ như ông vừa phân tích thì hậu quả sẽ ra sao cho kinh tế thế giới trong năm nay và nhiều năm tới?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi xin tóm lược như thế này để ta nhìn ra toàn cảnh của thế giới, bên trong có kinh tế Trung Quốc sắp lâm nạn.

- Thế giới bị cái nạn chung là có sức tiêu thụ quá thấp, khối tiết kiệm quá cao và nhiều phương tiện sản xuất dư dôi. Bài toán khách quan ở đây là các nước phải tăng số cầu bằng cách này hay cách khác. Cho tới nay, chỉ Mỹ là còn hy vọng nâng mức cầu chứ các xứ khác như Âu, Nhật và Tầu thì đều rũ liệt. Trong tình huống ấy mà Trung Quốc bị giảm phát thì chẳng thể mong gì ở thị trường bên ngoài mà thế giới cũng chả có lợi gì khi xứ này lâm nạn. Cũng phải nói thêm là những gì đang và sẽ xảy ra tại Trung Quốc sẽ không ảnh hưởng mạnh đến kinh tế thế giới vốn dĩ đang có vấn đề riêng và phải giải quyết theo phương cách riêng. Trung Quốc không có cái thế lực như người ta thường nghĩ.

Việt Long: Câu hỏi cuối thưa ông. Vì ta đang nói về kinh tế Trung Quốc, ông nghĩ sao về đề nghị là Việt Nam nên dùng đồng Nhân dân tệ của xứ này để thanh toán việc giao dịch giữa hai nước?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi xin nói ngược với mọi người mà cho rằng đấy là một sáng kiến hay. Thứ nhất, nó xác nhận điều ai cũng biết mà không được nói là Việt Nam không có chủ quyền. Thứ hai, nó gây tai họa kinh tế khi tiền của Trung Quốc mất giá và sẽ còn mất giá, làm cho những ai muốn lệ thuộc vào Trung Quốc dễ phá sản. Những chuyện ấy sẽ thức tỉnh người dân khiến cho bên trong Việt Nam, nhiều người phải tìm ra giải pháp khác.

Việt Long: Xin cảm tạ ông Nghĩa về nhận xét thâm thúy này!

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Trước đây, các cuộc đụng độ giữa Israel và Palestine đã thường diễn ra tại Jerusalem và Dải Gaza. Các yếu tố tác động khẩn thiết cho mối xung đột là tình trạng đe dọa cưỡng chế trục xuất các gia đình Palestine hoặc các buổi lễ kỷ niệm của Do Thái giáo tại Tempelberg. Thực ra, chiến cuộc còn bắt nguồn từ các sự kiện lịch sử khác mà các xung đột về thành phố Jerusalem và điện thờ Tempelberg đóng một vai trò chính cho sự leo thang.
Đọng trên hoa, trên lá, giọt sương năm xưa gợi ra cõi trong vắt, bình an, đẩy hồn ta vào chốn không bến không bờ, mênh mông, tịch mịch. Những đêm không trăng sao, ta cũng thấy trong cõi mịt mùng sự an hòa, tĩnh mịch ấy. Nhưng cõi tịch mịch của thăm thẳm trời đêm thì lạnh lẽo, vô hồn. Cõi mênh mông cảm từ giọt sương có phơn phớt nắng mai, thấp thoáng màu lá, màu hoa, bao giờ cũng ấm áp, man mác niềm vui nhẹ nhàng, thanh thoát như sương khói, như tơ. Giọt sương quen thuộc, thân yêu ấy đã biến mất, đã trôi vào quá khứ cùng lịch sử của vũ trụ mất rồi. Dù vẫn giữ hình thái, dung nhan của muôn triệu năm trước, giọt sương hôm nay đang mang trong lòng một sự ồn ào khủng khiếp. Vô lượng vi phân tử, sóng radio của điện thoại di động mang theo những lời thủ thỉ thân yêu, gay gắt tranh luận, ầm ầm giận dữ, đắng cay nhiếc móc, nỉ non than thở, tiếng khóc, tiếng cười, nỗi bi thương, cơn cuồng nộ – đủ món hỉ nộ ái ố – … điệp điệp, trùng trùng lướt qua giọt sương liên miên từ lúc nó chào đời
Các cuộc xung đột giữa Do Thái với Palestine cùng khối Ả Rập là vấn đề nan giải cho Hoa Kỳ lẫn thế giới bởi Do Thái không hề nhượng bộ, luôn có những hành động cứng rắn và trả đũa tàn bạo. Cuộc xung đột hiện nay xảy ra khi Do Thái trục xuất sáu gia đình Palestine tại Đông Jerusalem, là điều mà Do Thái từng bước thực hiện với người dân Palestine từ nhiều năm qua.
Tôi yêu những nông dân thôn Hoành, tôi yêu những nông dân Dương Nội. Yêu cái hồn của đất – nơi con người đang phải đối mặt với phong ba bão táp; nơi con người bước trên nghịch cảnh bằng sự cao quý và khí phách của riêng mình. Tôi có một niềm tin vững chắc rằng lòng tử tế và sự dũng cảm của họ sẽ lan toả và lan rộng.
Từ Văn phòng Viện Tăng Thống, tuy chỉ tồn tại trên danh nghĩa, trong phận sự bảo trì ấn tín của Viện Tăng Thống, kế thừa tâm nguyện của Đức Đệ Ngũ Tăng Thống qua phú chúc di ngôn của Ngài trước ngày thị tịch; chúng tôi trên nương tựa uy đức Tăng già và đạo lực gia trì của Chư tôn Trưởng lão, kính gởi đến Chư tôn Hòa Thượng, Chư Thượng tọa, Đại đức Tăng-già nhị bộ, cùng tất cả bốn chúng đệ tử, tâm nguyện Bồ-đề được thể hiện qua các kỳ họp đã nêu, ước mong tất cả bằng Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành, bằng đức lực, trí lực, và tài lực, với hằng tâm và hằng sản, đồng tâm nhất trí góp phần công đức vào sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh mà Chư Thánh Đệ tử, Lịch đại Tổ sư, bằng hùng lực và trí tuệ, bằng từ bi và nhẫn nhục, khoan dung, trải qua vô vàn gian nan chướng duyên trở ngại, đã mang ngọn đèn chánh pháp đến những nơi tăm tối, cho những ai có mắt để thấy, dựng dậy những gì đã sụp đổ, dựng đứng những gì đang nghiêng ngả.
Ngày Phật đản sanh là ngày vui, ngày thiêng liêng và trọng đại của nhân loại. Dù là với truyền thống nào, tông môn pháp phái nào, dù ở quốc độ nào… Người con Phật cũng đều hoan hỷ và thanh tịnh thân tâm để tưởng niệm đức Phật.
Thì tôi cũng nói cho hết lẽ như thế. Chớ bao nhiêu lương dân ở Văn Giang, Dương Nội, Thủ Thiêm, Lộc Hưng… đang sống yên lành mà Đảng & Nhà Nước còn có thể nhẫn tâm biến họ thành những đám dân oan (vật vã khắp nơi) thì cái chính phủ hiện hành có xá chi đến những khúc ruột thừa ở Cambodia.
Bàn về kinh tế không thể không nhắc đến tiền. Tiền không mua được hạnh phúc nhưng không có tiền thì…đói. Tiền mang lại tự do (có tiền mua tiên) hay biến con người thành nô lệ đồng tiền. Con nít lên 3 đã biết tiền dùng để mua bánh kẹo, vậy mà các kinh tế gia giờ này vẫn không đồng ý chuyện tiền để làm chi!
Sau ngày 30/4/1975, nếu phe chiến thắng đã có những chính sách mang lại sự hoà giải quốc gia, đối xử nhân bản với bên thua trận, thay vì cải tạo học tập, càn quét và thiêu huỷ văn hoá miền Nam, đánh tư sản mại bản, thì đã không có hàng triệu người bỏ nước ra đi và người Việt sẽ chẳng mấy ai còn nhớ đến một đất nước của quá khứ, tuy chưa hoàn toàn tự do dân chủ nhưng so với Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thì người dân đã được tự do hơn bây giờ rất nhiều.
Tất nhiên phải “thành công” vì đảng một mình một chợ, không có ai cạnh tranh hay đòi chia phần. Nhưng việc đảng chọn cho dân bầu chỉ để tuyên truyền cho phương châm “ý đảng lòng dân”, trong khi người dân không có lựa chọn nào khác mà buộc phải đi bỏ phiếu để tránh bị làm khó trong cuộc sống.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.